TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 3 Tháng 7 08, 2025 5:16 pm


PHẦN 19-LÀM SAO GIỮ ĐỦ ĐƯỜNG HUYẾT CHO CƠ THỂ KHỎE MẠNH


I-Theo lý thuyết năng lượng calo.
1-Năng lượng calo từ đâu đền.
Năng lượng calo đã được khoa học kiểm chứng từ lâu, trước khi có lý thuyết về đường huyết cũng đến từ thức ăn được nạp vào trong mỗi bữa ăn.
Tiêu chuẩn của người lớn cần 2000 calo/ngày, chia làm 2 bữa ăn chính, mỗi bữa cần nạp đủ thức ăn 1000 calo. Có 3 trường hợp xảy ra làm thay đổi tình trạng sức khỏe của mình .
a-Trường hợp khỏe mạnh không bệnh thì lượng calo nạp vào từ thức ăn của mỗi ngày bằng với năng lượng tiêu thụ calo trong ngày , mà trọng lượng cơ thể vẫn trong tiêu chuẩn, như người cao 1.7m thì trọng lượng cơ thể khoảng 68-70kg
b-Trường hợp béo phì, tăng cân khi năng lượng nạp vào từ thức ăn nhiều mà nhu cầu năng lượng tiêu thụ ít hơn, là dư thừa calo thì cơ thể bị béo phì, nguyên nhân do ăn nhiều mà lười vận động.
c-Trường hợp sụt cân, giảm cân, khi năng lượng tiêu thụ calo nhiều hơn năng lượng calo nạp vào từ thức ăn.

2-Đường huyết từ đâu đến.
Đường huyết cũng từ thức ăn trong mỗi bữa ăn, bất cứ thực phẩm nào nạp vào cơ thể cũng được cơ thể chuyển ra đường glucose, cho nên sau khi ăn 30 phút, chúng ta đo lượng đường trong máu, hay có máy đo calo, chúng ta sẽ biết trong thức ăn trong bữa ăn đó đã nạp bao nhiêu calo.
Và theo nguyên tắc, nếu calo dư thừa so với calo tiêu thụ thì cơ thể thừa calo sẽ béo phì, nếu lượng thức ăn nạp vào có lượng calo ít hơn nhu cầu tiêu thụ calo trong các hoạt động, thì chúng ta bị sụt cân.

II.Để kiểm soát năng lượng calo nạp vào cơ thể.
Để bảo đảm sức khỏe cho người tiêu thụ. Những thực phẩm được sản xuất đóng gói như ngày nay đều phải tuân thủ luật ghi từng mỗi loại có bao nhiêu calo cho người tiêu dùng biết.
Ngoài ra nếu chúng ta tự nấu ăn, khoa học cũng đã nghiên cứu từng loại thực phẩm tươi sống hay nấu chin, tính theo đơn vị 100g loại thực phẩm đó có bao nhiêu năng lượng calo, để mọi người biết cách tính số lượng liều lượng thức ăn cho đủ năng lượng calo cho mình, để không bị thừa calo làm mình tăng cân béo phì, hay thiếu calo làm cho mình bị sụt cân, cả hai đều làm hại sức khỏe cho mình.

III-Bảng hoán đổi đường huyết ra calo.
Thực phẩm tươi sống có cả ngàn loại, thực phẩm tự nấu cũng có nhiều thứ pha trộn khó biết dược số lượng calo chính xác, nên khoa học đã tính sẵn 2 tiêu chuẩn sau khi ăn 30 phút dùng máy đo đường huyết và chuyển đổi đường huyết ra lượng calo sau mỗi bữa ăn, để người tiêu thụ biết được số lượng calo trong thức ăn nạp vào cơ thể đủ hay thừa hay thiếu.


Cũng nhờ bảng tiêu chuẩn này, mà chúng ta biết chúng ta chọn thức ăn đúng hay sai, thừa hay thiếu, và chúng ta cũng không ngạc nhiên biết cách chữa bệnh tiểu đường ngày nay của tây y thiếu đạo đức làm hại sức khỏe cho mọi người bị nhiều bệnh nan y do thiếu hụt calo, do đường huyết thấp, mà bằng chứng vẫn thường xẩy ra mỗi ngày ngay trước mắt, như các bệnh sau đây đều phải bị uống thuốc chữa nhiều biến chứng của bệnh tiểu đường.
IV-Những trường hợp cụ thể dưới đây chứng minh tiêu chuẩn đường huyết thấp của tây y là cố tình gây hại sức khỏe cho mọi người
Chúng ta lấy thí dụ nhiều trường hợp đáng thương đã được trình bầy trong các phần trước, đỗi đường huyết sau khi ăn xem có đủ lượng calo duy trì sức khỏe cho người tiêu thụ hay không
Thực chứng lâm sàng.
a-Những người có đường huyết thấp gây ra những bệnh như :
1-Nữ 80 tuổi : Hai ngón chân cong, rút.
AH tay trái 144/86/77 TP 131/93/78 đường 5.9mmol/l =334 calo
2-Nam 69 tuổi : Lupus
AH TT 107/64/77 TP 97/68/81 đường 5.7mmol/l= 301calo
3-Nữ 64 tuổi : Chân, lưng, gối đau, ngứa cả người,
AH TT 139/77/77 TP 129/78/75 sau khi ăn, đường thấp 6.3mmol/l=351calo
4-Nữ 60 tuổi : Người nóng, tay lạnh
AH TT104/63/78 TP 100/69/78 đường sau khi ăn 6.3mmol/l=351 calo
5-Nam 51 tuổi : Ăn không tiêu, nhức cổ gáy vai, đầu gối
AH TT 100/69/72 TP 99/65/76 đường sau khi ăn 5.8mmol/l=322 calo
6-Nam 66 tuổi : Cao mỡ máu, miệng lưỡi khô, đau gót chân
AH TT 115/85/69 TP 110/80/71 đường 4.2mmol/l=234calo
7-Nữ 80 tuổi : Loãng xương đau nhức chân trầm trọng
AH TT 123/84/76 TP 135/84/74 đường 5.6mmol/l=311 calo
8-Nữ 75 tuổi : Đau vai đã mổ vẫn còn đau, nhức lưng, đầu gối, nhượng chân
AH TT 135/67/76 TP 145/69/74 đường 6.2mmol/l=345 calo
9-Nữ 60 tuổi : Đau ngực, đau cứng 2 vai chỉ đưa được 2 tay lên ngực
AH TT 124/91/75 TP 124/87/75 đường 6.4mmol/l=356 calo
10-Nữ 66 tuổi : Nhức đầu, chảy máu cam, đau 2 đầu gối
AH TT 135/64/74 TP 129/62/75 đường 5.2mmol/l=289calo
11-Nam 58 tuổi : Nhức 2 vai, 2 bắp chân, cổ bị vướng nghẹn khi nuốt
AH TT 104/64/70 TP 101/66/76 đường 4.6mmol/l=256 calo
12-Nữ 67 : Choáng xoáy đầu, mỏi cổ, đau thắt lưng, đau thận đang nằm viện, ù tai
AH TT 156/81/76 TP 161/84/76 đường 5.8mmol/l= 322 calo


b-Những người có đường huyết thấp nhịp tim thấp gây ra nhửng bệnh như :
1-Nữ 39 tuổi, viêm gan siêu vi B, người mệt mỏi , kém ăn
Áp huyết tay trái 132/84/65 tay phải 126/80/66 , nhiệt độ tay 36 độ C
Áp huyết chân trái137/59/62 chân phải 136/64/64 nhiệt độ chân 34 độ C
Đừong huyết 119mg/dl, uống thêm 5 thìa cà phê đường cát vàng đo lại đường huyết lại thấp hơn 117mg/dl=361 calo
2-Nữ 57 tuổi, bướu cổ, trào ngược dạ dày, yếu chân gối, lưng
AH TT 148/79/69 TP 131/76/66 nhiệt độ tay 35.8 độ C, ĐH 111mg/dl=340calo
Chân T 147/76/73 CP 149/82/67 nhiệt độ chân 33.8 độ C
3-Nữ 39 tuổi, HP dạ dày, u dạ dày, viêm xoang
AH tay trái 112/63/58 tay phải 103/59/58
AH chân T 117/65/58 chân P 120/60/58 ĐH 106mg/dl sau ăn=323calo
4-Nam 70 tuổi, tây y định bệnh hp dạ dày, bị teo, viêm gan B, rối loạn
nhịp tim, giãn tĩnh mạch .
AH .TT 122/63/62 tay phải 117/53/62 nhiệt độ tay 36.4 độ C
AH chân trái 133/54/64 133/58/68, nhiệt độ chân 35.8 độ C, ĐH 111mg/dl sau ăn=340calo
5-Nữ 39 tuổi, nhân xơ tử cung, hở van tim 3 lá
AH TT 109/62/72 tay phải 113/59/66 nhiệt độ tay 33.5 độ C
AH chân trái 129/65/67 124/66/74, nhiệt độ chân 32.5 độ C, DH 120mg/dl=367calo
6-Nữ 37 tuổi, áp huyết thấp, nhịp tim thấp, nhân xơ tử cung
Sau ăn 3h AH tay trái102/62/60, 101/61/55 nhiệt độ tay 26.4 độ C
Chân T 131/74/64 CP 123/66/60 nhiệt độ chân 32 độ C. ĐH 101mg/dl=311calo
7-Nữ 71 tuổi : Co giật 2 chân, đau nhức 2 vai đang uống thuốc đau nhức, ngủ không được,
AH TT 107/70/63 TP 111/64/62 đường 6.1mmol/l=340calo
c-Những người có đường huyết thấp, nhịp tim cao gây ra những bệnh như sau :
1-Nam 27 tuổi.
Con chao thầy con bi bệnh ra nhiều mồ hôi mặt lưng và ngực con bi 10 năm nay rồi nhiều bác sĩ bảo là rối loạn thần kinh thực vật con chữa trị nhiều mà bệnh không giảm con xin thầy giúp con chữa trị con xin cảm ơn thầy
Trước khi ăn : tay trái 130/85/85 tay phải 120/84/80 ĐH 80mg/dL=245 calo
Sau khi ăn : tay trái 122/82/89 tay phải 114/66/88 ĐH 111mg/dL=340calo
2-Nữ 19 tuổi : Bướu cổ, rụng tóc, tim đập mạnh
AH TT 117/60/104 TP 114/63/104 đường sau khi ăn 6.6mmol/l=367calo
3-Nữ 29 tuổi : Hay nhức đầu chóng mặt, hay bị trúng thực ăn không tiêu
AH TT 104/63/79 TP 94/76/79 đường 5.5mmol/l=305calo
4-Nam 92 tuổi : Mắt mờ, tai điếc, mất ngủ đang dùng thuốc áp huyết
AH TT 120/60/89 TP 110/58/90 đường sau khi ăn 6.6mmol/l=367 calo
5-Nam 45 tuổi : Đau cột sống lưng, nhức đầu chóng mặt, tê thấp mấy ngón tay
AH TT 103/70/75 TP 94/68/72 đường 5.2mmol/l=289 calo
6-Nam 53 tuổi : Đau thần kinh tọa bên phải.
AH TT 144/78/84 TP 131/81/87 đường 5.9mmol/l=327 calo
7-Nam 29 tuổi : Chóng mặt, hoa mắt, đau lưng
AH TT 101/68/72 TP 101/67/74 đường 6.4mmol/l=356 calo
8-Nữ 67 tuổi : Đau bao tử, đau lưng, khớp
AH TT 113/69/94 TP 100/70/93 đường 6.3mmol/l=351calo
9-Nữ 65 tuổi : Đau khớp cổ, đau đốt cuối xương sống, cổ chân, ợ hơi, đau ngực, loãng xương, đang dùng thuốc mất ngủ mà không ngủ được
AH TT 115/71/89 TP 114/71/92 đường sau khi ăn 5.3mmol/l=294 calo
10-Nữ 44 tuổi : Đau cổ, cao máu, cao mỡ.
AH TT 180/111/85 TP 168/105/82 đường sau khi ăn 5.3mmol/l=294 calo
11-Nữ 50 tuổi : Áp huyết cao, Tức ngực
AH TT 149/108/80 TP 140/98/81 đường 5.2mmol/l=289 calo
12-Nam 35 tuổi: Đau thận trái
AH TT 121/85/87 TP 128/84/91 đường 5.7mmol/l=316 calo

IV-So sánh calo với tiêu chuẩn đường huyết cũ năm 1979 và tiêu chuẩn đường huyết mới,
a-Tiêu chuẩn đường huyết năm 1979 của WHO ;
Khi đói 140mg/dl=6mmol/l =334,37 calo,
Khi no 200mg/dl=11mmol/l=613,1calo so với tiêu chuẩn 1 bữa phải 1000calo
b-Tiêu chuẩn đường huyết 3,9-5.9mmol/l =
223,78 calo-327 calo. Tính theo năng lượng calo đây là tiêu chuẩn giết người thầm lặng
V-Cách chọn thức ăn cung cấp đủ calo mà không cần bổ sung đường.
Chúng ta muốn ăn thức ăn gì, đánh tên thức ăn hỏi AI hay Google hỏi bao nhiêu calo, và chúng ta chọn thức ăn cho đủ nhu cầu tiêu thụ, phải bằng nhu cầu thức ăn nạp vào mà không cần uống thêm bổ sung đường
Thí dụ hỏi Google :

Các món cơm – xôi – bún – phở chay:
• Phở cuốn chay: Khoảng 79 Calo/cái.
• Bánh mì: Gần 267 Calo cho 100 gram.
• Cơm gạo lứt: Xấp xỉ 112 Calo/100 gram.
• Mỳ ý sốt kem nấm: Khoảng 311 Calo/100 gram.
• Cuốn bún đậu: Gần 82 Calo/cái.
• Bánh cuốn nhân mộc nhĩ: Xấp xỉ 231 Calo/100 gram.
• Bánh bột lọc chay: Khoảng 69 Calo/cái.
• Nui xoắn sốt cà chua: Gần 254 Calo cho 100 gram.
• Mì xào rau nấm: Xấp xỉ 278 Calo/100 gram.
• Miến trộn chay: Khoảng 190 Calo/100 gram.
Các món rau
• Hỗn hợp rau củ luộc: súp lơ, bông cải xanh, cà rốt, đậu bắp,… : Khoảng 100 Calo/100 gram.
• Ngọn bí xào tỏi: Gần 180 Calo/100 gram.
• Chả rong biển: Xấp xỉ 62 Calo/ chiếc.
• Canh rau cải: Khoảng 175 Calo/1 bát.
• Đậu cove xào nấm: Gần 189 Calo/100 gram.
• Ngọn su su xào: Xấp xỉ 178 Calo/100 gram.
• Salad xà lách mù tạt: Khoảng 146 Calo/100 gram.
• Cải xoong xào tỏi: Gần 200 Calo/100 gram.
• Nem chay rán: Xấp xỉ 57 Calo/ chiếc.
• Canh cải cúc cà chua : Khoảng 190 Calo/1 bát.
• Mướp xào giá đỗ: Gần 109 Calo/100 gram.
• Rau luộc: rau muống, rau cải các loại, rau dền,…: Xấp xỉ 70 – 90 Calo/100 gram.
Các món hạt – củ – quả
• Nộm chanh leo: Khoảng 169 Calo/100 gram.
• Salad rau củ hạt bí: Gần 163 Calo/100 gram.
• Rau củ nướng muối tiêu: Xấp xỉ 127 Calo/100 gram.
• Sụn dừa sốt cay: Khoảng 145 Calo/100 gram.
• Su hào xào mộc nhĩ: Gần 162 Calo/100 gram.
• Salad củ đậu hạnh nhân: Xấp xỉ 154 Calo/100 gram.
• Dưa chuột trộn giấm: Khoảng 86 Calo/100 gram.
• Củ sen hầm nấm, đậu đỏ: Gần 279 Calo/100 gram.
• Su su xào nấm: Xấp xỉ 197 Calo/100 gram.
• Bơ lạc: Khoảng 588 Calo/100 gram.
Các món ăn chay được làm từ nấm
• Nấm áp chảo lá chanh: Khoảng 182 Calo/100 gram.
• Chả nấm thì là: Gần 69 Calo/chiếc.
• Canh chua nấm hương: Xấp xỉ 201 Calo/ 1 bát.
• Nấm nướng xá xíu: Khoảng 200 Calo/100 gram.
• Nấm chiên: Gần 219 Calo/100 gram.
• Nấm hấp sả: Xấp xỉ 128 Calo/100 gram.
• Sốt vang khoai nấm: Khoảng 285 Calo/100 gram.
• Nộm ngó sen nấm tuyết: Gần 137 Calo/100 gram.
• Nấm kho tiêu xanh: Xấp xỉ 179 Calo/100 gram.
• Đỗ quả xào nấm: Khoảng 138 Calo/100 gram.
• Nấm nướng ngũ vị: Gần 157 Calo/100 gram.
Các món đậu
• Đậu sốt nấm: Khoảng 160 Calo/100 gram.
• Đậu sốt cay: Gần 103 Calo/100 gram.
• Canh đậu phụ: Xấp xỉ 163 Calo/1 bát.
• Sữa đậu nành: Khoảng 80 Calo/1 cốc.
• Đậu chiên: Gần 125 Calo/100 gram.
• Đậu nhồi rau củ sốt cà chua: Xấp xỉ 156 Calo/100 gram.
• Đậu hầm khoai tây sa tế: Khoảng 198 Calo/100 gram.
• Đậu chiên sốt cà chua: Gần 10 Calo/100 gram.
• Canh kim chi đậu phụ: Xấp xỉ 130 Calo/1 bát.
• Đậu hũ chiên xu: Khoảng 124 Calo/100 gram.
Các món canh
• Súp ngô nấm: Khoảng 209 Calo/1 bát.
• Canh bí đỏ hạt sen: Gần 207 Calo/1 bát.
• Khoai sọ hầm đậu đỏ: Xấp xỉ 244 Calo/1 bát.
• Súp bông cải khoai tây: Khoảng 134 Calo/1 bát.
• Súp đậu hầm: Gần 174 Calo/1 bát.
• Cảnh cải thảo nấu với đậu non: Xấp xỉ 144 Calo/1 bát.
• Súp bí đỏ: Khoảng 255 Calo/1 bát.
• Canh chua dọc mùng giá đỗ: Gần 167 Calo/1 bát.
• Canh rong biển nấu chua: Xấp xỉ 161 Calo/1 bát.
• Canh măng tươi: Khoảng 131 Calo/1 bát.
• Canh rau ngót nấu với ngô: Gần 118 Calo/1 bát.
Các món chay khác
• 100g chả chay: 100g chả chay cung cấp 130 Calo.
• Sườn chay: 100g sườn chay có 290 Calo.
• Mắm chay: 100ml mắm chay chứa 67 Calo.
• Thịt chay: 100g thịt chay cung cấp 160 Calo.
• Sườn non chay: 100g sườn non chay có 260 Calo.
• Bò lát chay: 100g bò lát chay cung cấp 270 Calo.
Sau khi chọn thức ăn đủ 1000 calo mỗi bữa, 30 phút sau đo đường huyết, thì 1000 calo chúng ta sẽ thấy lượng đường huyết tương đương 18mmol/l=324mg/dl, mà không phải đường tinh luyện, thì chúng ta mới có đủ sức khỏe để làm việc và duy trì sức sống trường thọ, với điều kiện phải biết cân bằng lượng calo nạp vào từ thức ăn, và lượng calo tiêu thụ mất đi do làm việc lao động chân tay hay trí óc không làm tăng câm hay không làm giảm cân, nên phải cân trọng lượng cơ thể nếu nặng hơn chiều cao là dư thừa calo tích trữ trong cơ thể thành mỡ thừa, ngược lại nếu bị sụt giảm cân như mất cân từ 10kg là có dấu hiệu ung thư .
Bản thân tôi cứ ăn uống thoải mái, trọng lượng không thay đổi, đường huyết sau ăn lúc nào cũng trên 200mg/dl. Nếu có nhu cầu tiêu thụ nhiều calo để xúc dọn tuyết ngập cao chặn lối cửa ra vào mỗi khi mùa đông thì đường huyết của tôi cần phải 400mg/dl=22mmol/l=1226 calo, sau khi xúc dọn 10 phút thấy chóng mặt, đo lại đường huyết còn 6mmol/l.
Kết luận :
Cơ thể chúng ta cần tiêu thụ calo là năng lượng của sức khỏe để đi làm việc kiếm tiền nuôi gia đình, phải đủ 2000 calo/ngày do 2 bữa ăn cung cấp, nói tóm lại cứ mỗi 6 tiếng cơ thể hoạt động đã tiêu hao mất 1000 calo.
Như vậy cơ thể tiêu hết 1000 calo có chết được không ?. Không chết, khi mình không nạp calo từ thức ăn, do nhịn ăn, cơ thể tự động đốt cháy mỡ dư thừa thành đường chuyển đổi thành calo để duy trì hoạt động của tuần hoàn tim mạch, hô hấp, nuôi thần kinh não, lúc đó trở thành thiếu năng lượng calo nạp vào từ thức ăn không có mà cơ thể lại mất calo thì chúng ta bị sụt cân.
VI-Cách giảm cân bằng cách đốt cháy calo dư thừa bằng thể dục có kiểm soát
Sau khi ăn mà đo đường huyết 20 mmol/l, đổi ra calo= 1115 calo, sau ăn chúng ta tập đạp xe hay đi bộ trên máy có máy đo lượng calo tập bị mất đi số calo thừa, như sau 15 phút hay 30 phút máy chỉ 200 calo, là lượng calo cơ thể mất đi thì cơ thể còn 915 calo, thử lại đường huyết còn 16.4mmol/l, như vậy sau khi tập đường huyết mấ/t đi đo lại đường huyết đả tụt xuống còn 16.4mmol/l thì ngưng.
Nhưng chúng ta bị ngành y chữa bệnh tiểu đường hù dọa đường huyết cao vượt tiêu chuẩn của họ là bị bệnh tiểu đường là đang áp dụng phương pháp chữa bệnh thiếu đạo đức, để gây ra những trường hợp khiến bệnh nhân cơ thể thiếu năng lượng, thiếu sức sống, trầm cảm đi đến tự tử, vì đã có nhiều người nản chí cho rằng dù tập thế nào cũng không làm cho tiêu chuẩn đường huyết lọt vào tiêu chuẩn của họ được mà cơ thể càng suy nhược dẫn đến chán đời muốn tự tử, hoặc nặng nữa là ung thư.
Nguyên nhân tại sao ung thư ?
Tây y giải thích, ung thư không lây từ người này sang người khác, mà di truyền do cha mẹ kiêng đường, sợ tiểu đường ăn ít, bỏ ăn không dám để đường cao hơn 6mmol/l, như vậy thức ăn không đủ nuôi tế bào duy trì sự sống, thiếu sức sống. Các tế bào ung thư không phải là vi trùng, vi khuẩn, vi rút, tây y định nghĩa là tế bào ăn tế bào. Trường hợp này có thể xảy ra không. Có !
Chúng ta lấy ví dụ khi chúng ta vượt biển trong 2- 3 tháng hết lương thực mà vẫn còn lênh đênh trên biển vừa đói vừa khát, nếu không gặp được tầu nào cấp cứu cung cấp lương thực nước uống, thì chúng ta phải ăn thịt lẫn nhau để sống, gọi là người ăn thịt người, thì tế bào cũng vậy, khi cơ thể không còn đủ sức ăn uống nạp năng lượng bằng thức ăn, thì tế bào bị đói phải tự ăn lẫn nhau. Có nghĩa tế bào ung thư là tế bào bị bỏ đói, thì cách chữa không phải tiêu diệt tế bào ung thư mà phải phục hồi sự sống cho tế bào theo Tinh-Khi1-Thần.
Trong 3 yếu tố này thì yếu tố Thần ưu tiên, có thần là có sự sống, rất quan trọng, trong lịch sử đã chứng minh khi quân Nguyên Mông xâm lăng nước ta, vua là thần của một nước, nếu nhu nhược bỏ chạy thoát thân một mình thì náo loạn lòng dân, dù gặc đã gần kinh đô, nhưng Trần thủ Độ đã trấn an vua : Khi đầu thần chưa rơi xuống đất thì bệ hạ đừng lo. Như vậy thần vững mới chỉnh đốn quân và có kế sách chống giặc.
Khi một người mất thần da mặt xanh tái mét, lo sợ, có thần thì da mặt hồng hào, thì thần trong dông y khí công liên quan đến 3 yếu tố là nhịp tim hòa hoãn, không sợ hãi, nhịp tim không cao quá, không thấp quá, liên quan đến nhiệt độ cơ thể không nóng, không lạnh, liên quan đến đường huyết phải cấp cứu tạm thời bằng uống đường cát vàng cho nhịp tim tăng, cho thân nhiệt tăng, cho sắc mặt hồng hào, sau đó có kế sách nạp thức ăn có nhiều calo để bổ máu làm tăng tâm trương, có thần là nhịp tim trong tiêu chuẩn có tâm trương trong tiêu chuẩn là lượng thức ăn thì cơ thể mới có khí lực làm tâm thu tăng.
Như vậy trong các trường hợp ung thư đều mất tinh, mất khí, mất thần, thường có áp huyết 80/55mmHg nhịp tim thấp 50 hay nhịp tim cao hơn 100
Mất thần là thiếu đường, mất đường mất calo. Mất tinh là mất lượng thức ăn nạp vào cơ thể bằng thức ăn bổ máu, chứ không phải nhịn ăn làm mất máu khiến tế bào đói lại sinh ra tế bào ăn tế bào,, khi có thần, có tinh, thì khí lực là sức khỏe làm tâm thu tăng.
Sau khi phục hồi sự sống cho tế bào khỏe mạnh thì áp huyết trở lại tiêu chuẩn 120/80mmHg 75
VI-Tâm sự của một bệnh nhân chán nản vì cố làm hạ đường huyết theo tiêu chuẩn của tây y,
CON NẢN QUÁ RỒI THẦY ƠI ! ĐH CON THẤP QUÁ
Duc duy Nguyen
Mon, Jul 7, 12:05 PM (1 day ago)

Thầy ơi !
Lời đầu tiên con kính chúc thầy dồi dào sức khỏe và vạn sự an lành cùng gia quyến với thầy
Con đã theo thầy được một thời gian và đã học được nhiều thứ hữu ích để khám và chữa bệnh cho bản thân và gia đình. Chỉ dẫn cho người khác thì rất dễ nhưng cho tới hôm nay, tự chữa trị cho bản thân con lại quá khó mà chỉ có 1 vấn đề: Đường huyết thấp
Thời gian qua, con hiểu bản thân con có ĐH thấp nên luôn bổ sung đường cát vàng để cho đủ trong tiêu chuẩn:
- khi đói: 6-8mmol và no: 8-12.
- AH tiêu chuẩn của con: 110-120/ 65-70/ 65- 70
Giả sử con có uống thêm nhưng chưa đủ, hay, ít khi kiểm tra chỉ số ĐH bằng máy đo sau uống nhưng con nghĩ: quá nhìu lần và ngày nào con cũng vậy thì sau 1 thời gian quá dài sẽ đủ đường thay vì người khác uống có kiểm soát thì họ sẽ đủ đường sau thời gian ngắn: 1 tháng, 2, hay thậm chí 3 tháng
Tuy nhiên, mấy lần con không dám liên hệ vì biết thầy rất bận nên con ngại không dám làm phiền thầy nên con vẫn kiên trì uống tới giờ mà ĐH vẫn rất thấp là 1 điều cực kỳ vô lý, chắc chắn là có vấn đề trong này làm con không thể tiếp tục uống nữa và uống nhiều quá làm con sợ luôn...
Hôm nay con quá nản, không thể kiểm soát được nữa nên mới mạnh dạng liên hệ thầy. Mong thầy giành chút thời gian quý báu mà từ từ, chậm rãi xem qua bài con để chỉ dạy cho con thấy được cái sai.
Con kính gửi thầy các số liệu:
1. 13H30: ( đói ) ĐH = 4.6
14H00: ( sau thêm 6 thìa để lên 8.0) ĐH = 7.9 (( OK ))
Tay út T = 36⁰4 , Chân út C = 36⁰3
2. 14h45: ( sau ăn 30p ) ĐH = 7.0
T = 36⁰3, C = 36⁰2 Bụng B = 34⁰3, 34⁰5...36⁰1
15h10: ( sau khi thêm 9 thìa để ĐH lên 12.0 ) ĐH = 6.9
T = 36⁰4 , B = 34⁰5, 34⁰6...36⁰0
15h40: ( sau thêm 10thia để ĐH lên 12.0 ) ĐH = 7.1
T = 36⁰5 , C = 36⁰3 , B = 36⁰0,...34⁰8
16h20: ( sau ăn 2h ) ĐH = 6.0
AH Tt = 120- 79 - 81
T = 36⁰4, C = B = 36⁰2
17h00: (sau thêm 7 thìa cho lên 10.0 vì đã ăn 2h) ĐH = 6.1
T = 36⁰4, C = 36⁰2, B = 36⁰0,...34⁰6

18h00: ( o uống thêm đường ) ĐH = 6.2
* T = 36⁰5, B = 35⁰7, C = 36⁰2
18h55: ( sau ăn 5 tiếng, o thêm đường ) ĐH = 7.7
T = 36⁰3, C = 35⁰2, B = 36⁰1
AH T trái = 118- 73- 79
Kính mong thầy xem dùm con và chỉ ra cho con cái sai để con có thể tự uống đường - 1 cái quá đơn giản mà đã lâu rồi con không làm được. Nhân tiện xin thầy trả lời dùm con mấy câu hỏi sau:
1. vì sao con uống đường trước ăn và sau ăn như vậy đã lâu rồi mà giờ con càng uống ĐH càng thấp, ăn xong cũng bị tụt ?? Nếu là đường âm thì qua thời gian dài rồi nó phải cân bằng hết rồi sao giờ lại còn ??
2. Con cứ bổ sung đường vài lần sau ăn cho đủ lên 12.0 như vậy qua 1h, 2h thì con thấy nó o đúng vì phải mất 2 tiếng là điều bất thường, kỳ cục và trong 2h đó cơ thể đã không đủ đường để chuyển hóa cho đến khi nhận đủ đường. Con thấy chắc chắn con đã sai mà không biết ở đâu
3. ĐH thấp mà nhiệt độ ngón tay, có khi là ngón chân con vẫn báo đủ vậy thầy ( > 36⁰, 36⁰4, 36⁰2 ) , trong khi bụng thì nhìều lần không đo được. Nếu con đo AH sau ăn để ktra nhịp tim trong tiêu chuẩn thì nhìu lần > tiêu chuẩn nên con o đo
4. Tại sao con không uống đường, để sau 1h đo trước đó hoặc hơn thì ĐH lại lên ?? Thành ra, sau 4h của bữa ăn trước, con đo ĐH trước ăn bữa tiếp theo nó không đúng, nhìu lúc con tưởng đủ rồi nên trươc ăn bữa tiếp theo con không uống nữa
Kính mong thầy chia sẻ thật cụ thể giúp con để con tự uống đường đúng cách và để con thêm hỉu biết chỉ cho mọi người bệnh chớ con cứ băn khoăn, đau khổ với sức khỏe hoài mất thời gian và công sức của con nên con hy vọng thầy chia sẻ 1 lần là mọi bệnh nhân ở hoàn cảnh nào, thể trạng nào, trình độ nào cũng tiếp thu và áp dụng được. Con vô minh, trí tuệ hạn hẹp nên xin thầy đừng trách con nhé
Con xin chân thành cảm ơn thầy nhìu
Con ( duy )
Trả lời :
Không đo áp huyết 2 tay trước và sau khi ăn 30 phút xem chức năng chuyển hóa, xem ăn đúng và đủ năng lượng không, thức ăn có chất bổ máu không, trong thức ăn có chất xơ để duy trì lượng máu ổn định không.
Trong thức ăn có chất phá máu hay làm hạ đường huyết không. Cân trọng lượng cơ thể trước ăn , sau ăn xem tăng cân hay giảm cân.
Thức ăn là quan trọng, đủ thức ăn thì không cần phải uống thêm đường bổ sung.
Uống đường không đúng lúc làm tuyến tuỵ thường trực phải tiết insulin làm hạ đường và chuyển đường thành mỡ.
Hãy buông bỏ tất cả, không cần để ý đến đường bao nhiêu, cứ chọn thức ăn cho 1 bữa ăn đủ 1000 calo ,thì đường bao nhiêu cũng không bị tiểu đường, miễn là không uống thêm đường bổ sung thừa mà không có thức ăn protein để biến thành máu đường dư thừa sau 1 tiếng sẽ chuyển thành mỡ, và theo nước tiểu ra ngoài, nên càng uống càng mất đường thành mỡ mà không thành máu, làm cho người mập hay người gầy vẫn có nhiều mỡ trong gan, hay bệnh gan nhiễm mỡ.
Đừng theo tiêu chuẩn đường huyết thiếu đạo đức gây ra nhiều bệnh nan y để bán thuốc chữa nhiều bệnh do biến chứng của bệnh thiếu năng lượng calo
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 5 Tháng 7 10, 2025 11:34 pm

PHẦN 20-Đường ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch như thế nào?

I-Cách dùng đường đúng và sai.

A-Không phải đường lúc nào cũng là kẻ thù thầm lặng có hại cho sức khỏe.

1-Đường điều chỉnh tăng-giảm cân.
Mọi người đều biết, dù có ăn đường hay không thì trong thức ăn bất cứ loại thức ăn nào nạp vào cơ thể cũng đều được phân loại chuyển hóa thành glucose, protein, lipid, oxy, Bốn chất này đông y gọi là tinh-khí-thần được hiển thị bằng máy đo áp huyết chỉ rõ lượng khí sau khi ăn làm tăng khí hay giảm khí nhìn vào kết quả số áp huyết tâm thu, còn lượng thức ăn nạp vào cơ thể thừa hay thiếu khi nhìn vào số áp huyết tâm trương tay trái, và thức ăn có đủ chất bổ máu hay thiếu khi nhìn vào áp huyết tâm trương bên tay phải, còn thần thì nhìn vào kết quả của 3 yếu tố nhịp tim, đường huyết, và nhiệt độ thân nhiệt, xem thần đủ hay thiếu, thần đủ thì phải có nhịp tim nằm trong tiêu chuẩn 70-80, thân nhiệt đo ở đầu ngón tay chân đều nằm trong tiêu chuẩn bình thường 36-36,5 độ C, thì dù đo đường huyết có bao nhiêu cũng là đủ đường mà cơ thể cần, và trọng lượng cơ thể sau khi chuyển hóa thức ăn thành năng lượng cho cơ thể hoạt động, thì sau khi ăn trọng lượng cơ thể tăng, khi đói trọng lượng cơ thể trở về trọng lượng vẫn nằm trong tiêu chuẩn so với chiều cao của cơ thể, như mình cao 1,65m thì trọng lượng cơ thể khoảng 63-65kg khi đói, như sau khi ăn trọng lượng tăng như 66kg khi no, khi đói trọng lượng cơ thể trở về tình trạng đói là 64-65kg là đúng.
Có 2 trường hợp xảy ra là tăng cân hay giảm cân sau khi cân nặng trong tình trạng đói.
a-Trường hợp tăng cân sau khi ăn thức ăn tiêu hóa hết trở về tình trạng đói mà trọng lượng lại tăng như 66-67kg, thì lúc đó tây cho kết luận cơ thể thừa đường thì tăng cân béo phì. Thì phải đo lượng đường-huyết là bao nhiêu, đổi theo bảng calo, để bữa ăn kế tiếp chọn thức ăn có ít calo cho giảm cân thì sau khi ăn cân trọng lượng trở vể 63-65kg, đo đường huyết và chuyển ra năng lượng calo, thì biết cách chọn calo thực phẩm mình ăn vào có kết quả.

b-Trường hợp bị giảm cân, sau khi ăn thức ăn tiêu hóa hết sau 4 tiếng, cân lại trọng lượng cơ thể bị sụt cân còn 60kg là mình đã chọn thức ăn sai, phải đo đường huyết xem bao nhiêu đổi ra calo, thấy lượng calo nạp vào từ thức ăn không đủ, ít hơn năng lượng tiêu thụ calo khi cơ thể hoạt động làm việc thì kết quả mình bị sụt cân, có thể mình ăn thức ăn không đủ lượng calo, hay có thể do mình bỏ bữa không nạp năng lượng calo mà vẫn làm việc làm tiêu hao calo.

2-Nguyên nhân gây bệnh và làm tăng số người bị tiểu đường
Như vậy năng lượng calo nạp vào từ thức ăn đủ, không cần nạp thêm đường glucose bổ sung, thì không thể kết luận đường là thủ phạm giết người thầm lặng.
Vì một người ít hoạt động tiêu thụ ít calo, nhưng cũng phải đủ đường cho tim tuần hoàn máu, cho phổi thở, cho thận lọc máu, chỉ ăn rồi nằm, thì ít nhất cũng phải cần 1000calo /ngày, chia làm 3 bữa ăn, mỗi bữa ăn khoảng 330 calo, đổi ra đường huyết là 6mmol/l, thì cũng không bị sụt cân, nhưng nếu chỉ ăn ngày 2 bữa thì mới có 660calo, dù đo đường huyết là 12mmol/l, thì vẫn bị sụt cân, dù đường huyết cao, mà tiêu chuẩn đường huyết hiện nay chỉ cho phép 6mmol/l, nên cơ thể thiếu calo bị sụt cân gây ung thư do tế bào bị đói, tây y cho rằng tế bào ăn tế bào gọi là ung thư, thì thủ phạm giết người thầm lặng không phài do đường cao, mà do tiêu chuẩn đường huyết thấp, nếu bác sĩ nào không hiểu mà tiêm insulin làm chết người là người không có lương tâm thiếu đạo đức chính là kẻ sát nhân có bằng cấp được ngành y bảo kê thoát tội.

3-Nguyên nhân làm hỏng chức năng tuyến tụy.

a-Do cách chữa theo tiêu chuẩn đường huyết thấp của ngành y kinh doanh.
Ngay sau khi ăn 30 phút, đo đường huyết thấp, đổi ra năng lượng calo thấy thấp, thì phải bổ sung ăn thêm thức ăn làm tăng calo, nhưng đôi khi bao tử đầy hay vì lý do không thể nạp thêm calo từ thức ăn, thì mọi người có thói quen uống thêm đường cho đủ đường chuyển hóa nốt thức ăn còn lại trong bao tử chưa chuyển hóa hết, để sau 4 tiếng, đo đường huyết còn đủ 500 calo để duy trì sức khỏe cho cơ thể mà không bị giảm cân, thì 500 calo tương đương đường huyết 9mmol/l, nếu cân trọng lượng cơ thể tăng cân thì biết cơ thể vẫn thừa đường và calo, ngược lại nếu cân nặng bị giảm sụt cân, thì đường 9mmol/l vẫn thiếu, mà tây y tiêm insulin là mất thêm đường mất calo, đó là lý do mọi người không bị tiểu đường mà phải uống hay tiêm thuốc hạ đường suốt đời môt cách vô lý làm chết oan nhiều người nguyên nhân tại cái tiêu chuẩn đường huyết thấp của ngành y kinh doanh thiếu đạo đức gây ra hại người hơn là cứu người.

b-Do bệnh nhân uống đường sai làm hư tuyến tụy.
Khi đo đường huyết thiếu sau khi ăn 30 phút, đổi ra calo thấp, vì lý do nào đó không ăn thêm được để làm tăng calo, thì nhiều người phải uống thêm đường bổ sung là đúng, nhưng không biết cách uống đường, nếu khi thấy sau khi uống đường đã tăng lên như 10mmol/l, nhưng đường huyết lại bị tụt thấp ngay sau 1 tiếng là chúng ta đã biết sai, theo kinh nghiệm chỉ mỗi giờ cơ thể hoạt động trong lúc nghỉ ngơi chỉ mất 10mg/dl, thì không thể nào sau 1 giờ đường huyết lại tụt mất nhiều chỉ còn 6mmol/l, thì cơ thể của chúng ta chỉ còn 334 calo, nên sức khỏe càng yếu, mà càng uống đường càng tụt, thì phải ngưng, vì đấy là cách uống đường sai, calo càng thấp lại càng sụt cân dù uống đường nhiều, tại sao vậy ?
Vì theo lý thuyết của tây y là glucose phối hợp với thức ăn protein biến thành máu, thì insulin mới dẫn đường và máu đến nuôi tế bào, sau khi tế bào nhận thêm máu và năng lượng glucose đủ để cho tế bào hoạt động, còn lại thừa đường bao nhiêu thì insulin dẫn về gan biến thành đường dự trữ glycogen chừng 100g đường còn dư thừa glucose nữa thì biến thành mỡ, dư thừa mỡ thì gan bị bệnh gan nhiễm mỡ.
Như vậy chỉ uống đường glucose không, mà không có protein thì đường trong máu thừa, tuyến tụy phải tiết insulin để dẫn đường cất vào gan biến thành mỡ, chúng ta đo đường lại thấy thiếu, lại uống đường làm mệt tuyến tụy phải làm việc nhiều để cất đường về gan biến thành mỡ, làm tuyến tụy phải làm việc suốt ngày đêm để điều chỉnh lượng đường trong máu, nên tuyến tụy bị sưng viêm dẫn đến ung thư tụy. Cách uống đường đúng là uống đường phải ăn kèm ít protein như pha bột whey protein isolate, hay ngay sau khi uống đường phải ăn 1 trái táo, hay củ khoai vừa có protein, vừa có chất xơ, và để cho đường chuyển hóa chậm không bị tụt đường mà sẽ biến thành máu và làm tăng calo bền vững. thì tuyến tụy không phải làm việc nhiều sẽ không bị hư tuyến tụy.

b-Do tây y tiêm insulin khi đường cao hơn tiêu chuẩn quy định.
Làm cơ thể thiếu năng lượng calo làm chết oan nhiều người.
Và lấy cớ chết người này để che tôi lỗi của mình lại hù dọa do đường huyết cao làm chết người.

c-Khi đường huyết thấp thật sự, tây y lại chữa sai theo 2 cách.
Bất cứ ở đâu nếu có người bị đường huyết tụt thấp hay thiếu đường có dấu hiệu chân tay lạnh, run giật, hôn mê cần phải cấp cứu bằng đường tối đa 10 thìa cà phê đường cát vàng, nạn nhân sẽ tỉnh hẳn. sẽ không bị biến chứng tai biến do thiếu máu não hay máu đông xơ vữa động mạch gây thiếu máu cơ tim cục bộ, và ngừa đường huyết tụt nhanh sau khi uống đường thì ăn thêm quả táo, hay củ khoai vừa có protein vừa có them năng lượng calo.
Khác hẳn với cách cấp cứu sai lầm của tây y như dưới đây :

Cách thứ nhất : tiêm insulin dẫn đến suy tim đột quỵ.
Như đường huyết 6mmol/l, theo tiêu chuẩn đường huyết vẫn cao hơn 5.9mmol/l bị kết tội bị bệnh đường huyết cao phải tiêm insulin xuống còn 4.5mmol/l chuyển ra calo chỉ còn 250 calo, làm cơ thể thiểu năng lượng, suy tim, tim ngưng đập, đột quỵ dẫn đến tử vong.

Cách thứ hai tiêm glucagon làm suy thận : Thay vì phải tiêm đường glucoza làm tăng đường huyết trực tiếp để cứu tim không bị đột quỵ và làm tăng năng lượng calo cho bệnh nhân, thì lại không tiêm glucoza, mà lại tiêm glucagon là sai.
Tại sao, glucagon chỉ giống như một vị tướng bù nhìn trong tay không có quân, có nghĩa chức năng của glucagon là ra lệnh cho gan tiết đường dự trữ glucogen hay mỡ chuyển ra đường glucose để giúp tim phổi hoạt động, nhưng chỉ ra lệnh thôi chứ kho gan không còn đường dự trữ, không còn mỡ dự trữ thì làm gì có đường, như vậy tuyến thượng thận phải rút đường trong xương tủy nuôi tim, khiến xương mất đường gây ra loãng xốp xương là một biến chứng của bệnh thiếu đường, dẫn đến suy thận phải lọc thận, nhưng trước khi lọc thận thì da chân thiếu đường kết cấu với lipid để bảo vệ da, nên tế bào da bị hư mục sinh ra hoại tử cưa chân.

B-Thiếu đường làm mất chức năng của hệ miễn dịch .

Theo đông y, hệ thống miễn dịch cần rất nhiều đường và năng lượng calo để phòng chống bệnh và ngừa lây lan.
Nên chúng ta nghiên cứu cho biết chứ không áp dụng, vì khác với lý thuyết tây y khi nghiên cứu đã lầm lẫn khi kiêng đường làm gì có đường cao nạp vào mà nghiên cứu từ những người bị tiểu đường bị đường cao do cơ thể mất đường, nên không đáng tin cậy.
Ngoài ra , môt nghiên cứu khác trong phần III bên dưới các nhà khoa học còn đang nghi ngờ sự liên hệ của đường và hệ thống miễn dịch còn chưa chắc chắn, nên lý thuyết của tây y còn nhiều mâu thuẫn.
Theo lý thuyết tây y nói vế hệ miễn dịch chia làm 2 loại :

1-Cơ thể chúng ta có hệ miễn dịch bẩm sinh không có trí nhớ.
Hệ thống miễn dịch bẩm sinh là hệ thống đầu tiên phản ứng trong vòng vài phút đến vài giờ khi có tác nhân lạ xâm nhập.
Nó tạo ra phản ứng gây sốt và khởi phát tình trạng viêm hữu ích trong thời gian ngắn đối với các chấn thương hay bệnh cấp tính.
Tuy nhiên, về lâu dài, tình trạng viêm đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của một số bệnh như bệnh tự miễn, bệnh tim mạch, đái tháo đường, bệnh thận mãn tính, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu và các rối loạn thoái hóa thần kinh. Phản ứng miễn dịch bẩm sinh không có trí nhớ, nghĩa là nó phản ứng theo cùng một cách với tất cả các tác nhân gây bệnh gặp phải.

2-Hệ thống miễn dịch thích nghi có trí nhớ, còn được gọi là "miễn dịch mắc phải".
Mất nhiều ngày đến nhiều tuần để phát huy tác dụng. Hệ thống này rất đặc hiệu và đa dạng đối với từng loại tác nhân gây bệnh mà nó gặp phải, nghĩa là nó tạo ra phản ứng riêng biệt với từng tác nhân gây bệnh sau khi đã được "mồi" hoặc tiếp xúc với tác nhân gây bệnh đó. Hệ thống miễn dịch thích nghi có trí nhớ, nghĩa là nó sẽ phản ứng nhanh hơn vào lần tiếp theo bạn tiếp xúc với tác nhân gây bệnh đó.

Trên đây chỉ là lý thuyết của tây y, khác với thực tế, như cùng bị gió đưa virus cúm xâm nhập vào đường hô hấp của mọi người, chạm vào da của mọi người thì mọi người đều phải bị bệnh cúm, đều phải bị sốt, nhưng tại sao có người bị cúm, có người không, hay có người mới bị sốt một ngày đã khỏi, có người bị nhiều ngày mà không khỏi dẫn đến tử vong. Đó là nhờ hệ miễn nhiễm có đủ kháng thể lgG, IgM là cơ thể đã có sẵn đường, ngăn chặn được cúm, dù không tiêm vaccin phòng ngừa, vì vaccin đúng ra theo lý thuyết sẽ làm tăng cường hệ miễn nhiễm chống bệnh, nhưng muốn ra lệnh tăng cường hệ miễn nhiễm vẫn thất bại vì cơ thể thiếu đường làm sao có tế bào kháng thể.
Cũng giống như vậy, khi cơ thể tụt đường huyết hay thiếu đường, thay vì tiêm thêm đường làm tăng đường huyết làm tăng thân nhiệt chống máu đông do nhịp tim hạ thấp thì tim thiếu máu tuần hoàn gọi là thiếu máu cơ tim cục bộ sẽ ngừng đập, bị đột quỵ tử vong, vì tiêm glucagon thì nó cũng ra lệnh cho cơ thể tăng đường, nhưng cơ thể kiêng đường làm gì có đường để tăng, nên phải kích thích thận rút đường trong xương tủy, dẫn đến loãng xương, suy thận, khiến tỷ lệ lọc cầu thận giảm dẫn đến lọc thận, rồi ghép thận, cuối cùng tử vong, nguyên nhân kiêng đường, mà đo đường càng cao là cơ thể càng mất đường tây y lại đổ thừa tử vong do đường huyết cao để hù dọa cho mọi người sợ đường.

Trái lại, những bệnh cảm cúm theo đông y áp dụng ngũ hành tương khắc, để lập lại trật tự quân bình của chức năng tuần hoàn của tạng phủ hòa hợp để không còn hành nào khắc hành nào, chứ không tiêu diệt hành nào cả, nên gọi là tương sinh, tương khắc.
Thí dụ virus bay trong gió, có nghĩa là phong có tà khí là virus gọi là phong tà, lọt qua mũi, hay chạm vào da thịt, vào máu, do đó tây y thử máu biết ngay máu nhiễm virus, như vậy gan trong cơ thể chứa máu nhiễm virus, thì gan trong cơ thể bị phong tà sẽ tấn công tỳ vị, có nghĩa gan mộc sẽ tấn công tỳ vị thổ, mộc khắc thổ, nếu thổ yếu thì mộc thắng sẽ đưa tà khí virus hại phổi, hại thận hại gan hại tim. Thổ tỳ vị muốn chống lại gan mộc, không cho mộc thắng mình thì tỳ vị thổ phải mạnh, tỷ vị thổ muốn mạnh thì phải cần nhiều chất ngọt là đường, do đó uống nhiều đường, ngăn chặn virus không phát triển được, tại sao, cũng theo quy luật tương khắc, mộc mạnh sẽ khắc thổ, thì bây giờ thổ mạnh sẽ tương khắc lại thủy là thận, mà nếu thận thủy yếu, là mẹ của gan mộc, lúc đó mẹ yếu thì gan cũng yếu, như vậy virus trong gan không lây lan được, đó là ngăn chặn không lây lan bị giữ trong gan, đó là ngăn ngừa, còn tiêu diệt virus thì pha đường với chanh làm tăng pH kiềm, trung hòa acid trong gan, là khỏi bệnh cúm, mà không có dấu hiệu sốt. Tại sao vậy, ví dụ thì giống như hai nhà hàng xóm cạnh nhau, có con trai to khỏe hăm dọa muốn đánh mình, mình cũng phải khỏe lên tuy không phải để đánh nó mà mình khỏe để hăm dọa nó, nếu anh dánh tôi, tôi sẽ đánh mẹ anh, tự nhiên khộng ai dám đánh ai, đó là dùng phương pháp ngăn ngừa chống bệnh bằng phương pháp tương khắc ngũ hành, tức là không đánh giết nhau chết.

3-Đường ảnh hưởng đến hệ thống miễn dịch như thế nào?
Khi chúng ta tiêu thụ thực phẩm có nhiều đường đơn, lượng đường và triglyceride trong máu của chúng ta sẽ tăng đột biến sau bữa ăn (sau bữa ăn). Điều này còn được gọi là "rối loạn chuyển hóa sau bữa ăn" và nó gây ra nhiều thay đổi tiêu cực trong cơ thể. Chỉ cần một bữa ăn nhiều đường mà thiếu protein và chất xơ có thể gây ra các tác dụng tạm thời như:

a-Ức chế bạch cầu trung tính
Bạch cầu trung tính là một phần của hệ thống miễn dịch bẩm sinh (phản ứng đầu tiên). Chúng tuần tra để tìm kiếm những kẻ xâm lược lạ và sau đó bẫy và tiêu diệt các tác nhân gây bệnh khi phát hiện ra. Lượng đường trong máu cao ngăn không cho bạch cầu trung tính đến được vị trí nhiễm trùng do vi khuẩn (ức chế sự di chuyển), làm giảm khả năng bẫy các tác nhân gây bệnh (thực bào) và hơn nữa còn ức chế khả năng tiêu diệt vi khuẩn của chúng, trường hợp này chúng ta đo đường co mà nhịp tim thấp là máu đặc, máu không thông thì bạch cầu trong máu củng không di chuyển được.

b-Tăng viêm và các dấu hiệu viêm như protein phản ứng
Viêm kéo dài (chẳng hạn như khi tiếp xúc nhiều lần với chế độ ăn nhiều đường, thiếu protein) có thể gây ra sự phá vỡ khả năng dung nạp miễn dịch, có thể dẫn đến những thay đổi lớn ở tất cả các mô và cơ quan, cũng như sinh lý tế bào bình thường, có thể làm tăng nguy cơ mắc nhiều bệnh không lây nhiễm ở cả người trẻ và người lớn tuổi. Nó cũng có thể làm suy yếu chức năng miễn dịch bình thường dẫn đến tăng nguy cơ nhiễm trùng và khối u cũng như phản ứng kém với vắc-xin.

c-Căng thẳng oxy hóa tức thời (sản xuất gốc tự do)
Căng thẳng oxy hóa kích hoạt tình trạng viêm cấp tính, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ thống miễn dịch. Ngoài ra, căng thẳng oxy hóa này cũng làm tăng quá trình oxy hóa cholesterol xấu LDL, co thắt mạch máu và hình thành cục máu đông, tất cả đều góp phần gây ra bệnh tim mạch.
Đây cũng là cách giải thích do đường cao mà cơ thể bị mất đi, làm mất thân nhiệt người lạnh máu đông, thức ăn biến thành chất đặc làm máu không lưu thông được trong ống máu, nên khi thử máu đặc thì gọi là mỡ máu, máu đông, nguyên nhân do thiếu nạp đường vào, mà đường cao do cơ thể mất đường

d-Rối loạn chức năng nội mô (mạch máu)
Lượng đường trong máu cao do thiếu protein làm giảm sự giãn nở của mạch máu (giảm lưu lượng máu) đồng thời làm tăng tình trạng rò rỉ của mạch máu và tốc độ đông máu do phản ứng viêm. Phản ứng này tương tự như cách nhiễm trùng do vi-rút gây ra tình trạng viêm mạch máu dẫn đến rối loạn chức năng nội mô, đông máu và bệnh tim mạch. “Tăng tính thấm” của mạch máu trong thời gian dài có liên quan đến tình trạng lão hóa và các bệnh như Parkinson và Alzheimer.

e-Glycosyl hóa protein và thay đổi cấu trúc bậc ba của bổ thể
Mặc dù điều này nghe có vẻ phức tạp, nhưng điều quan trọng cần hiểu là những thay đổi này khiến cơ thể khó nhận biết các tác nhân gây bệnh lạ và loại bỏ chúng. Những thay đổi trong quá trình glycosyl hóa có thể làm tăng phản ứng viêm, cho phép vi-rút trốn tránh miễn dịch (khả năng thoát khỏi) và thúc đẩy di căn tế bào ung thư. Sự phát triển của bệnh tự miễn như bệnh lupus và bệnh ruột kích thích liên quan đến quá trình glycosyl hóa một hoặc nhiều glycoprotein.

4-Cần bao nhiêu đường?
Để cung cấp một chút bối cảnh, cho thấy tác động tức thời của việc tiêu thụ đồ uống có chứa 75g glucose. Lượng đường này tương đương với một cốc rưỡi gạo trắng (68g). Bạn sẽ nhận thấy rằng trong vòng vài giờ, lượng glucose và triglyceride tăng đáng kể dẫn đến stress oxy hóa tức thời (nitrotyrosine), viêm (protein phản ứng C [CRP]) và rối loạn chức năng nội mô thông qua việc giảm lưu lượng máu thông qua việc giảm đường kính mạch máu (FMD).
Một nghiên cứu khác xem xét tác động tức thời của việc tiêu thụ đường đã phát hiện ra rằng những người tiêu thụ 40 gam đường bổ sung chỉ từ một lon nước ngọt 375ml đã bị tăng các dấu hiệu viêm, kháng insulin và cholesterol LDL.

Ngoài những điều trên, các bữa ăn có nhiều đường bổ sung, chứ không phải trong thực phẩm ăn vào được chuyển hóa thành glucose, có thể làm thay đổi chức năng hàng rào ruột của chúng ta và gây mất cân bằng vi khuẩn đường ruột (còn được gọi là loạn khuẩn). Điều này có thể dẫn đến tình trạng được gọi là "ruột rò rỉ" hoặc tính thấm của ruột, gây viêm và làm tăng gánh nặng cho hệ thống miễn dịch. Ngoài ra, vi khuẩn đường ruột bị thay đổi đã được cho là góp phần gây ra nhiều rối loạn do miễn dịch như bệnh ruột kích thích . Hơn nữa, như đã đề cập ở trên, chế độ ăn nhiều đường có liên quan đến sự phát triển của tất cả các loại bệnh như bệnh tim mạch, tiểu đường loại hai, béo phì, bệnh gan nhiễm mỡ không do rượu, bệnh gút và các tình trạng tự miễn dịch như viêm khớp dạng thấp, trường hợp này chỉ đúng với những người đang dùng thuốc chữa bệnh tỉểu đường mới có hậu quả này.

II-Chúng ta nên ăn bao nhiêu đường
Và làm thế nào để giảm tác động tiêu cực của đường đối với hệ thống miễn dịch và sức khỏe tổng thể của chúng ta?

1-Quỹ Tim mạch và Đột quỵ khuyến cáo bạn không nên tiêu thụ quá 10% tổng lượng calo mỗi ngày từ đường bổ sung – lý tưởng nhất là dưới 5%. Điều này có nghĩa là đối với người có chế độ ăn 2000 calo/ngày, bạn nên tiêu thụ ít hơn 48g=10 thìa cà phê đường cát vàng (10%) đường. Lượng đường này nhiều hơn một lon nước ngọt một chút. Sau đây là một số điều quan trọng bạn có thể cân nhắc thực hiện để giảm tác động của thực phẩm nhiều đường lên hệ miễn dịch và sức khỏe tổng thể của bạn:

2-Chất xơ và carbohydrate có chỉ số đường huyết thấp:

a- Khi ăn carbohydrate, hãy cố gắng chọn thực phẩm có nhiều chất xơ, chỉ số đường huyết thấp (chỉ số đường huyết <55) như ngũ cốc nguyên hạt, đậu và các loại đậu, rau và quả mọng. Carbohydrate ở dạng này khó tiêu hóa hơn nhiều, do đó làm chậm tốc độ đường đi vào máu.

b-Protein và chất béo
Đảm bảo bạn tiêu thụ một nguồn protein và/hoặc chất béo lành mạnh trong mỗi bữa ăn hoặc bữa ăn nhẹ. Việc bổ sung protein và chất béo cũng giúp làm chậm tốc độ đường được giải phóng vào máu, ngăn ngừa lượng đường trong máu tăng đột biến. Một ví dụ có thể là ăn bơ hạnh nhân với chuối.

c- Thêm protein whey
Thêm protein whey vào cùng một loại đồ uống glucose làm giảm lượng đường trong máu sau khi uống. Chúng ta có một ví dụ về cách thêm 90g hạnh nhân vào một bữa ăn có chỉ số đường huyết cao làm giảm diện tích dưới đường cong glucose xuống 58%.

d-Giấm:
Nghiên cứu cho thấy thêm 1-2 thìa giấm vào bữa ăn có thể làm giảm lượng đường sau ăn từ 25%-35% cũng như tăng cảm giác no sau bữa ăn lên gấp đôi, chỉ áp dụng cho những ai ăn nhiều béo phì không tập mới cần giấm, còn những ai ăn lượng thức ăn chưa đủ lương calo không dùng giấm được sẽ bị giảm cân, và hại gan, khác với nước chấm có đủ 5 vị mặn ngọt chua cay đắng thì trung hòa.

e-Tránh thực phẩm/đồ uống có chỉ số đường huyết thấp và chế biến nhiều
Tránh thực phẩm và đồ uống chế biến nhiều thường chứa nhiều đường đơn, xi-rô ngô có hàm lượng fructose cao và bột mì trắng.

3-Cách chọn thức ăn :
Ngoài ra, các chất dinh dưỡng chính bao gồm nhiều vi chất dinh dưỡng (vitamin và khoáng chất) đã được chứng minh là có tác dụng hỗ trợ chức năng miễn dịch hoặc điều chỉnh tình trạng viêm hoặc cả hai). Bao gồm:
Vitamin tan trong chất béo: A, D, E, K, carotenoid;
Vitamin tan trong nước: B6, folate, B12, C;
Khoáng chất: kẽm, sắt, selen, magiê và đồng;
Axit béo: axit béo omega-3 (ví dụ: EPA, DHA);
Polyphenol thực vật.
Ăn nhiều loại ngũ cốc nguyên hạt, trái cây, rau, nguồn protein và chất béo lành mạnh, chẳng hạn như trong Chế độ ăn Địa Trung Hải, có thể giúp đảm bảo bạn nhận đủ năng lượng và các chất dinh dưỡng thiết yếu để có chức năng miễn dịch tối ưu. "Chế độ ăn phương Tây", thường có mật độ năng lượng, chất béo, đường và thịt đỏ cao, nhưng lại ít trái cây, rau và chất xơ trong chế độ ăn uống, có liên quan đến khả năng miễn dịch yếu hơn, đặc biệt là so với chế độ ăn theo kiểu Địa Trung Hải .

4-Đi bộ/Tập thể dục
a-Đi bộ trong 10-30 phút sau mỗi bữa ăn. Đi bộ ngắn sau mỗi bữa ăn được phát hiện có hiệu quả hơn trong việc kiểm soát lượng đường trong máu so với chế độ tập thể dục một lần mỗi ngày hoặc chỉ sử dụng metformin .
Không tập thể dục khi đường huyết và calo thấp sẽ bị phản nghịch làm tăng đường huyết cao làm cơ thể vừa mất đường vừa mất calo và sụt cân tế bào sẽ đói trở thành tế bào ung thư là hình thức tế bào ăn tế bào..

III-Một nghiên cứu khác về Đường và Hệ thống miễn dịch

Hệ thống miễn dịch có nhu cầu năng lượng cao và glucose là nguồn nhiên liệu ưa thích của hệ thống .Tinh bột và đường là nguồn glucose chính trong chế độ ăn uống. Ở những người khỏe mạnh, lượng đường trong máu được kiểm soát chặt chẽ bởi nhiều yếu tố. Tuy nhiên, lượng đường trong máu thấp hoặc cao đều có thể gây hại cho hệ thống miễn dịch. Mặc dù phương tiện truyền thông thường chú ý đến mối liên hệ giữa việc tiêu thụ đường và suy giảm chức năng miễn dịch, nhưng bằng chứng hiện có vẫn chưa chắc chắn.

Một số nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ, nhưng không rõ đây có phải là mối quan hệ nhân quả hay không, giữa chế độ ăn uống nhiều đồ uống có đường và các dấu hiệu viêm .
Một đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp, đại diện cho mức bằng chứng khoa học cao nhất, đã xem xét 13 thử nghiệm can thiệp tập trung vào người lớn mắc và không mắc bệnh tiểu đường loại 2 hoặc thừa cân và béo phì để xác định tác động của đường (glucose, fructose và sucrose) từ thực phẩm hoặc đồ uống lên các dấu hiệu viêm. Các phát hiện cho thấy không có sự khác biệt về tác động giữa các loại đường khác nhau. Đáng chú ý là nhiều nghiên cứu đã sử dụng lượng đường cao (ví dụ: 100 g đường bổ sung), không phản ánh chế độ ăn uống bình thường.
Cần có thêm nhiều nghiên cứu để hiểu rõ hơn về vai trò của đường như một thành phần của chế độ ăn uống tổng thể đối với chức năng miễn dịch.
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 6 Tháng 10 17, 2025 2:28 pm

PHẦN 21.
NGHIÊN CỨU NGUYÊN NHÂN UNG THƯ VÀ CÁCH CHỮA.


A-NHỮNG GIẢI THÍCH MỚI CỦA KHOA HỌC VỀ NGUYÊN NHÂN UNG THƯ

1-Ảnh hưởng của nhiễm toan toàn thân và tại chỗ kháng insulin
Hầu hết các tình trạng bệnh lý gây ra nhiễm toan tại chỗ hoặc toàn thân bằng cách vượt qua hoạt động đệm của dịch cơ thể đều trùng lặp với các bệnh lý đặc trưng bởi rối loạn chuyển hóa glucose, bao gồm đái tháo đường, viêm và ung thư. Quan sát đơn giản này cho thấy sự tồn tại của mối quan hệ chặt chẽ giữa nhiễm toan và chuyển hóa insulin hoặc tín hiệu thụ thể insulin. Trong bài tổng quan này, chúng tôi tóm tắt kiến thức hiện tại về hoạt động của insulin đối với việc gây ra nhiễm toan và ngược lại, về ảnh hưởng của sự thay đổi pH ngoại bào và nội bào lên tình trạng kháng insulin. Insulin ảnh hưởng đến nhiễm toan bằng cách thúc đẩy quá trình đường phân. Mặc dù cơ chế chưa rõ ràng, việc giảm pH lại ức chế độ nhạy hoặc hoạt động của insulin. Ngoài nhiễm toan ceton thường liên quan đến đái tháo đường, còn có các yếu tố quan trọng và phức tạp hơn khác tham gia vào cơ chế phản hồi tinh vi này. Trong số đó, bài tổng quan này đã thảo luận về tác dụng ức chế qua trung gian axit đối với ái lực liên kết insulin với thụ thể của nó, đối với quá trình đường phân, đối với quá trình tái chế các chất vận chuyển glucose và đối với quá trình tiết insulin thông qua hoạt động của yếu tố tăng trưởng chuyển dạng β (TGF-β) bởi các tế bào β tuyến tụy. Cuối cùng, chúng tôi đã xem xét lại dữ liệu hiện có về tương tác giữa tín hiệu insulin và hoạt động của các chất vận chuyển ion/proton và cảm biến pH, cũng như cách nhiễm toan có thể làm tăng tình trạng kháng insulin thông qua con đường gây viêm của Yếu tố hạt nhân kappa B (NF-κB).

2. Mất cân bằng acid-base (âm-dương), xác định bằng thử pH nước bọt.
Những nghiên cứu mới của khoa học về nguyên nhân ung thư là sự cân bằng axit-bazơ và điều hòa pH rất quan trọng đối với cả sinh lý bình thường và chức năng tế bào, và chịu sự điều hòa mạnh mẽ. Việc duy trì pH chính xác là cần thiết, cả ở cấp độ ngoại bào và trong tế bào chất, vì những thay đổi trong không gian ngoại bào sẽ tác động trực tiếp đến pH nội bào, và bộ máy tế bào rất nhạy cảm với những thay đổi về nồng độ H+ nội bào. Để duy trì cân bằng axit-bazơ, pH ngoại bào thường được giữ quanh giá trị trung tính và trong giới hạn hẹp. Ví dụ quan trọng nhất là pH máu động mạch được duy trì trong khoảng 7,36 đến 7,44, hoặc pH máu tĩnh mạch khoảng 7,6. Là cơ chế bảo vệ tức thời chống lại sự thay đổi pH, có một số hệ đệm nội bào và ngoại bào ở các vùng khác nhau của cơ thể. Trong máu, hệ đệm quan trọng nhất là hệ đệm HCO3−/CO2, nhưng hemoglobin hoặc protein huyết tương cũng góp phần đáng kể vào hoạt động đệm với nhiều gốc histidine của chúng. Ngoài ra, các protein khác có gốc histidine ở các vùng khác của cơ thể, hoặc citrate và hydroxyapatite trong xương, có hoạt tính kiềm hóa mạnh. Đáng chú ý, dịch kẽ chứa ít phân tử đệm pH và ở mức này, pH có thể thấp hơn và chịu sự biến đổi phức tạp và năng động hơn. Trong trường hợp này, giá trị pH thay đổi mạnh tùy thuộc vào loại mô cụ thể, hoạt động chuyển hóa của từng tế bào và khoảng cách từ tế bào cụ thể đến mạch máu mao mạch gần nhất.
Các tình trạng bệnh lý khác nhau có thể gây ra sự vượt qua các hoạt động đệm trong dịch cơ thể. Có rất nhiều nguyên nhân tiềm ẩn gây nhiễm toan toàn thân và tại chỗ. Sự nhiễm toan tại chỗ có thể là do các yếu tố tăng trưởng hoặc cytokine kích thích chuyển hóa tế bào, bệnh mạch máu, thiếu máu cục bộ, nhiễm trùng, khối u hoặc viêm. Trong quá trình lành xương gãy, ngay sau chấn thương ban đầu, tụ máu xương được đặc trưng bởi tình trạng thiếu oxy và pH thấp. Hơn nữa, như Marunaka và cộng sự đã chứng minh, ngay cả trong giai đoạn tiền bệnh, pH cũng giảm mạnh trong dịch kẽ xung quanh các mô khác nhau, bao gồm cả não. Ở cấp độ toàn thân, ngoài các bệnh về thận và hô hấp, một nguồn tích tụ H+ quá mức là tập thể dục kỵ khí, viêm dạ dày ruột, tiêu thụ quá nhiều protein hoặc các chất tạo axit khác, thiếu máu, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), lão hóa và mãn kinh, và cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng là bệnh tiểu đường.
Đáng chú ý, hầu hết các tình huống đã đề cập ở trên đều trùng lặp với những tình huống xảy ra do rối loạn chuyển hóa glucose hoặc insulin, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa nhiễm toan và chuyển hóa insulin hoặc tín hiệu thụ thể insulin.
Insulin là tác nhân đồng hóa sinh lý mạnh nhất được biết đến, thúc đẩy quá trình dự trữ và tổng hợp lipid, protein và carbohydrate, đồng thời ức chế sự phân hủy và giải phóng chúng vào hệ tuần hoàn của cơ thể. Insulin đặc biệt hoạt động trong tế bào cơ và gan, và cũng thường kết hợp với sự hấp thu axit béo, đặc biệt là trong tế bào mỡ. Tất cả các tế bào động vật có vú hầu như đều có thụ thể insulin (IR), và do đó đáp ứng với insulin. Các tế bào đích insulin đáng chú ý khác có chức năng chuyển hóa bao gồm đại thực bào, tế bào nội mô và tế bào β tuyến tụy sản xuất insulin.
Trong bài tổng quan này, chúng tôi đã mô tả cách hoạt động của insulin điều chỉnh quá trình điều hòa pH, và ngược lại, cách những thay đổi về pH - cả ở khoang ngoại bào và khoang nội bào - điều chỉnh tín hiệu insulin và quá trình chuyển hóa glucose.

3. Tăng đường phân và nhiễm toan cục bộ do insulin
Một trong những chức năng chính của insulin là tác dụng kích thích đường phân, xảy ra khi nồng độ glucose lưu thông tăng lên. Đổi lại, đường phân gây ra sản xuất axit lactic. Tăng lactat máu là một đặc điểm lâm sàng tái phát ở bệnh nhân tiểu đường và có liên quan trực tiếp đến nhiễm toan thông qua mối quan hệ nhân quả. Trong bối cảnh lâm sàng, nhiễm toan lactic có thể xảy ra do sản xuất quá mức lactat ở mức độ mô hoặc do rối loạn chuyển hóa lactat. Đáng chú ý, tăng lactat máu cũng có thể xảy ra với pH huyết thanh bình thường hoặc với nhiễm kiềm do rối loạn cân bằng axit-bazơ hỗn hợp, trong đó nhiễm kiềm hô hấp hoặc chuyển hóa đi kèm che lấp tác động của nồng độ axit lactic tăng cao.
Chi tiết hơn, liên quan đến việc sản xuất quá mức lactat, điều quan trọng cần lưu ý là người ta thường lầm tưởng rằng nhiễm toan liên quan đến sản xuất axit lactic là do sự phân ly của axit lactic và sự hình thành H+. Dựa trên cùng một khái niệm, gần đây hơn, Corbet và cộng sự đã thảo luận rằng các ion lactat và H+ là các thực thể riêng biệt. Đặc biệt, trong điều kiện thiếu oxy sâu, lactat và H+ được tạo ra độc lập và chỉ có một phần giới hạn của mỗi loại kết hợp để tạo thành axit lactic, vì pKa (~3,9) đối với quá trình phân ly hydro cacboxylic vẫn thấp hơn nhiều so với pH tế bào chất và thậm chí cả pH ngoại bào. Hơn nữa, khi hầu hết pyruvate có nguồn gốc từ glucose bị khử thành lactat, quá trình chuyển đổi hoàn toàn glucose thành hai phân tử lactat và hai ion H+ trong tế bào ung thư thiếu oxy chỉ là lý thuyết vì một số phân tử glucose bị chuyển hướng vào các con đường chuyển hóa khác. Tuy nhiên, gradient lactat qua màng tế bào ảnh hưởng đến dòng H+ chảy ra vì lactat được vận chuyển qua màng tế bào bởi các chất vận chuyển axit monocarboxylic (MCT), chủ yếu là MCT4, thông qua sự vận chuyển đồng thời của H+ qua màng tế bào. Cuối cùng, khi lactat đến không gian ngoại bào, cân bằng axit-bazơ dựa trên lactat bị ảnh hưởng bởi một số biến số tương tác—không chỉ bao gồm cân bằng điện tích và bảo toàn khối lượng, mà còn cả sự cân bằng giữa sự hình thành ion bicacbonat, sự hình thành ion cacbonat, sự phân ly nước và sự phân ly axit yếu.
Do đó, tóm lại, sự tích tụ lactat có thể dẫn đến sự gia tăng axit hóa ngoại bào ngay cả khi nó phụ thuộc mạnh vào các biến số khác nhau
Kích thích insulin gây ra axit hóa ngoại bào. Insulin kích thích sự hấp thu glucose từ các chất vận chuyển glucose (GLUT) và đường phân. Sự tích tụ lactat từ đường phân dẫn đến sự gia tăng dần dần nồng độ lactat và proton. Sau đó, proton được vận chuyển qua màng tế bào thông qua một số chất vận chuyển, bao gồm chất vận chuyển monocarboxylate (MCT), cũng vận chuyển lactat ra ngoại bào
Ngoài ra, một số chất vận chuyển proton khác ngoài MCT có thể được sử dụng để nhanh chóng vận chuyển proton ra ngoài tế bào.
Về sự suy giảm chuyển hóa lactat và vai trò của nó trong nhiễm toan do tăng lactat máu, lactat có thể được hấp thụ và được chuyển hóa bởi các tế bào và mô khác nhau, chẳng hạn như gan, tế bào mầm và tế bào thần kinh, chuyển hóa thành pyruvate thông qua LDH và sau đó đóng vai trò là nguồn năng lượng. Trong trường hợp này, lactat được hấp thụ chủ yếu bởi đồng phân MCT1, do đó gây ra hiệu ứng kiềm hóa cuối cùng. Do đó, sự giảm chuyển hóa lactat có thể gián tiếp gây ra tình trạng axit hóa.
Quay trở lại mối liên hệ giữa đường phân và nhiễm toan, dựa trên những phát hiện của Warburg, bằng chứng trực tiếp về mối tương quan giữa đường phân và nhiễm toan ngoại bào trong ung thư đã được đưa ra bằng cách kết hợp chụp cộng hưởng từ, thông qua việc ghép nối chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) và chụp cộng hưởng từ chuyển bão hòa trao đổi hóa học (acidoCEST MRI). Những nghiên cứu này đã chứng minh mối tương quan nghịch đảo đáng kể giữa pH khối u ngoại bào và sự hấp thu [18F]FDG.
Tóm lại, ít nhất là ở cấp độ tế bào, insulin liên kết với IR và sự kích hoạt đường phân sau đó có thể là nguyên nhân trực tiếp gây ra tình trạng axit hóa kẽ.

4. Tác động của nhiễm toan lên hoạt động và kháng insulin do nhiễm toan

4.1. Tác động của nhiễm toan lên độ nhạy và giải phóng insulin
PH được biết là làm thay đổi hoạt động của insulin, và tình trạng axit hóa được coi là một cơ chế gây kháng insulin. Bằng cách sử dụng các mô hình in vivo, người ta đã chứng minh rằng điều hòa pH làm thay đổi quá trình tiết insulin cơ bản và do glucose kích thích vì tình trạng tăng đường huyết do tải glucose giảm nhanh hơn ở chuột kiềm so với chuột bình thường. Trước đây, nhiễm toan ceton chuyển hóa được coi là nguyên nhân chính. Điều này là do thực tế là, ở cả bệnh nhân tiểu đường người bị nhiễm toan chuyển hóa và ở các mô hình động vật mắc bệnh tiểu đường, tình trạng kháng insulin và thiếu sự khởi phát quá trình hấp thu glucose và đường phân đi kèm với nồng độ thể ceton tăng trong máu và do các mô hình động vật bị nhiễm toan ceton nặng phát triển tình trạng kháng insulin.
Mối quan hệ nhân quả giữa những thay đổi trong môi trường pH và những thay đổi trong hoạt động của insulin vẫn đang được làm rõ
Ảnh hưởng của nhiễm toan lên độ nhạy và giải phóng insulin. Độ pH ngoại bào thấp có thể ảnh hưởng đến độ nhạy và giải phóng insulin theo nhiều cách khác nhau.
Cuối cùng, ở cấp độ toàn thân, người ta biết rằng tính axit của dịch ngoại bào kích thích giải phóng TGF-β trong các tế bào bình thường, vì trong MSC, trong các tế bào ống lượn gần, hoặc trong nuôi cấy hồi hải mã, so với điều kiện bình thường, nhiễm toan làm tăng gấp bốn lần mức độ biểu hiện của TGF-β hoặc hoạt tính sinh học của TGF-β1 . Đổi lại, việc giải phóng TGF-β toàn thân điều chỉnh sự phát triển của tuyến tụy và cân bằng nội môi của đảo tụy, đồng thời hoạt động như TGF-β ức chế sự nhân lên của các tế bào β . Những dữ liệu này gián tiếp gợi ý rằng việc giải phóng TGF-β toàn thân do axit gây ra có thể làm giảm nồng độ insulin lưu hành, do đó góp phần vào cơ chế ức chế phản hồi của nhiễm toan, cuối cùng dẫn đến kháng insulin.

4.2. Ảnh hưởng của nhiễm toan lên biểu hiện, hoạt hóa và truyền tín hiệu thụ thể insulin
Kháng insulin do axit đã được quan sát thấy ở một số loại tế bào. Một lý do rất đơn giản có thể giải thích cho tác động này là sự giảm liên kết insulin với thụ thể của nó ở nồng độ proton cao. Igarashi và cộng sự đã chứng minh một cách khéo léo rằng ở tế bào mỡ, việc giảm pH ngoại bào có liên quan đến việc giảm tỷ lệ liên kết insulin (lên đến 70%). Trong bộ thí nghiệm này, các tác giả đã chứng minh rằng tác động như vậy chủ yếu là do giảm ái lực liên kết insulin với các vị trí liên kết của nó, mà không ảnh hưởng đến số lượng IR trên mỗi tế bào.
Tỷ lệ liên kết insulin giảm ở pH thấp, so với pH trung tính, cũng đã được chứng minh ở nguyên bào sợi, hồng cầu và nguyên bào cơ. Đặc biệt, ở nguyên bào cơ L6, liên kết insulin với IR bị giảm tới 50% ở pH 6. Do đó, nhiễm toan có khả năng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình hấp thu glucose do insulin kích thích bằng cách can thiệp vào bước đầu tiên của con đường truyền tín hiệu insulin,. Để khẳng định giả thuyết này, bằng cách sử dụng insulin được đánh dấu phóng xạ, các tác giả này cũng chứng minh rằng sự phosphoryl hóa IR giảm là do giảm ái lực liên kết insulin với thụ thể, có tương quan nghịch với mức độ pH. Đáng chú ý, nhiễm toan ngoại bào cũng có thể can thiệp trực tiếp vào tín hiệu protein kinase hoạt hóa mitogen/kinase điều hòa tín hiệu ngoại bào) và hoạt hóa Akt, bất kể sự kích thích insulin .

4.3. Ảnh hưởng của nhiễm toan lên sự biểu hiện của các chất vận chuyển GLUT
Insulin làm tăng dự trữ hoặc sử dụng năng lượng chủ yếu thông qua việc điều hòa sự hấp thu glucose bằng cách kích thích sự biểu hiện của chất vận chuyển GLUT4 trên màng tế bào. Ở những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường tuýp 2, mức độ biểu hiện của GLUT4 trong cơ xương giảm đáng kể, dẫn đến giảm khả năng xử lý glucose.

5. Điều hòa pH nội bào bởi các chất vận chuyển proton/ion và sự tiết insulin
Để tránh kích thích gây tử vong do sự tích tụ proton nội bào quá mức, có thể xuất phát từ việc giảm pH ngoại bào hoặc tăng đường phân, tế bào biểu hiện các chất điều hòa dòng proton khác nhau ở các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào mô gốc Khi các chất vận chuyển này được kích hoạt, pH nội bào (pHi) tăng lên, mặc dù chỉ là tạm thời. Tuy nhiên, việc tiếp xúc lâu dài với lượng proton dư thừa sẽ tạo ra sự gia tăng pHi một cách nghịch lý, dần dần và kéo dài. Một trong những ví dụ phổ biến nhất về sự gia tăng pHi liên tục kết hợp với nhiễm toan ngoại bào mạn tính là ung thư .
Sự gia tăng pHi được biết đến rộng rãi là một yếu tố quan trọng đối với quá trình tiết insulin. Một trong những mô hình được nghiên cứu nhiều nhất trong bối cảnh này là các tế bào β của tuyến tụy. Tải lượng glucose trong các tế bào này, ở nồng độ trên 3–5 mM, gây ra sự khử cực tế bào và sự gia tăng tạm thời pHi (lên đến 6,4–6,8 giá trị) kích thích trực tiếp quá trình tiết insulin

6. Thụ thể Insulin và Cảm biến Toan Ngoại bào
Sự hấp thu glucose và đường phân do insulin kích thích giảm ở pH ngoại bào thấp, trong khi tiết insulin tăng lên khi pHi tăng. Do đó, có thể suy đoán rằng tồn tại các cơ chế đặc hiệu để cảm biến sự thay đổi pH và gradient giữa không gian ngoại bào và nội bào, giải thích cho sự hoạt hóa con đường insulin và hoạt động chuyển hóa. Một số cơ chế cảm biến proton ngoại bào được biểu hiện trên màng tế bào trong nhiều hệ thống sinh học. Sự tồn tại và tính dư thừa rõ ràng của nhiều hệ thống giám sát pH chứng minh cho khái niệm rằng điều hòa axit-bazơ là rất quan trọng đối với cân bằng nội môi của tế bào và mô. Thật vậy, ngoài việc mang nhiều dòng điện do proton kích thích, các kênh ion cảm biến axit này còn đóng vai trò cơ bản trong truyền tín hiệu tế bào và cho phép tế bào chủ phản ứng với những thay đổi lành tính hoặc có hại của môi trường.. Các bằng chứng mới nổi cho thấy nhiều kênh ion và thụ thể nhạy cảm với axit cũng đóng vai trò trong quá trình điều hòa phản hồi do axit gây ra các phản ứng cân bằng nội môi và có thể được biểu hiện từ các tế bào khác ngoài tế bào thần kinh.
Trong khi các kênh ion hướng ion thường cảm nhận độ pH axit mạnh, các GPCR cảm ứng proton cảm nhận độ pH từ 7,6 đến 6,0 và điều hòa nhiều hoạt động sinh học trong môi trường pH trung tính và hơi axit. Liên quan đến ung thư buồng trứng,
.
7. Con đường viêm do thụ thể insulin gây ra và nhiễm toan
Sự axit hóa mô (pH giảm ít nhất 0,5–1,0 đơn vị pH) thường liên quan đến tình trạng viêm.. Ví dụ, việc hạ thấp pH thúc đẩy sự biểu hiện của chất truyền tin mRNA của IL-6 và IL-8, cũng như của NF-κB1, RelA và RelB ngay sau 3 giờ tiếp xúc với nhiễm toan (pH 6,8), và sau 24 giờ, nó thúc đẩy sự biểu hiện protein nội nhân của các thành viên thuộc họ NF-κB và giải phóng các cytokine gây viêm IL-6 và IL-8, cả trong MSC và tế bào tạo xương ở người. Tương tự, các GPCR có thể cảm nhận kích thích axit có thể trung gian cho các phản ứng viêm và các phản ứng liên quan, chẳng hạn như đối với gen 8 liên quan đến chết tế bào T giúp tăng cường sản xuất IL-6, TNF-α và IL-1β ở tim bị nhồi máu của mô hình chuột
Sự kích hoạt các con đường gây viêm do nhiễm toan, đến lượt nó, có thể làm suy yếu quá trình chuyển hóa glucose và gây ra tình trạng kháng insulin toàn thân. Kháng insulin do lipid gây ra đã được chứng minh có liên quan đến tình trạng viêm trong các nghiên cứu dịch tễ học, và bằng các mô hình khác nhau, một số tác giả đã chứng minh rằng việc kích hoạt NF-κB làm giảm sự hấp thu glucose ròng do insulin kích thích.

8. Kết luận nguyên nhân gây ra các loại ung thư do pH axít trong môi trường máu.
Nhiễm toan điều chỉnh độ nhạy và kháng insulin theo nhiều cách khác nhau và phức tạp. Đáng chú ý, thời điểm tiếp xúc với nhiễm toan là một yếu tố quan trọng trong bối cảnh này, vì các tác động cấp tính và mạn tính của nhiễm toan có thể có tác động hoàn toàn trái ngược nhau. Để kiểm soát các bệnh liên quan đến axit, đối với các bệnh liên quan đến kháng insulin, việc giảm lượng axit trong chế độ ăn uống có thể là một giải pháp thay thế khả thi và là một lộ trình phù hợp để cải thiện cân bằng glucose và phòng ngừa bệnh lâu dài. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa chuyển hóa insulin và điều hòa pH là một lĩnh vực nghiên cứu thú vị và hấp dẫn để xác định các phương pháp điều trị mới.

9-Nguyên nhân ung thư tuyến tụy vì tế bào dựa vào môi trường axit để tồn tại
Một nghiên cứu mới được công bố hôm nay trên tạp chí Science đã lần đầu tiên chỉ ra cách độ pH axit trong mô xung quanh tế bào ung thư tuyến tụy kích hoạt những thay đổi trong ty thể của chúng, góp phần làm khối u phát triển nhanh hơn, di căn và kháng thuốc.
Khi khối u rắn phát triển, môi trường của nó có thể ngày càng trở nên axit hơn trong một quá trình được gọi là nhiễm toan. Mặc dù các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra mối liên hệ giữa nhiễm toan và tính hung hãn của khối u trong ung thư tuyến tụy, nhưng người ta vẫn chưa hiểu chính xác nhiễm toan góp phần vào tiên lượng xấu hơn như thế nào, hay liệu nhiễm toan chỉ là triệu chứng của các quá trình tiềm ẩn khác.
Vì ung thư tuyến tụy là một trong những dạng ung thư nguy hiểm nhất, việc hiểu rõ các yếu tố thúc đẩy sự phát triển và tính hung hãn của khối u là điều cần thiết để xác định các phương pháp điều trị hiệu quả hơn. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đã tìm ra chuỗi sự kiện khiến tế bào ung thư tuyến tụy dựa vào môi trường axit để thay đổi quá trình trao đổi chất và trở nên hung hãn hơn.
“Kết quả của chúng tôi cho thấy nhiễm toan không chỉ đơn thuần là sản phẩm phụ của quá trình chuyển hóa khối u, mà còn là một công tắc quan trọng kiểm soát nguồn cung cấp năng lượng và chiến lược sinh tồn của tế bào ung thư”, Tiến sĩ Johannes Zuber, trưởng nhóm nghiên cứu cấp cao tại Viện Nghiên cứu Bệnh học Phân tử (IMP) ở Vienna và là tác giả chính của nghiên cứu, cho biết.
Zuber và các cộng sự đã bắt đầu nghiên cứu cách các tế bào ung thư tuyến tụy thích nghi với các điều kiện bất lợi của môi trường khối u, bao gồm nồng độ oxy, glucose và các chất dinh dưỡng quan trọng thấp hơn bên cạnh tình trạng nhiễm toan.

“Không chỉ việc thiếu oxy hoặc chất dinh dưỡng làm thay đổi quá trình trao đổi chất trong khối u, mà chủ yếu là do tính axit của môi trường khối u”, Tiến sĩ Wilhelm Palm, Trưởng khoa Truyền tín hiệu và Chuyển hóa tế bào tại Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Đức (DKFZ) ở Heidelberg, cho biết.
Thông thường, ty thể trong tế bào ung thư có kích thước nhỏ và bị phân mảnh. Tuy nhiên, tình trạng nhiễm toan được phát hiện là ức chế con đường truyền tín hiệu ERK, yếu tố thúc đẩy quá trình phân mảnh này. Điều này dẫn đến việc các ty thể hợp nhất với nhau để tạo thành mạng lưới rộng lớn có thể sản xuất năng lượng hiệu quả hơn từ nhiều chất dinh dưỡng khác nhau.
Dựa trên những kết quả này, các nhà nghiên cứu tin rằng các biện pháp can thiệp điều trị nhằm giải quyết tình trạng nhiễm toan hoặc ngăn ngừa sự hợp nhất của ty thể có thể làm mất ổn định quá trình trao đổi chất của tế bào ung thư, từ đó làm chậm sự phát triển của chúng trong điều kiện nhiễm toan. Mặc dù ung thư tuyến tụy đặc biệt dễ bị nhiễm toan do tầm quan trọng của độ pH trong cơ quan này, nơi sản xuất dịch tụy có tính kiềm, nhưng chiến lược này có khả năng được mở rộng sang các khối u rắn khác nơi phát hiện nhiễm toan.

B-CÁCH CHỮA KHỎI UNG THƯ LÀ ĐỐI CHỨNG TRỊ LIỆU

Các nhà khoa học đã nghiên cứu và chứng minh nguyên nhân ung thư là do tế bào nhiễm toan, gây ra sự hô hấp của tế bào bị hiếm khí, môi trường máu có pH acid, mất cân bằng glucose và insulin gây ra rối loạn chuyển hóa thức ăn biến thành máu mà biến thành mỡ mà không có máu nuôi tế bào. Phản ứng hóa học và những chức năng chuyển hóa có chiều hướng nhiễm toan từ từ đến các mô tế bào, nên xét nghiệm máu chưa thể phát hiện hay xác định là tế bào bị ung thư.

Nhưng Môn Khí Công Y Đạo dựa vào máy đo áp huyết 2 tay, máy đo đường, súng bắn nhiệt kế, giấy quỳ thử pH nước bọt, và cách tính chức năng chuyển hóa thức ăn của bao tử, chức năng chuyển hóa máu của gan, đã biết được từng giai đoạn ung thư do nguyên nhân gì, thiếu yếu tố gì mà gây ra bệnh ung thư, để phòng ngừa theo từng giai đoạn.

Trường hợp 1. Thử pH nước bọt trước ăn và sau ăn 30 phút.
a-pH nước bọt ngày nào cũng 6.5-7.7 thì không bị ung thư
b-pH nước bọt càng ngày càng giảm dưới 6, là đã có dấu hiệu ung thư, pH 5.5 và thấp hơn là bệnh nhân đang bị ung thư.
Cách chữa :
Thay vì uống baking soda làm tăng pH kiềm, thì chọn ăn những thực phẩm có độ kiềm cao pH 9 hay 10 cho pH máu tăng dần để cân bằng pH máu trong tình trạng nhiễm toan.

Trường hợp 2. Nhịp tim thấp, thân nhiệt lạnh
Khi đo áp huyết 2 tay có nhịp tim thấp 2 tay khác nhau.
a-Nhịp tim đo bên tay phải chỉ tình trạng nhiệt của gan là nóng nếu nhịp tim cao như trên 90 là gan bị viêm sưng nóng nguyên nhân thiếu máu, hay nhịp tim gan dưới 60 là tình trạng gan nhiễm mỡ, máu, mỡ và dịch mật trong gan đặc do lạnh.
b-Nhịp tim đo bên tay trái là lượng thức ăn và chức năng bao tử, nếu có nhịp tim thấp dưới 60 là bao tử hàn, hay thức ăn trong bao tử chứa thức ăn có tính hàn lạnh, thì bao tử không có bóp chuyển hóa thức ăn đặc thành lỏng để đẩy thức ăn xuống ruột, thì thức ăn trong bao tử không tiêu tạo thành bã thức ăn hòn cục sẽ lên men gây ra trào ngược, gọi là chuyển hóa nghịch.
Cách thử bằng máy đo đường huyết, sau khi ăn đo đường huyết ví dụ như 80mg/dl, uống 5 thìa cà phê đường cát vàng, theo lý thuyết khi uống đường thì thử đường phải tăng lên, nhưng sau khi uống, thử đường vẫn là 80mg/dl, nếu có uống thêm đường nữa thì thử lại đường huyết vẫn là 80mg/dl, thì chúng ta phải nghĩ ngay hạ vị của bao tử là cửa nối liền đáy bao tử thông xuống ruột non bị tắc giống như cái phễu bị tắc, đường không xuống ruột vào máu để làm tăng đường huyết, thì tương lai sẽ bị ung thư bao tử.
Ngược lại nhịp tim bên bao tử cao như 120, thay vì nhịp tim cao phải bị sốt, nhưng đo nhiệt tay chân lạnh, đo đường huyết thấp, và uống thêm đường đo đường huyết cũng không tăng, thì bao tử cũng bị nghẹt thức ăn giống như cái phễu bị nghẹt, nhưng bệnh nặng hơn, theo đông y nhịp tim cao trong người nóng, chân tay lạnh là do thiếu máu, thì chúng ta phải nhớ đến thí dụ : có 10 người làm 1 công việc thong thả xong trong 1 giờ, thì nhịp tim của họ hòa hoãn, nhưng nếu lấy bớt trong nhóm của họ ra 5 người, 5 người còn lại bắt buộc cũng phải làm xong trong 1 giờ, thì họ phải làm cho nhanh hơn thì mệt hơn, tim họ đập nhanh hơn, tại sao, vì nhóm họ bị thiếu người, thì trong cơ thể chúng ta cũng vậy, thông thường lượng máu trong người chúng ta có khoảng 6 lít, nhưng vì chúng ta không ăn thức ăn bổ máu, nên lượng máu trong cơ thề thiếu dần chỉ còn 3-4 lít, bị sụt cân, không đủ 6 lít máu tuần hoàn trong hệ thống ống mạch dài hơn 94 ngàn cây số, nên tim phải co bóp cho máu tuần hoàn nhanh hơn mà cũng vẩn không chạy ra đến đầu ngón tay chân.
Cách chữa :
Phải xúc bao tử tống bã thức ăn cũ trong bao tử bằng một trong 2 chất.
a-Nếu áp huyết cao thì dùng Muối đắng Epsom loại uống, cũng có độ pH 7, chứ không phải loại tắm, cho xổ thức ăn trong bao tử và ruột. uống 1 thìa cà phê đầy muối đắng pha với 1 ly 250cc nước ấm nóng cho dễ uống, nó không có mùi, chỉ hơi đắng mà không mặn, uống xong nằm ngang trên đầu giường lăn xuống cuối giường, rối từ cuối giường lăn trở lại đầu giường kể là 1 lần, lăn 10 lần, khi tập bài Lăn Người thì miệng thổi hơi ra bụng mểm để ép đè thức ăn trong bao tử cho thức ăn vỡ nhỏ dần, thức ăn sẽ ói ra khỏi họng hay buồn đi vệ sinh, sau khi ói hay đi vệ sinh xong, đo lại áp huyết và đường có thay đổ áp huyết cao thành thấp, đường huyết thấp thành cao, như vậy chứng tỏ phễu hết bị nghẹt thì thức ăn xuống ruột thì đường uống vào bao tử cũng xuống ruột làm tăng đường huyết là đã thông được hết nghẹt bao tử, sau khi uống muối đắng và tập Lăn Người, nên áp dụng vào sau bữa cơm trưa 1 tiếng, mỗi trưa áp dụng 1 lần cho áp huyết xuống tiêu chuẩn tuổi và chọn loại thức ăn có chỉ số đường huyết GI cao trong thức ăn thiên nhiên để khỏi phải uống đường cát vàng, chỉ cho calo rỗng, và dù có uống đường cao bao nhiêu mà thừa đường không có protein thì sau 1 giờ tuyến tụy xuất insulin vào máu để cân bằng lượng đường trong máu, còn đường dư thừa bị cất vào gan làm tăng mỡ cho gan gây ra bệnh gan nhiễm mỡ, và pH acid là gan nhiễm toan sẽ bị ung thư gan.
b-Nếu áp huyết thấp mà bao tử nghẹt thì uống 1 thìà bột baking soda, cũng có độ pH 7, pha với 5 thìa cà phê đường cát vàng sau khi ăn trưa 1 tiếng, rồi tập bài Lăn Người thổi hơi ra cho bụng xẹp để đè ép thức ăn trong bao tử phân tán nhỏ dần cho dễ trôi xuống ruột để đi vệ sinh, thử lại xem bao tử đã thông chưa thì đo đường huyết sau khi đi vệ sinh thí dụ đường huyết còn 100mg/dl, uống thêm 5 thìa cà phê đường, 5 phút sau đo lại đo đường huyết tăng lên 50mg/dl là 150mg/dl, là đã thông 100%, còn chỉ lên được 110mg/dl thì thức ăn chưa thông hết nên mới còn nước đường trong bao tử bị nghẹt giống như phễu bị nghẹt, nước đường không chảy xuống phễu được, có hiện tượng nôn ói ra nước đường

Trường hợp 3.Thiếu oxy làm mất máu.
Áp huyết tâm thu chỉ khí lực trong cơ thể do thức ăn và hít thở của phổi tạo ra. Khí lực tâm thu cũng phải tùy theo tuổi, trẻ em khí lực yếu thì số tâm thu thấp như 100mmHg, thiếu niên 110mmHg, thanh niên 120mmHg, trung niên 130mmHg, lão niên 140mmHg, cao hơn tiêu chuẩn tuổi là cao áp huyết tâm thu, thấp hơn tiêu chuẩn tuổi là bệnh áp huyết thấp thiếu khí lực oxy.
Những giai đoạn ung thư của người lớn tuổi có áp huyết tâm thu THẬT như sau :Ung thư Giai đoạn 1 : tâm thu 90mmHg
Giai đoạn 2 : tâm thu 85mmHg
Giai đạon 3 : tâm thu 80mmHg
Giai đoạn 4 : tâm thu 75mmHg
Giai đoạn chết : tâm thu 70mmHg
Theo tây y, công thức máu là Fe2O3, gọi là oxyde sắt tam, là công thức máu đỏ cần nhiều Oxy là O3, có nhiều oxy thì tâm thu cao, thiếu oxy thì máu đỏ biến thành máu đen Fe2O2 gọi là oxyde sắt nhị, tâm thu thấp nữa là thiếu oxy thì công thức máu bị phá vỡ, thì bệnh nhân này thiếu máu mà lại thừa sắt Fe2 cũng trở thành ung thư máu.
Sao gọi là áp huyết THẬT, vì nhịp tim của bệnh nhân cho biết nguyên nhân ung thư THẬT hay GIẢ.
Thí dụ áp huyết tay trái là 85/60mmHg nhịp tim 60, đường huyết 80mg/dl sau khi ăn. Thì nguyên nhân do bệnh nhân ăn sai, thức ăn không cung cấp đủ khí, chỉ có là 85mmHg thay vì phải 120mmHg trở lên, lượng thức ăn 60mmHg là ăn lượng thức ăn ít, thay vì phải 75-80mmHg, đường huyết thiếu do kiêng đường không đủ đường huyết 200mg/dl để đủ đường chuyển hóa thức ăn biến thành máu để làm tăng khí oxy, tăng thân nhiệt và làm tăng nhịp tim.
Theo đông y, mỗi loại thực phẩm đều có tính, khí, vị riêng, như tính hàn hay nhiệt hay ôn ấm, khí là khí thăng làm tăng khí hay giáng là làm hạ khí, vị là mặn, ngọt chu, cay đắng để chữa tốt cho kinh tạng nào trong cơ thể.
Cho nên các nhà khoa học mới nói trong con người chúng ta lúc nào cũng có tế bào ung thư, nhưng không biết nó trú ẩn ở đâu, thật ra tùy theo bữa ăn, tế bào đói không đủ 4 chất nuôi tế bào là glucose, protein, lipid, oxy thì tế bào trở thành ung thư chúng ta đo được, thấy được khi cho kết quả là áp huyết thấp có dấu hiệu ung thư, nhưng bữa ăn khác lại cho kết quả tốt, không có dấu hiệu ung thư.

Trường hợp 4.Thiếu máu, áp huyết giả.
Như trên đã nói nhịp tim cao, nhiệt độ chân tay lạnh, mà đường không cao, cũng có thể bị ung thư do thiếu máu, nhưng đo áp huyết cao GIẢ, phải đổi sang áp huyết THẬT mới xác định có phải là ung thư hay không.
Thí dụ áp huyết sau khi ăn đo được là 120/80mmHg nhịp tim 120, nhiệt độ tay chân lạnh, trong người nóng mà ngoài da mặc áo lạnh, đường huyết 100mg/dl, pH 6.
Cách lý luận :
Vì thiếu máu nhịp tim mới cao không phải sốt, chân tay lạnh, nên nhịp tim phải đập nhanh hơn tiêu chuẩn bình thường 80, là đã đập nhanh hơn 40 nhịp làm tâm thu phải tăng lực bơm máu lên 40 số, nên đổi lại nhịp tim thật bình thường 80, thì tâm thu 120 phải trừ đi 40, thì tâm thu thật là 80mmHg là ung thư giai đoạn 3, nhưng chỉ do bữa ăn sai tại thời điểm này, muốn tránh ung thư phải kiêng ăn những thức ăn có pH acid, phải chọn thức ăn có pH 10, chọn những thức ăn làm ấm nóng người, có đường huyết GI cao làm tăng đường tự nhiên bằng thức ăn mà không phải uống đường cát vàng cho calo rỗng, thì sau 1 giờ sẽ bị insulin dẹp vào kho gan thành gan nhiễm mỡ, và thức ăn không đủ pH nước bọt trung tính mà vẫn là pH acid thì gan nhiễm toan, và thừa acid trong bao tử gây trào ngược, loét, và ung thư bao tử.
Lượng thức ăn 80mmHg cũng là giả, đổi sang tâm trương thật thì lấy 80mmHg trừ ½ của nhịp tim nhanh hơn 40 còn 20 thì tâm trương thật 80mmHg trừ 20, tâm trương thật chỉ còn 60mmHg là lượng thức ăn ít không đủ nuôi tế bào.

Trường hợp 5.Thức ăn không chuyển hóa, điều này tây không biết vì không đo áp huyết trước khi ăn và sau khi ăn để so sánh.
Ý niệm về chuyển hóa ví như bánh xe có chuyển động dời chỗ, chúng ta ví như ngồi trên chiếc xe đạp, bàn đạp bên chân trái chúng ta ghi là bao tử, bàn đạp bên chân phải chúng ta ghi là gan, như vậy gan và bao tử, khi chúng ta đạp xe lúc nào cũng một bên cao một bên thấp đối nghịch nhau, Có nghĩa bên gan cao thì bên bao tử thấp
Khi đạp 1 vòng bánh xe lăn thay đổi chỗ được 3 thước, khi chân trái thấp ví như trước khi ăn là đói thì áp huyết tâm thu bên tay trái thấp, bao tử nhẹ, ví nhu đo tâm thu được 120mmHg, khi chúng ta biết đói thì gan phải làm việc trước tiết dịch mật tiêu hóa sang bao tử khiến chúng ta xót bụng muốn ăn, thì áp huyết tâm thu bên gan phải cao hơn bên bao tử 10 số như 130mmHg, khi chúng ta ăn thức ăn đầy bao tử thì thể tích bao tử và trọng lượng bao tử tăng, thì áp huyết tâm thu tăng lên 10 số thì áp huyết tâm thu tay trái tăng lên như 130mmHg, thì tâm thu bên gan xuống 10 số là 120mmHg.
Như vậy chuyển hóa của bao tử khi đói 120mmHg, khi no 130mmHg là chức năng chuyển hóa của bao tử thuận 100%. Chức năng chuyển hóa của gan khi đói 130mmHg khi no 120mmHg cũng chuyển hóa thuận 100%.
.
a-Một thí dụ về chuyển hóa của bao tử.
Ví bao tử giống như một máy xay gạo đã ngâm nước, ví như thức ăn đã nấu chín, bỏ 5 kg vào máy, có công suất của máy là muốn xay 1 kí gạo thành 1 kí bột, cứ mỗi kí máy cần năng lượng cho máy chạy là 1 lít xăng, ví như lượng đường trong máu 200mg/dl, nếu chúng ta có đủ 5 lít xăng hay đường huyết đủ 200mg/dl, thì máy xay ra hết gạo thành 5 kí bột, nhưng nếu đường huyết thiếu ví như thiếu xăng cho máy, chỉ có 3 lít xăng thì chỉ cho ra 3kg bột, thì gọi là máy chuyển hóa được 60%, gạo đã ngâm nước còn bị kẹt lại trong máy sẽ nở ra lên men chua, có nghĩa bao tử thừa acid, và nếu đến bữa ăn sau, bao tử chỉ chứa được 40% lượng thức ăn mới đã đầy, và đường vẫn thiếu, như vẫn thiếu xăng chạy máy để chuyển hóa, thì máy chỉ xay đẩy tiếp thức ăn cũ trong máy ra là bột đã chua thiu thối gây độc hại trong máu, nên bị đào thải thành phân hôi thối gây ra bệnh.
Cách chữa :
Phải xúc bao tử giống như xúc máy, không ăn thêm mà cần nhiều xăng cho máy chạy tống hết gạo cũ trong máy, tùy theo áp huyết cao thì xổ bằng muối đắng Epsom, áp huyết thấp thì xổ bằng baking soda như trên

b-Một thí dụ chuyển hóa của chức năng gan.
Chức năng gan chứa lượng máu mỡ và đường dự trữ glycogen nhiều thì gan to, thì tâm thu trước khi ăn thì cao như 130mmHg, gan sẽ chuyển dịch mật tiêu hóa, năng lượng đường sang cho bao tử chuyển hóa thức ăn, thì thể tích gan xẹp, tâm thu thấp xuống còn 120mmHg, đó là chuyển hóa thuận 100%.
Nhưng nếu trước khi ăn tâm thu gan 130mg/dl, sau ăn tâm thu xuống 1 hay 2 hay 3 số như 129mmHg, hay 128mmHg, hay 127mmHg thì chỉ chuyển hóa dịch tiêu hóa và đường sang cho bao tử, được 10% hay 20% hay 30%
Nhưng khác nhau ở chỗ bên bao tử trong thức ăn cũng có đường, nên thức ăn vẫn chuyển hóa hết thức ăn 100%.thì bao tử tốt không có vấn đề về bệnh bao tử, nhưng gan có vấn đề về bệnh của gan, vì gan chỉ thu nhận chất bổ của thức ăn có 30%, 70% còn lại gan không tiếp nhận thì biến thành mỡ bụng

Trường hợp 6.Bệnh của gan.
a-Chức năng gan không chuyển hóa
Gọi là chai gan, có 2 loại chai gan sưng gan, và chai gan teo gan.
-Lúc nào áp huyết cũng cao giống nhau không thay đổi như 145mmHg trước ăn và sau ăn, gọi là chai gan sưng gan, mất cả chức năng năng hấp thụ thức ăn thành máu.
-Lúc nào cũng thấp giống nhau như 100mmHg trước ăn sau ăn, thể tích gan nhỏ thì chứa máu ít, không cung cấp đủ máu cho tim tuần hoàn gây ra suy tim, thiếu máu cơ tim cục bộ, khiến cơ tim co bóp nhanh để kéo máu về tim nhưng không đủ nên hỏng van tim là hẹp van tim hay hở van tim, mất nhịp tim.

Trường hợp 7. Bệnh của túi mật.
Mật là một chất lỏng quan trọng do gan sản xuất và được lưu trữ trong túi mật, giúp nó đảm nhiệm các chức năng trong quá trình tiêu hóa. thành phần của mật:
• Nước: Chiếm khoảng 85-90% khối lượng mật, đóng vai trò là dung môi cho các thành phần khác.
• Muối mật: Các muối natri và kali của axit mật như acid cholic và acid chenodeoxycholic. Đây là thành phần chính giúp nhũ tương hóa chất béo, phá vỡ chúng thành các giọt nhỏ để dễ dàng tiêu hóa và hấp thu.
• Cholesterol: Một thành phần quan trọng, đóng vai trò như tiền chất để tổng hợp muối mật.
• Sắc tố mật (bilirubin): Là sản phẩm phân hủy từ hồng cầu già, giúp tạo màu đặc trưng của mật.
• Lecithin và các phospholipid khác: Đóng vai trò hỗ trợ nhũ tương hóa chất béo, tạo môi trường ổn định cho lipid trong dịch tiêu hóa.
• Các chất điện giải: Như natri, kali, canxi, giúp duy trì tính ổn định của môi trường hóa học trong mật.
Dịch mật đóng vai trò chính trong việc phân giải chất béo lipid và hỗ trợ hấp thu các chất bổ máu thành máu vàvitamin tan trong dầu như A, D, E và K.làm tăng lượng máu trong gan chúng ta thấy được qua số đo áp huyết tâm trương trước khi ăn và sau khi ăn khác nhau. Thí dụ trước khi ăn tâm trương 70mmHg, sau khi ăn tâm trương tăng lên 72mmHg, số máu này cung cấp máu cho tim tuần hoàn, rồi bị đào thải qua thận lọc máu loại bỏ tế bào hồng cầu già chết chỉ thu lại sắc tố mật nên khi đói tâm trương lại xuống thấp, sau khi ăn thức ăn bổ máu số đo tâm trương lại cao. Như vập chức năng gan vừa giúp tiêu hóa, nhưng cũng vừa có chức năng hấp thụ chất bổ máu.
Trường hợp tắc túi mật, chúng ta cũng thấy được là đo áp huyết hai tay có 2 nhịp tim chênh lệch nhau, như nhịp tim bên bao tử bình thường từ 70-80, nhưng nhịp tim bên gan lúc nào cũng 55-60 theo đông y là nhịp tim chỉ gan bị hàn lạnh thì túi mật hay mỡ hay máu trong gan bị đặc lại, túi mật đóng đông thành cục, tây y hiểu lầm là ung thư túi mật. Thí dụ như nữ bệnh nhân này đi khám tây y kết luận ung thư túi mật, khi đo áp huyết 2 tay , đường huyết, nhiệt độ, pH có kết quả như sau :Ngày 16 tháng 10 năm 2025, khi bụng đói, AH tay trái 101/71mmHg 51, tay phải 100/71mmHg 57, nhiệt độ trán 36.8 độ C, nhiệt độ đầu ngón tay út 36,8 độ C,đường huyết 100mg/dl, pH 7.
Nguyên nhân thiếu đường chỉ có 100mg/dl thì trong người lạnh, nhịp tim thấp có và 57 thì các chất lỏng trong gan bị đông đặc, nhưng pH 7 là kiềm tế bào ung thư sẽ bị chết trong môi trường kiềm, như vậy túi mật đặc thành cục không phải là ung thư, nhưng bệnh nhân này có nhịp tim bên bao tử thấp 51 cũng là bao tử hàn, thiếu đường bao tử không co bóp, hậu quả thức ăn cũng không thể chuyển hóa, và chức năng bên gan cũng không giúp cho tiêu hóa tốt vì không tiết dịch tiêu hóa sang bao tử, và cũng không hấp thụ được chất bổ thành máu, tiên lượng xấu hiện tại gan không chuyển hóa cung cấp máu cho tim tuần hoàn tim sẽ thiếu máu cơ tim cục bộ, suy tim, khó thở, đau tức tim ngực.
Cách chữa :
Uống 10 thìa cà phê đường cát vàng, chườm nóng bao tử và gan 30 phút, rồi tập bài Lăn Người 10 phút, rồi đo lại áp huyết và đường xem có tăng nhịp tim và tăng đường huyết không, có tăng là có dấu hiệu chuyển hóa, rồi chọn những thức ăn vừa bổ máu vừa có chỉ số đường huyết GI cao trong thực phẩm, để sau khi ăn có đường huyết cao mà không cần uống đường, rồi tối trước khi đi ngủ xổ độc máu mỡ trong gan bằng Phan Tả Diệp bằng lá mua ở tiệm thuốc bắc, dùng 2 thìa canh lá Phan tả diệp pha vào 1 ly nước nóng như hãm trà, hay mua túi trà Phan tả Diệp trong chợ Á Đông tên là Slim-Tea gọi là trà tiêu mỡ, hay mua ở tiêm thuốc tây Phan tả Diệp được nén thành viên mang tên thuốc là Senna Laxative uống 5 viên để xổ độc, cỏn theo toa ghi 2-3 viên chỉ có công dụng nhuận tràng, khi ngủ nằm nghiêng bên phải cho gan làm việc, đến sáng sau 10 tiếng sẽ đi vệ sinh 2-3 lần, phân ra mầu xanh và mầu đen là chất dộc trong gan theo phân ra ngoài, áp dụng 2-3 tối cho đến khi ra phân vàng thành khuôn, và đo lại áp huyết và nhịp tim có thay đổi là có sự chuyển hóa, thì túi mật đặc sẽ hóa lỏng, ấn đè tay vào vùng gan mật dưới sườn phải thấy hết đau tức, hết thấy cục cứng, dễ thở, hết đau tức nhói tim ngực là thành công.

Trường hợp 8.Nguyên nhân chuyển hóa nghịch.
Nguyên nhân chuyển hóa nghịch lúc nào cũng là do thiếu đường do từ cách chọn thức ăn, vì sợ đường huyết cao hơn tiêu chuẩn của bác sĩ, nên chọn thức ăn không có đường, gây ra tất cả các bệnh của các cơ quan nội tạng và ung thư thì thủ phạm giết người âm thầm một cách vô hình chính là tây y hạ thấp tiêu chuẩn đường huyết trong giới hạn 70-100mhg/dl mà không có tiêu chuẩn no sau khi ăn, làm cho mọi người thiếu năn lượng calo để hoạt động, vì mỗi bữa ăn chỉ cho phép đường huyết tối đa 100mg/dl thì chuyển đổi ra năng lượng calo chỉ có 334 calo, một ngày ăm 3 bữa chỉ có khoảng 1000 calo, trong khi tiêu chuẩn bình thường của người khỏe mạnh cần 2000 calo mỗi ngày mới có sức khỏe. Như vậy tiêu chuẩn đường huyết thấp là sai, chính là thủ phạm âm thầm gây hại sức khỏe cho mọi người.
Khi bao tử chuyển hóa nghịch là trước khi ăn thay vì bao tử nhẹ, thì tâm thu thấp ví dụ 120mmHg, sau khi ăn bao tử nặng thì tâm thu 130mmHg, nhưng chuyển hóa nghịch là trước khi ăm tâm thu cao 130mmHg, sau khi ăn tâm thu thấp 120mmHg, thì bữa ăn này gây ra bệnh trào ngược, bệnh bao tử, bệnh tụy tạng, bệnh phổi, bệnh thận, bệnh thiếu máu
Khi gan chuyển hóa nghịch, thì gan không hấp thụ, rối loạn chuyển hóa máu, mỡ, xơ gan, viêm gan, ung thư gan…
Khi áp huyết cả hai tay chuyển hóa nghịch dẫn đến ung thư
Khi chỉ có 1 trong 2 tay có áp huyết chuyển hóa nghịch thì chỉ chữa một bên, bên gan xúc gan tẩy độc máu mỡ bằng Phan tả Diệp, bên bao tử xổ bằng Muối đáng khi áp huyết cao, bằng baking soda pha đường khi áp huyết thấp.

Trường hợp 9, Áp huyết chết không chuyển hóa
Những ai có áp huyết chết, sẽ bị chết bất đắc kỳ tử vì cơ thể suy nhược, suy dinh dưỡng vì không hấp thụ và chuyển hóa.
Trường hợp này tây y cũng tìm không ra bệnh vì thấy áp huyết 2 tay đều tốt theo kiểu tây y.
Như tay trái tay phải giống nhau, đều tốt trước ăn sau ăn. Như trước ăn sau ăn tay trái, tay phải giống nhau như của một bệnh nhân đến phòng mạch của tôi, đo được 125/70mmHg 75, tay trái 125/ 68mmHg 72 bác sĩ khám nói áp huyết của anh tốt quá. Khi anh đến tôi nhờ khám lại, tôi hỏi anh bác sĩ nói áp huyết của anh tốt sao anh lại phải đi khám, anh trả lời vì tôi bị mệt tim, khó thở, ăn không tiêu, người cứ gầy dần hốc hác, xét nghiệm máu chụp phổi, tim đều tốt. Tôi hỏi anh là anh muốn tôi nói thật không về nguyên nhân bệnh của anh không. Và tôi nói anh đang có áp huyết chết là cơ thể không chuyển hóa thức ăn và hấp thụ thức ăn, anh nên vào khoa cấp cứu nhà thương ngay, anh nghe tôi vào nhà thương cũng tìm không ra bệnh sau 1 tuần thì anh ngủ yên trong giấc ngủ ngàn thu.

Trường hợp 10. Chuyển hóa đồng bộ giống nhau.
Đừng lầm áp huyết chết và áp huyết 2 tay chuyển hóa đồng bộ giống nhau. Vì mỗi bữa ăn cách nhau 4 tiếng giống như một đoạn đường từ A đến B, hai người đi ngược chiều, gặp nhau ở đoạn giữa sau 2 tiếng,
Như khi no áp huyết tâm thu bao tử cao 130mmHg, ví như người ở đầu A đi xuống đầu B thì áp huyết giảm dần. Còn áp huyết tâm thu bên gan đói 120mmHg ở đầu B đi lên A tăng dần, sau 2 tiếng thì áp huyết bên bao tử xuống còn 125mmHg thì áp huyết bên gan sau 2 tiếng cũng tăng dần lên 125mmHg.
Khác với áp huyết chết là 2 tay trước ăn và sau ăn đều giống nhau không thay dổi.

Cho nên khi chúng ta đo áp huyết của người khỏe mạnh không bệnh mà có số đo 2 tay giống nhau, thì hỏi có phải anh đã ăn được sau 2 tiếng đồng hồ không.
Nếu sau 2 tiếng không đồng bộ giống nhau mà có chênh lệch cao hơn hay thấp hơn là có dấu hiệu chuyển hóa kém do gan hay do bao tử, do nguyên nhân gì thì nhìn vào đường huyết, nhịp tim, nhiệt độ và pH nước bọt, đó là những nguyên nhân gây bệnh, nhờ 4 máy này mà chúng ta có thể khám phá ra nguyên nhân bệnh.

Kết luận:
Nguyên nhân gây ra các bệnh đều thấy được qua nhịp tim và thiếu đường do đường huyết thấp sau khi ăn, mọi người kiêng sợ bệnh tiểu đường, sợ đường huyết cao hơn tiêu chuẩn giới hạn của các bác sĩ.
Vậy tiêu chuẩn đường huyết của bác sĩ hiện nay là đúng hay sai, thì chúng ta phải biết nhu cầu cần đường huyết của mỗi chúng ta khác nhau mà chúng ta có thể tìm ra được.
Thí dụ mọi người đo đường huyết trước khi ngủ, thí dụ 10 giờ bắt đầu ngủ, có người đo đường huyết trước khi ngủ là 100mg/dl, có người 150mg/dl, có người 200mg/dl, sau khi ngủ 7 tiếng, thì khi ngủ dậy đo đường huyết còn bao nhiêu.
Kết quả người có đường huyết 200mg/dl thì sau 7 tiếng ngủ đường huyết còn 130mg/dl, có nghĩa mỗi giờ ngủ có nghĩa cơ thể không làm gì thì tại sao đường mất đi đâu, không cần thiền, chúng ta cũng biết tim vẫn làm việc, phổi vẫn thở, thì 2 cơ quan này trong 7 tiếng ngủ đã lấy mất di 70mg/dl, có nghĩa cơ thể không làm gì cả mà phổi và tim trong 24 giờ một ngày đã mất 240mg/dl.
Người có đường huyết 150mg/dl, như ngủ ngáy to thở mạnh, sáng đo dđường huyết còn 60mg/dl, như vậy 7 tiếng mất 90mg/dl,
Như vậy không cần phải nói kết quả của người có đường huyết thấp trước khi ngủ 100mg/dl, trung bình mỗi giờ ít nhất mất 10mg/dl, trước khi ngủ đường 100mg/dl, đường dưới tiêu chuẩn của bác sĩ 70mg/dl sẽ bị hôn mê, thì người này mới ngủ có 3 tiếng đã hôn mê vì dưới 70mg/dl, và đường huyết tiếp tục tụt thấp theo từng giờ sáng sáng đã ngủ một giấc ngũ dài cuối cùng trong đờ để bước qua thế giới của thân trung ấm.
Như vậy đường huyết theo tiêu chuẩn của các bác sĩ hiện nay đang áp dụng là đúng hay sai ?

Phần này là tìm nguyên nhân bị bệnh do yếu tố nào rất rõ ràng, thì cách chữa cũng rất rõ ràng, thiếu yếu tố gì phải bổ sung yếu tố ấy. Chúng ta sẽ nghiên cứu và chọn lựa những thức ăn phù hợp với nhu cầu ở bài sau là bài chữa bệnh bằng thức ăn thay thuốc, đựợc kiểm chứng qua máy đo áp huyết, nhịp tim, đường huyết, nhiệt độ và pH nước bọt, trước khi ăn và sau khi ăn.
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 2 Tháng 12 22, 2025 7:13 pm

PHẦN 22-
CÔNG DỤNG BA LOẠI PH KIỀM KHÁC NHAU
ĐỂ CHỮA CÁC BỆNH UNG THƯ

-
I-Tây y xác định ung thư bằng cách dùng giấy quỳ thử pH nước bọt
Compared with the reference chart a liver score of 7 is considered good. Is there any medication or supplement that should be taken ?
If testing before and after use shows the result shifting toward green, this indicates improvement.
If the result shifts toward yellow or pink, it may suggest the medication is not beneficial and could promote cancer cell growth.
So với bảng tham chiếu, chỉ số gần mức 7 được xem là tốt. Để xem có thuốc nào hay thực phần nào nên dùng được.
Nếu dùng giấy quỳ thử nước bọt trước và sau khi ăn hay sau khi uống thuốc mà thử pH nước bọt, giấy quỳ chuyển sang mầu xanh là pH kiềm thì được xem là cải thiện, thức ăn thuốc uống đó làm giảm tế bào ung thư,
Ngược lại, nếu kết quả chuyển sang mầu vàng đậm hay hồng là ph acid, thì không có lợi, có khả năng thúc đẩy cho tế bào ung thư phái triển, vì tế bào ung thư phát triển mạnh trong môi trường máu acid, còn trong môi trường kiềm tế bào ung thư không phát triển mà bị tiêu diệt.
Cách thử pH nước bọt bằng giấy quỳ :
Không được uống nước xúc miệng trước sẽ cho kết quả sai. Có 2 cách thử ;
a-Xé ½ miếng giấy quỳ bỏ vào trong miệng lấy lưỡi ngậm thấm ướt giấy quỳ trong 20 giây hay 20 tiếng đếm, rồi lấy ra xem giấy quỳ ngả mầu gì, ngả màu xanh là pH kiềm là tốt, ngả mầu vàng là pH acid là môi trường thuận lợi cho tế bào ung thư phát triển, vàng đậm pH 5 là ung thư giai đoạn 2-3 , mầu hồng pH 4, là ung thư giai đoạn nặng di căn.
b-Nhổ nước bọt ra giấy rồi ngâm giấy quỳ vào chờ cho giấy qùy ngả màu gì.
Có những người chụp CT trong cơ thể có khối u, nhưng không phải cứ khối u là ung thư, vì có khối u mà thử pH nước bọt luôn là 6.5-7 thì là khối u lành tính không phải ung thư.
II-Định nghĩa ung thư của đông y và cách chữa :
Khi có mụn nhọt sưng to mưng mủ, đông y gọi là ung, nhưng ở ngoài da thì gọi là ung nhọt, ở sâu trong cơ thể không thấy được thì gọi là ung thư, nghĩa là khối u sưng có máu mủ bên trong, còn khối u mỡ không đau thử pH nước bọt là kiềm thì không phải ung thư, mà là bướu lành.
Đông y bắt mạch để xác nhận tình trạng sức khỏe của một người là đo khí lực, đo huyết lực, đo tốc độ mạch đập, nay đổi sang cách bắt mạch bằng máy đo áp huyết sẽ cho ra con số cụ thể chính xác hơn.
a-Số thứ nhất gọi là tâm thu là khí lực, là tổng số lượng oxy do phổi hít thở vào cơ thể tạo ra lực đẩy máu tuần hoàn đủ theo tiêu chuẩn tuổi là tốt, hay thừa tây y gọi là áp huyết cao, đông y y gọi là khí thực, nếu thiếu theo tiêu chuẩn tuổi tây y gọi là tụt áp huyết, đông y gọi là khí hư thiếu, đo bằng oxy-mét SpO2 sẽ chỉ dưới 90.
b-Số thứ hai tâm trương gọi là huyết lực, do thức ăn tạo nên xem có đủ lượng thức ăm và chất bổ máu tạo thành máu hay không, lượng thức ăn là số tâm trương đo bên tay trái, lượng máu là tâm trương bên tay phải. Có khi ăn nhiều no đầy bụng như ăn bún tâm trương tay trái sẽ cao như 90mmHg, nhưng bún không sinh ra máu thì tâm trương tay phải đo lượng máu trong gan không tăng lại giảm thấp.
c-Số thứ ba nhịp tim là tốc dộ bơm máu hòa hoãn không nhanh không chậm từ 70-80 là người khỏe, nếu tốc độ bơm máu chậm dưới 70 là hàn cơ thể lạnh, cao hơn 80 là cơ thể nóng, điều này cũng đúng khi chúng ta chạy nhanh thì nhịp tim tăng người nóng, hay khi nhiễm cảm cúm nhịp tim cao 120 tây y gọi là sốt nhiễm trùng.
Như vậy đông y bắt mạch quy về 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần, xếp theo kết quả cuả máy đo áp huyết thì tâm thu là Khí/tâm trương là Tinh, là thức ăn tạo máu/Thần là thần sắc do nhịp tim. Nhịp tim cao là sốt mặt đỏ, nhịp tim thấp mặt xanh xao trắng bệch, còn nhịp tim trong tiêu chuẩn 70-80 sắc mặt hồng hào,
Như vậy đông y bắt mạch bằng máy đo áp huyết đo Khí/Tinh/Thần thì người khỏe mạnh không bị bệnh tật thì khí đù trong tiêu chuẩn tuổi/ huyết đủ trong tiêu chuẩn tuổi, thần đủ trong tiêu chuẩn tuổi.
Do đó theo kinh nghiệm của Khí Công Y Đạo tìm ra tiêu chuẩn Khí/Tinh/Thần của từng hạng tuổi như dưới đây :

Nếu cao hơn hạng tuổi 10mmHg là bệnh thực cấp độ 1, cao hơn 20mmHg là bệnh thực cấp 2.
Thí dụ tuổi thiếu nhi khí lực tốt 95-100mmHg nếu cao hơn 10mmHg là 110mHg là cao áp huyết khiến trẻ năng động, thường chảy máu cam khi trời nóng hay khi chạy nhảy .
Ngược lại người tuổi trung niên 120-130mmHg mà bị cao hơn như tuổi lão niên 10mmHg như 140mmHg là bệnh khí thực là cao áp huyết cấp độ 1, cao hơm 20 số như 150mmHg là bệnh khí thực cao áp uyết cấp độ 2 là bị đứt mạch máu não gây tai biến.
Ngược lại khí lực thấp bằng tuổi thiếu nhi gọi là khí hư là cơ thể thíếu oxy để duy trì công thức máu Fe2O3, người xanh xao, yếu sức là đang trong giai đoạn ung thư giai đoạn 1, nếu khí lực càng thấp là ung thư giai đoạn 2, 3, 4 đến khi tâm thu dưới 75mmHg sẽ bị chết bất cứ lúc nào.
Như vậy nhìn số đo áp huyết nhìn tâm thu biết bệnh khí thực, khí hư, nhìn tâm trương biêt huyết thực, huyệt hư, nhìn vào nhịp tim biết hàn hay nhiệt, thì chúng ta lại biết các tình trạng bệnh khác nhau như :
Khí thực, khí thực hàn, khí thực nhiệt
Khí hư, khí hư hàn, khí hư nhiệt
Khí thực huyết hư, khí thực huyết hư hàn. Khí thực huyết hư nhiệt,
Khí hư, huyết thực, khí hư huyết thực hàn, khí hư huyết thực nhiệt
Khí huyết đều thưc, khí huyết đều thưc hàn, khí huyết đều thực nhiệt
Huyết hự, huyết hư hàn, huyết thực hàn, huyết thực nhiệt….
Tuy nhiên các sự thay đổi này không cố định, vì tùy theo thức ăn sai hay đúng mà thay đổi mỗi ngày, chứ không có bệnh cố định như tây y.
Thí dụ chúng ta bị bệnh cao áp huyết, thay vì uống thuốc suốt đời thì từ bệnh thực áp huyết 160mmHg xuống dần theo thời gian 5-10 năm áp huyết xuống bằng thiếu nhi thì trở thành bệnh khí hư, thì tế bào thiếu oxy duy trì lượng máu hồng cầu, trở thành máu đen là đi vào tiến trình ung thư giai giai đoạn 1, nếu không ung thư thì suy dinh dưỡng mà hư hàn chân tay lạnh co quắp gây tai biến bại xuội, còn ăn không được không có thức ăn tạo máu sẽ thiếu máu cơ tim cục bộ, đột quỵ tử vong
Cách chữa của đông y là chữa bằng thức ăn, tây y gọi là dinh dưỡng, nên đông y đã có kinh nghiệm phân loại thức ăn theo tính-khí-vị, có loại thực phẩm làm tăng khí để tăng áp huyết, làm hạ khí để làm hạ áp huyết.
Ngày nay đông tây y cũng đang phân tích các loại thức ăn dùng để chữa bệnh thay thuốc, thí dụ như thực phẩn giầu kali làm hạ áp huyết.
Như vậy tính của thức ăn là hàn hay nhiệt, làm thay đổi nhịp tim thấp hay cao. Khi cơ thể hàn nhịp tim thấp thì chọn thức ăn có tính nhiệt, ngược lại cơ thể nhiệt chọn thức ăn có tính hàn.
Khí của thức ăn làm tăng khí hay giảm khí. Thí dụ người có áp huyết cao thì chọn thức ăn làm hạ khí như bí đao làm hạ áp huyết, còn nếu áp huyết thấp thì chọn thức ăn chứa nhiều natri hay ăn nhiều muối sẽ làm tăng áp huyết..
Còn vị của thức ăn đông y phân loại được 5 vị : mặn, ngọt, chua, cay , đắng của thức ăn phù hợp với 5 vị của tạng, nhu tạng tim cần đắng, tỳ cần ngọt, phế cần cay, thận cần mặn, gan cần chua, và cách chữa của đông y là đối chứng, thiếu thì bổ bù vào cho đủ, thừa thì tả bỏ bớt đi.
Thí dụ tim có bệnh hư yếu, nó cần chất đắng phải bổ chất đắng bù vào cho tim khỏe thì uống cà phê có chất đắng nhiệt làm cho tim khỏe. Nhưng nếu tim có bệnh thực người nóng khó ngủ, thì chọn chất đắng hàn như tim sen làm mát tim.
Các tạng khác cũng vậy, gan hư hay thực cũng cần chất chua, cũng phân làm 2 loại chất chua làm tăng khí, chất chua làm hạ khí.
Mặn vào thận cần muối, cũng có 2 loại muối để chữa thận hư hay thận thực
Cay vào phổi cần ớt làm phổi xuất mồ hôi ra da, hay phổi lạnh cần cay làm ắm phổi giữ khí là gừng.
Có loại thức ăn có 1 vị chữa 1 tạng , có 2 loại chữa 2 tạng, có loại 5 vị là ngũ vị khi nếm vào lười vừa có ngọt, vó hơi mặn, hơi chua, hơi cay, hơi đắng là điều chỉnh cả 5 tạng.
d-Tại sao bệnh áp huyết khó chữa do mình si mê cố chấp mình đang có bệnh áp huyết cao phải chọn thức ăn giầu kali làm hạ áp huyết nó cũng hạ áp huyết, lại uống thuốc hạ áp huyết lại làm hạ áp huyết 2 lần, nhưng rồi lại ăn thức ăn như nhãn xoài, sầu riêng, uống coca làm tăng áp huyết quá cao nên vẫn bị tai biến, hay ngược lại áp huyết thấp thì tây y không có thuốc chữa, thay vì mình phải chọn thức ăn tăng khì, người nóng thì lại chọn thức ăn hàn, người lạnh, Thay vì phải tăng thức ăn nhiệt, lại không biết cách ăn uống nên cứ ăn thức ăn hàn nhịp tim thấp tốc độ bơm máu chậm máu đặc không vào tim gây ra đột quỵ, tủ vong hay ung thư do áp huyết thấp thiếu khí, thiếu máu, thiếu đường.
Như vậy phương pháp chữa bệnh của đông y gọi là đối chứng trị liệu, như hư chứng thì bổ, chọn thúc ăn tăng khí tăng huyết tăng nhiệt ,thực chứng thì tả là giảm khí, giảm huyết, giảm nhiệt.
Hiện nay ngành dinh dưỡng của tây y cũng đang phát triển, phân tích thực phẩm nào làm tăng áp huyết, thực phẩn nào làm hạ áp huyết, thực phẩm nào bổ máu, thực phẩm nào tốt cho tiêu hóa, cho bao tử, cho tuyến tụy, cho phổi, cho ruột già, cho thận cho bàng quang, cho gan, cho tim, cho mạch , cho hệ tuần hoàn, hệ hô hấp, hệ bài tiết…nhưng còn rời rạc chưa hệ thống hóa và chưa đồng thuận vì còn va chạm quyền lợi kinh tế, nên càng ngày đi xa lý thuyết đạo đức ban đầu của ngành y.
III-Nguyên nhân bệnh theo lý thuyết tây y.
1-Lý thuyết của tây y là sự sống của tế bào.
Tây y đã tìm ra sự sống con người nhờ hơn 40 ngàn tỷ tế bào hợp thành, nếu chúng khỏe mạnh thì con người khỏe mạnh, giống như dân số trong một nước, những người này đều có nhiệm vụ khác nhau, người thì thuộc nông nghiệp, người thì thuộc kinh tế, người thuôc văn hóa, người thuộc công chánh, người thuộc giao thông, người thuộc điện lực… mặc đồng phục khác nhau, giống như các tế bào trong người cũng có nhiệm vụ như tế bào não, tế bào thần kinh, tim, tế bào bao tử, tế bào phổi, ruột, thận, bàng quang, gan mật, xương da, râu tóc…, con người ở cơ quan nào cùng cần phải sống bằng thức ăn phải đủ 5 vị mặn, ngọt, chua, cay, đắng, giống như tế bào cũng cần ăn để khỏe mạnh cũng cần phải có đủ 4 chất đường, đạm, béo, oxy,
Tỷ lệ glucose+protein+lipid+oxy khác nhau tùy theo chức năng của tế bào, nhưng bắt buộc phải đủ 4 chất tế bào khỏe mạnh thì cả cơ thể chúng ta khỏe mạnh.
Tại sao phải có đủ 4 chất thì tây y giải thích glucose phối hợp với protein tạo thành máu nuôi bắp thịt, tạo ra nhân tế bào, glucose phối hợp với lipid chất béo tạo ra da, mỡ, gân, xương, sụn và vỏ bọc tế bào, protein+lipid là năng lượng dự trữ, oxy duy trì công thức máu thuộc dinh dưỡng, và hệ phòng chống bệnh… tế bào thiếu 1 trong 4 chất thì tế bào sẽ bị bệnh.
Tây y cũng giải thích Glucose là đường để chuyển hóa thức ăn protein, lipid thành máu, trong thức ăn cũng có loại chứa đường, trong cơm gạo có đường, vì đường là năng lượng chính của cơ thể để chuyển hóa mọi thứ, giống như xăng, bao tử ví như một máy xay thức ăn, đổ gạo xay ra bột thì máy cũng phải cần xăng chạy máy, theo tỷ lệ công suất của từng loại máy, thì dụ muốn xay 5 kg gạo ra 5 kg bột máy cần 5 lít xăng mà chỉ đổ có 2 lít xăng thì máy cho ra 2 kg bột, còn 3 kg gạo còn kẹt lại trong máy, trong khi người ngồi đợi máy cho ra 5 kg thức ăn thì chỉ cho ra 2 kg mà 5 người ăn thì không đủ sức khỏe để làm việc, máy còn tồn động 3 kg gạo cũ trong máy sẽ lên men hư hỏng, nếu 5 người khác lại đổ 5kg gạo vào xay tiếp thì máy chỉ nhận 2 kg là đầy, nếu đổ 5 lít xăng thì máy xay ra hết 5 kg bột nhưng trong đó có 3 kg bột của gạo cũ đã chua hư thối làm cho cả 5 kg bôt không ăn được, ăn vào sẽ bị bệnh, còn vẫn đổ thiếu xăng thì máy chỉ xay ra 2-3 kg gạo cũ, 5 người chờ thức ăn trong máy ra để ăn thì thức ăn hư không ăn được, họ bị đói cơ thể yếu sẽ sinh bệnh.
2-Cần bao nhiêu đường để chuyển hóa thức ăn trong mỗi bữa ăn
Việc chuyển hóa xay gạo ra bột trong máy, giống như việc chuyển hóa thức ăn trong bao tử tạo thành thức ăn cho tế bào, làm sao biết lượng đường chuyển hóa thức ăn đủ hay thiếu thì chỉ cần đo áp huyết trước khi ăn và sau khi ăn thì biết ngay cơ thể không đủ đường chuyển hóa thức ăn giống như máy xay không đủ xăng chạy máy.
Như vậy nhờ đo áp huyết trước khi ăn và sau khi ăng chúng ta biết được sự chuyển hóa thức ăn nuôi tế bào tốt hay xấu lại cần phải biết phân tích áp huyết so sánh trước khi ăn và sau khi ăn,
3-Theo dõi áp huyết và đường trước và sau mổi bữa ăn biết chuyển hóa tốt hay xấu.
Áp huyết tay trái tâm thu là thể tích khí trong bao tử, khi đói phải thấp, như tuổi trung niên có áp huyết tiêu chuẩn là : 120-130/70-80mmHg 70-75
Như vậy khi đói là 120mmHg, sau khi ăn no là 130mmHg, nếu sau khi ăn chỉ có 122mmHg là ăn quá ít, sau khi ăn lên 140mmHg là ăn quá nhiều, sau khi ăn thấp hơn trước khi ăn như 110mmHg là bao tử không chuyển hóa thức ăn mới mà chuyển hóa thứca ăn củ không còn chất bổ, lúc đó áp huyết tâm trương bên tay phải không nhận được thức ăn bổ máu, thì trước khi ăn tâm trương bên tay phải là gan 80, sau khi ăn là 70, là tế bào hôm đó không được thức ăn nuôi thì gan phải xuất máu từ mỡ bụng hay từ cơ bắp đi nuôi tế bào nên trong gan mất dần máu, thể tích gan thu nhỏ và có dấu hiệu sụt cân..
Câu hỏi đặt ra là ăn thức ăn bổ máu tại sao lại không bổ máu, tăng cân, thì tây y đã giải thích vì thiếu đường chuyển hóa thức ăn thành máu, giống như không đủ xăng cho máy xay, cho nên Cơ Quan Y Tế Thế Giới mới có 2 tiêu chuẩn đường lúc đói là 8mmol/l, lúc no là 11mmol/l mới đủ đường chuyển hóa thức ăn theo công thức glucose+protein biến thành máu. Nhưng làm sao biết cơ thể thiếu đường, đủ đường hay thừa đường chuyển hóa thức ăn,
Kinh nghiệm của tây y nói : Thừa đường thì béo phì, nhưng ngược lại có người đo đường huyết cao là thừa đường nhưng lại gầy ốm, đó là trường hợp khi thức ăn không biến thành máu, thì thay vì tế bào bị đói thì gan phải xuất máu trong các cơ ra thành đường thì đo đường cao nhưng mất thịt sụt cân.
Kinh nghiện thứ hai, thừa đường người nóng tăng nhip tim, không ai có thể uống thật nhiều đường được nên dù có muốn uống thêm nữa cũng không được làm cơ thể nóng, nhịp tim tăng cao, thân nhiệt ngoài da chân tay nóng không chịu nổi, không uống nổi nữa, do đo uống nhiều đường cũng chỉ giới hạn khi nhịp tim cao, nhiệt độ cao, tự động phải ngưng. Nhưng thiếu đường người lạnh, sụt cân, mất khí mất máu, tế bào mất nuôi dưỡng đo áp huyết thấp cả 3 số, khí lực xuống đến 95mmHg là ung thư giai đoạn 1, tế bào đói suy dinh dưỡng khí lực xuống 90mmHg, ung thư giai đoạn 2, khí lực xuống 85 mmHg, rồi xuống 80 mmHg, rồi xuống 75 mmHg, di căn toàn thân mà chết.
Như vậy các bệnh là do thiếu đường chuyển hóa thứ ăn, mà ngày nay tây bỏ đường mới gây ra nhiều bệnh,
4-Cách thử mình có thiếu đường hay thiếu máu.
Bây giờ không cần máy đo đường, đường nhiều hay ít bao nhiêu cũng được, khi ngồi xuống đứng lên 10 lần thấy hơi chóng mặt là thiếu đường. còn không chóng mặt là đủ đường tại thời điểm đó, cách 1 giờ qua đi đường huyết bị tiêu hao do tim cần năng lương đường để co bóp bơm máu tuần hoàn, phổi cũng cần đường để hít thở trao đổi oxy duy trì hồng cầu thì đường là năng lượng cũng hao hụt dần làm đường huyết thấp dần, chứ không phải lúc nào cũng cao nên không có ai bị bệnh tiểu đường cả.
Còn khi đang nằm mà ngồi dậy bị chóng mặt là thiếu máu não. Như vậy đường huyết tối thiểu cho 2 cơ quan tim phổi hoạt động tốt đường huyết phải luôn giữ 140mg/dl hay 8mmol/l mà phải là đường pha cà phê được và lọt vào đúng tiêu chuẩn làm nhịp tim lọt vào tiêu chuẩn và nhiệt độ trên trán là nhiệt bình thường của bao tử trên 36 độ C hay trên 96 độ F, nhiệt đầu ngón tay út trái là nhiệt độ của máu từ tim ra đến đầu ngón tay vẫn còn ấm trên 36 độ C, nhiệt độ ngón chân út là đường kinh bàng quang cũng phải ấm nóng trên 36 độ thì máu mới đủ nhiệt độ đi theo lên não sẽ không bị thiếu máu não.
Hiện nay tiệm cà phê có 3 loại đường là gói đường trắng, gói đường vàng, gói đường giả là đường từ cây tên cỏ ngọt tên stevia ngọt gấp nhiều lần đường glucose, cũng pha cà phê được nhưng không làm cho nhịp tim, nhiệt độ vào tiêu chuẩn tuổi.
IV-Những si mê của mình là nguyên nhân làm cho mình bị bệnh.
Sai lầm thứ nhất do kiêng sợ đường do truyền thông tây y hù dọa gần môt thế kỷ để trục lợi.
Nếu mỗi tế bào đều có 4 chất glucose, protein, lipid, oxy, thì 40 ngàn tỷ tế bào chúng ta hãy tưởng tương cho 1000-2000 tế bào chỉ cần 1 hạt đường, thì 40 ngàn tỷ tế bào chia cho 2000 ngàn tế bào thì 40 ngàn tỷ tế bào cần bao nhiêu hạt đường là bao nhiêu thìa đường.
Trên thực tế chúng ta biết cách tính mỗi giờ cơ thể chúng ta tiêu thụ bao nhiêu thìa đường. Tối trươc khi đi ngủ uống đường lên 200mg/dl, ngủ 7 tiếng sáng dậy đo đường huyết còn 130mg/dl, chúng ta thấy khỏe, như vậy chỉ có riêng tim phổi trong 7 tiếng tiêu thụ mất 70mg/dl, một ngày 24 giờ tim phổi cần 240mg/dl đường, mỗi giờ mất 10mg/dl cho tim phổi, cỏn cơ quan Y Tế thế Giới có tiêu chuẩn đói- no sau khi ăn cần 60mg/dl cho đường chuyển hóa thức ăn thành máu. Như vậy kiêng sợ đường là sai.
Sai lầm thứ hai, khi tây y nói chúng ta bị bệnh tiểu đường, thì kiêng đường, kiêng trái cây, bánh kẹo để không bị tiểu đường, thì cơ thể làm gì phải uống thuốc hạ đường là hạ đường nào, tuy nhiên nếu trong thức ăn không cung cấp đường thì gan vẫn phải rút đường trong cơ bắp trong xương thịt để cung cấp cho tim phổi hoạt động, nên đo đường vẫn có đường do cơ thể sụt cân, mà càng uống thuốc hạ đường thì đường càng cao, khiến cơ thể lại bị mất đường do thuốc hạ đường là mất năng lượng, thì thức ăn của tế bào thiếu đường sẽ không tạo máu, không tạo da, tạo vỏ tế bào, tế bào bị vỡ tách ra không phải là sinh sản bình thường từ 1 tế bào thành 2 tế bào, mà thành chùm tế bào co cụm thành mô tế bào ung thư.
Sai lầm thứ ba, nhờ lý thuyết tây y nói tế bào ung thư phát triển trong môi trường acid, và tế bào không sống được trong môi trường kiềm, nên tây y chế tạo ra giấy qùy để theo dõi pH của những thức ăn uống mà chúng ta ăn hàng ngày, và cho biết pH nước bọt bằng với pH máu trong cơ thể, nên thử pH nước bọt nếu là acid ngả mầu vàng thì môi trường máu là acid, thuận lợi cho tế bào ung thư phát triển. Chúng ta nên mua giấy quỳ trên mạng Amazon để thử pH nước bọt trước khi ăn và sau khi ăn để đề phòng ăn phải những thức ăn có pH acid, thí dụ thử pH của đường cát vàng thì pH 7, đường cát trắng pH 6 là acid, vì thế tây y hù dọa không được ăn đường sẽ bị ung thư là đường cát trắng chứ không phải đường cát vàng.
Sai lầm thứ tư, đường phải pha cà phê được, thí dụ pha cà phê với 1 thìa đường, khi đo đường huyết là 120mg/dl, nhịp tim tăng làm ấn người, áp huyết tăng, nhưng ăn 1 miếng dưa hấu đo đường huyết lên 200mg/dl tây y nói đường cao, nhưng độ ngọt của dưa hấu pha vào cà phê không được, vì giá đường huyết cao của dưa hấu cũng không ngọt bằng một thìa đường, trong khi đường huyết cao của dưa hấu lại làm nhịp tim xuống thấp người lạnh, áp huyết tụt thấp là đường acid, cũng vậy đa số đường trái cây là acid.
Máy thử đường huyết là máy cố tình gạt người, vì trị giá thật của đường huyết phải dựa trên tiêu chuẩn mẫu là dù đường đo cao hay thấp bao nhiêu miễn là phải làm cho nhịp tim nằm trong tiêu chuẩn 70-80, nhiệt độ tay chân nằm trong tiêu chuẩn trên 36 độ C, pH phải từ 6,5-7, giống như tiêu chuẩn tiền tệ, lấy tiền Mỹ làm tiêu chuẩn, dùng máy đếm tiền như qua Mỹ, hải quan cho phép đem 10 ngàn đô la, họ gài máy đếm giấy tờ tiền mệnh giá 100, máy quay ra 100 tờ tiền Mỹ là 10 ngàn đô la, nhưng người VN sang Mỷ cũng đưa tờ tiền mệnh giá 100 thì 100 lần cũng 10 ngàn nhưng giá trị không phải là tiền Mỹ, nên chỉ có giá trị theo hối xuất là 5 đồng tiền mỹ, phải đem 20 triệu mới có giá trị bằng 10 ngàn đôla, còn người khác đem 5000 đô la Mỹ và 10 triệu tiền VN mới đủ 10 ngàn đo la, nếu họ bắt lỗi là nhiều tiền quá là họ gạt chúng ta, thì máy thử tiểu đường cũng vậy, đường của 3 chén cơm là 240mg/dl, đường của dưa hấu là 300mg/dl, đường của rau củ quả là 200mg/dl, họ lập luận lừa bịp chúng ta là đường cao, trong khi đường của cơm có pH kiềm, có tăng nhiệt trên 36 độ C, có tăng nhịp tim trong tiêu chuẩn, thì họ hù dọa không được ăn cơm nhiều làm đường huyết cao, chỉ ăn 1 chén đường huyết chỉ có 80mg/dl chấp nhận được, thử hỏi người ăn 3 chén cơm với 1 người ăn 1 chén cơm ai khỏe hơn, từ trước đến nay không có ai mỗi bữa ăn 3 chén cơm mà chết được, nhưng đổi ra đường huyết thì tây y họ hù dọa đường cao sẽ bị chết, như vậy ngành y cố tình làm cho con người yếu sức mới gây ra bệnh.
Thật ra đường là năng lượng là sức khỏe để kiếm ra tiền trong nghề đạp xích lô, ăn 1 chén cơm làm sao có sức đạp xích lô, phải ăn 3 chén, và sau mỗi cuốc xe đường tụt mất, muốn đi cuốc thứ hai phải vào quán nước uống 1 ly trà đá chanh đường làm tăng đường tăng năng lượng để kiếm tiền tiếp, chạy 10 cuốc uống 10 lần đường kiếm tiền xong thì đường huyết lại tụt thấp, nên dù uống nhiều lần đường cũng bị tiêu hao hết thì làm gì mà có bệnh tiểu đường.
Kết luận những người bị bệnh tiểu đường là người lười không tập thể dục, và tây y nói tiểu đường loại 1 loại 2 cần phải uống thuốc là sai vì tập thể dục như đạp xích lô là đường huyết tụt, nếu không uống đường mà đạp xích lô thì trong 1 tuần cơ thể bị sụt cân do mất đường.
Như vậy những ai bị tiểu đường loại 1 loại 2 vào trong trại cải tạo, thì hai loại bệnh tiểu đường này biến mất mà chỉ bị thiếu đường làm việc kiệt sức mà chết vì thiếu đường chứ không phải chết vì bệnh tiểu đường cao
Sai lầm thứ năm, về chuyển hóa thức ăn, tây y không hiểu áp huyết hư giả thực, nhiệt giả hàn là hai căn bệnh chữa sai dẫn đến ung thư cũng do nguyên nhân thiếu đường.
Thí dụ 1- Khí và huyết thực hàn, có Áp huyết 160/100mmHg nhịp tim 60, đường huyết 4.5mmol/l, nhiệt độ dưới 34 độ C hay súng bắn nhiệt kế chỉ low, có nghĩa thiếu đường chuyển hóa thức ăn, nên thức ăn đứng nguyên trong bao tử làm tăng áp huyết, khi hạ áp huyết xuống thấp thì nhịp tim cũng xuống thấp 50 làm máu đông xơ vữa động mạch, tức ngực khó thở. Tim ngưng đập, chân tay lạnh. Cách chữa uống đường và gừng cho ấm ngưởi tăng thân nhiệt và tăng nhịp tim làm máu loãng phục hồi tuần hoàn máu ra đến đầu ngón tay chân ấm là khỏi bệnh.
Thí dụ 2, Khí và huyết hàn giả nhiệt, có áp huyết 130/70mmHg nhịp tim 55 là hàn, nhiệt độ tay chân nóng 37 độ C, nhịp tim hàn là thiếu đường dù đường thấp 80mg/dl hay đường cao 300mg/dl cũng là đường giả, khi nhịp tim hàn là tốc độ bơm máu chậm do máu đông, thức ăn trong bao tử cũng đặc lại thành cục. Cách chữa là uống đường gừng làm tăng nhịp tim thì đường thật thiếu chỉ có 80mg/dl tăng lên 140mg/dl, còn đường giả là đường âm 300mg/dl là đường của rau củ quả, khi uống thêm đường thì đường giả tụt xuống còn 200 hay 100mg/dl, giống như nhiệt độ thời tiết âm -5 độ, khi tăng nhiệt lên 1 độ thì nhiệt độ âm giảm còn – 4. hay -3, hay -2 ., và khi bao tử đủ đường tăng nhiệt trong bao tử làm thức ăn đặc lại hóa lỏng bao tử co bóp chuyển hóa thức ăn xuống ruột làm hạ khí tăm thu, tâm trương, tăng nhịp tim.
Thí dụ 3,Huyết nhiệt giả hàn, có áp huyết 120/95mmHg nhịp tim 120, đường huyết thấp 80mg/dl, nhiệt độ tay chân lạnh, trong người nóng ngoài da mặc áo lạnh, nguyên nhân do thiếu đường chuyển hóa thức ăn thành máu, thức ăn trong bao tử cao là 95mmHg thiếu đường để chuyển hóa thức ăn thành máu, nên cơ thể thiếu máu làm nhịp tim tăng cao, đông y gọi là chứng âm hư là máu thiếu, sinh nội nhiệt trong người nóng, giống như người chạy nhanh một đoạn đường dài thì người nóng nhịp tim tăng, có một thí dụ dễ hiếu là 10 người làm một công việc hòa hoãn xong trong 1 giờ là nhịp tim trong tiêu chuẩn 70-80, nếu rút bớt 5 người mà vẵn phải làm xong trong 1 giờ, thì 5 người này phải làm nhanh gấp đôi thì nhịp tim họ tăng nhanh hơn bình thường, tại sao nhịp tim tăng vì họ thiếu người làm, số người ví cho lượng máu. Đông y gọi là áp huyết hư giả thực là áp huyết ung thư, vì đổi ra áp huyết thật theo tiêu chuẩn nhịp tim khỏe mạnh phải nằn trong tiêu chuẩn 70-80.
Vì thiếu máu, tim phải bơm máu nhanh, và phải làm nhanh làm tăng khi tâm thu, tây y tưởng lầm áp huyết tăng nên tiêm thuốc hạ áp huyết làm bệnh nhan tử vong. Áp huyết giả thực, vì thiếu máu cũng là hư, nhiệt độ thấp cũng là hư, đường huyết thấp cũng là hư, nên đổi sang áp huyết thật thì vì thiếu máu tim phải đập nhanh tới 120 nhịp là đập nhanh hơn tiêu 80 là tăng thêm 40 nhịp, mòi làm cho khí tâm thu tăng tới 120, thì áp huyết tâm thu thật sẽ là 120 trừ 40 thì tâm thu chỉ còn 80mmHg là áp huyết ung thư, áp huyết tâm trương thật lấy 95 trừ ½ của 40 tâm trường còn 75.
Áp huyết thật bây giờ là 80/75mmHg 80.
Thí dụ 4.Bao tử không chuyển hóa trước khi ăn và sau khi ăn, có áp huyết tay trái trước khi ăn và sau khi ăn giống nhua như 125/70mmHg 68, sau khi ăn cũng giống nhau, là bao tử không co bóp, uống nhiều đường mà đo đường không thay đổi, gọi là áp huyết chết, thức ăn không chuyển hóa, thì áp huyết bên gan không hấp thụ được chất bổ, tế bào bị bỏ đói trở thành tế bào ung thư, hay thức ăn tăng acid, làm loét bao tử…
Thí dụ 5, Chuyển hóa nghịch, có áp huyết trước khi ăn bao tử còn thức ăn cũ không tiêu, không xuống ruột, lý do thiếu đường chuyển hóa, thì chức năng gan không hấp thụ được chất gì để bổ máu nuôi tế bào, thì tế bào cũng đói nên người gầy, sụt cân,
Cả 5 trường hợp này cũng dẫn đến tế bào thiếu chất nên bị bệnh dẫn đế tế bào ung thư thành mô tế bào hay bướu, nên cần phải thử pH nướ.c bọt xem là bướu lành hay tế bào ung thư
Cách chữa là phục hồi lại sự sống cho tế bào bệnh, phải ăn thức ăn có đường huyết cao làm cho nhịp tim tăng, thân nhiệt tăng, thức ăn có pH kiềm 10 mỗi ngày.
V-Dấu hiệu chữa bệnh ung thư có tiến triển tốt hay xấu.
1-Dấu hiệu tiến triển tốt :
Là đổi ra áp huyết thật như ung thư giai đoạn nặng tâm thu 80mmHg, thử giấy quỳ acid, đường huyết thấp 80mg/dl, nhiệt dộ chân tay lạnh. Biết cách chọn thức ăn có tính nhiệt là tăng nhiệt, thức ăn có nhiều đường cũng làm tăng nhịp tim, tăng đường, tăng khí, nếu sau bữa ăn áp huyết thật hay áp huyết giả có nhịp tim cao, đổi ra áp huyết thật là tâm thu tăng lên 90mmHg, nhịp tim thấp 55 tăng 60, hau nhịp tim cao 120 tụt thấp 100, nhiệt độ chân tay lạnh do đường huyết thấp uống then đường đo đường huyết tăng 200mg/dl, nhiệt độ chân tay ta7ng dần lên. 34 dộ, rồi 35 độ, ròi trên 36 độ, thử ph nước bọt tăng tử pH 5,5 le7n 6, hay lên 6,5 hay 7. Là tiên liệu tốt. Có nghĩa đang ung thư giai đoạn 4 trở về giai đoạn 3, rồi trở vể giai đoạn 2, rồi trở về giai đoạn 1, rồi trở về áp huyết đúng tiêu chuẩn mặt hồng hào, tăng cân, nhiệt dộ tay trên 36 độ, đường huyết 200mg/d, pH 6,5-7.
2-Dấu hiệu tiên liệu xấu.
Đa số những bệnh nhân ung thư đều nằm trong trường hợp này, vì không dùng cách chọn thức ăn chữa bệnh, không chịu uống đường, không đo đường trước và sau mỗi bữa ăn, không đo nhiệt độ, ỷ lại vào thuốc, vào thực phẩm chức năng, vào thuốc đông y, giao phó sinh mạng mình cho người khác, mà không tự mình học hỏi cách chữa, cách kiển soát bằng máy móc xem mình ăn uống có đúng không, nên ban đầu ung thư giai đoạn 1 trở thành di căn toàn thân.
Nhớ rằng các con số đo kiểm chứng phải theo dõi mỗi bữa ăn chịu khó để ý hôm nào kết quả tốt, thì ghi món thức ăn đó mình ăn tiếp, mòn ăn nào hay thuốc nào cho ra kết quả xấu thì phải bỏ đi, tìm trên mạng hỏi thựn phẩm nào làm tăng máu, thực phẩm nào làm tăng đường, thực phẩm nào làm tăng hay hạ nhịp tim, thực phẩm na2p làm tăng kiề để áp dụng, chúng ta sẽ có kinh nghiệm khi kiểm chứng bằng các máy sẽ không ngạc nhiên như hôm qua áp huyết ung thư giai đoạn 4 nhờ ăn đúng tự nhiên áp huyết ung thư trở về giai đoạn 2, rồi lại tụt xuống ung thư gia đoạn 3, rồi lại giai đoạn 2, rồi lại trở về giai đoạn 1, như vậy giai đoạn ung thư không cố định, không cò gì đáng sợ, nếu kiên trì theo dõi thức ăn mà mình tự cứu được mình từ giai đoạn cuối mà sức khỏe được cải thiện dần cho áp huyết trở về tiêu chuẩn tuổi thì mình cũng đã có kinh nghiệm hướng dẫn cho các bệnh nhân ung thư khác.
VI-Biết công dụng của 3 loại pH kiềm chữa ung thư sẽ có kết quả khỏi bệnh nhanh
Chúng ta ví tế bào ung thư giống như là kẻ cướp giết người, muốn chông lại kẻ cướp giết người chúng ta cần phải có lự lượng cảnh sát là pH kiềm để săn bắt tiêu diệt kẻ cướp, tùy trường hợp khác nhau,
1-Ngăn ngừa ung thư bằng nước uống có kiềm pH 7-8
Mua giấy qùy thử nước bọt trên mạng, tên ùUniversal indicator paper pH 1-14 để thử nước bọt sau khi ăn, giấ qùy ngả mầu vàng xanh là tốt.
Giá trị công dụng của nước kiền từ máu Kangen, từ chi nước kiềm, nước không có vị mặt thì không sát trùng, nhưng uống nước kiền vào theo dòng máu sẽ tuần tra bắt cướp giống như ngoài đường lộ, chỉ có nghĩa ngăn ngừa ung thư.
2-Diệt ung thư bằng uống baking soda mỗi ngày.
,Nhưng khi cơ thể đã bị ung thư,thì các tên cướp dại gì đi ra đường để bị bắt tiêu diệt, nên nó đã lọt vào nhà dân trú ẩn và từ từ giết hại những người trong nhà, lúc đó phải dùng lực lượng khám xét nhà chính là bột baking soda. Như đã giải thich1 ung nhọt ngoài da và ung thư trong cơ thể, thì rửa nước muối là sát trùng vết thương thì baking soda là muối, nó còn có tên là bột nở, thâm nhập vào trong mô khối u tế bào phá vỡ tế bào ung thư, và baking soda uồng đường thì đường vừa là kháng thề làm tăng năng lượng vừa giảm đau, vừa làm lành vết thương, ngày nào cũng dùng baking soda đường dể khống chế chúng không phát triểnđược mà phải teo nhỏ dần, nhưng vì chúng ta không theo dõi pH nước bọt mỗi ngày nên pH trở thành acid thì tế bào ung thư lại được tiếp tế cho chúng phát triển.
Trong giai đoạn này bệnh nhân chán nản sao ngày nào cũng uống baking soda mà không thấy kết quả là sai rồi, ung thu thì pH 5, mà uống baking chỉ duy trì pH 7, nhưng có kết quả mà mình không để ý, trước khi ăn đo pH 5, sau khi ăn đo pH 5.2, ngày thứ hai sau khi ăm đo pH 5,3, các ngày kết tiếp đo pH 5.4…chúng tăng dần tăng chậm thì thấy lâu, tuy nhiên bữa nào ăn sai trong thức ăn tăng acid, như ăn thịt đo pH lại tụt xuống pH, như vậy muống chữa khỏi bện để cứu nhũng tế bào lành, chúng ta đừng ỷ lải hoàn toàn vào baking soda, mà chính chúng ta phải học cách bắt cướp phụ với baking soda diệt tên cướp.
VII-Chọn những thức ăn có kiềm để tế bào lành có kiềm tự bảo vệ mình tự có khả năng tiêu diệt cướp
Dưới đây là những thực phẩm có tính kiềm cao cần thay đổ ăn uống mỗi ngày.
1-Những thưc phẩm kiềm có hàm lượng calcium cao như :
Cỏ xạ hương 189 % , Thì là 93%, Mè 99%, Hạt CHIA 63%, Cỏ lúa mì 43%, Rau mầm cỏ linh lăng 32%, Hạnh nhân,và Đậu lanh hạt lanh 36%, Bạc hà, Đậu hũ 20%, Húng quế 18%.

2- Những thưc phẩm kiềm có hàm lượng mangan cao như :
Cỏ lúa mì 20000%,, Cỏ xạ hương 393%, Thì là 167%,, Lúa mì khorasan 143% , Đậu lanh, hạt lanh 124%, Hạt mè 125%, Hạnh nhân 114%, Hạt Chia 108%, Hạt hướng dương 97%, Tỏi 87%, Dừa 75%. Đậu lăng 67%, Kiều mạch 65%, Húng quế 57%, Bạc hà 56%. Nước cốt dừa 46%, cải pó xôi 45%, rau dền 43%

3- Những thưc phẩm kiềm có hàm lượng sắt cao như :
Cỏ lúa mì 1270%, Cỏ xạ hương 387%, Thì là 369%, hạt mè 82%, bạc hà 66 % , đậu lăng 42 % , mùi tây 34%, dầu lanh 32% , Hạt hướng dương 29%, lúa mì khorasan 25% , Hạnh nhân 21%,
húng quế 18%, bồ công anh 17%, tảo bẹ 16%, cải pó xôi 15%, đậu nành 14%, dừa, đậu lima, đậu hải quan 13 % , Rau dền, măng tây, kiều mạch 12% , ngò, tỏi tây, củ cải thụy sĩ 10% , hẹ, tỏi, nước cốt dừa, cải xoăn, đậu hà lan, đậu hũ 9%

4- Thực phẩm kiềm có nhiều Kali
Cỏ lúa mì 84%, Rau mầm cỏ linh lăng 79%, Thì là 51%, Đậu lăng 27%, Dầu lanh hạt lanh, Cỏ xạ hương 23%, Hạnh nhân 20%. Hạt hướng dương 18%, Cải pó xôi, Mùi tây 16,% Đậu nành, Đậu Lima, Ngò 15%, Khoai lang, Hạt mè, Quả bơ dầu quả bơ 14%, Lúa mì Khorasan, Khoai tây mới, Bạc hà, Kiều mạch 13%, Gừng 12%, Củ cải Thụy sĩ, Bồ công anh, Tỏi, Sà lách rocket 11%, Bí đao, Dừa 10%,


5- Thực phẩm kiềm có chứa nhiều magnésium
Dầu lanh, hạt lanh 98%, Thì là 92%, Hạt mè 89% Hạt hướng dương 81%, Hạnh nhân 67%, Kiều mạch 58%, Cỏ xạ hương 55%, Lúa mì Khorasan 34%, Đậu lăng 31%, Tảo bẹ 30%, Cỏ lúa mì 28%, Cải pó xôi, Củ cải Thụy sĩ 20%, Húng quế, Bạc hà, Diêm mạch quinoa 16%, Đậu nành 15%, Đậu hải quân 13%, Đậu xanh, Mùi tây, Đậu đỏ 12%, Gừng, Đậu Lima, Kê 11%, Đậu Hà lan 10%, Nước cốt dừa, Đậu hũ 9%,
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 5 Tháng 12 25, 2025 6:14 pm

PHẦN 23
TẦM QUAN TRỌNG CỦA CHỈ SỐ SINH TỒN QUYẾT ĐỊNH CÁCH CHỮA ĐÚNG HAY SAI CHO BỆNH NHÂN HÔN MÊ

&&&
Theo dõi những bệnh nhân bị hôn mê trong phòng chăm sóc đặc biệt, các bác sĩ đều dựa theo kết quả chụp não và kết luận theo hai hướng:
Một là đứt mạch máu não do xuất huyết não, hướng chữa là mổ não.
Hai là tuyên bố não chết, không chữa được.
Ngoài ra còn dựa theo các máy móc thị hiện kết quả trên máy như máy trợ thở, máy đo SpO2, điện tâm đồ, máy đo áp huyết, để quyết định cách chữa được hay không chữa được. Điều này cũng vẫn còn thiếu sót đã bị bỏ qua là dấu hiệu sinh tồn của bệnh nhân.

1-Theo lý thuyết về đường của tây y :

Cả thế giới này đã cố tình bỏ qua tầm quan trọng của đường, vì thành kiến sai lầm phải kiêng đường, đã đi trái với công thức căn bản đầu tiên mà ngành y tây phương đã phát minh ra sự sống của tế bào phải được nuôi dưỡng bằng 4 chất glucose, protein, lipid, oxy.
Sự cấu kết của 4 chất này cũng đã được chứng minh là :
Glucose kết hợp với protein thành máu, cho tim tuần hoàn, nuôi cơ và nuôi thịt.
Glucose kết hợp với lipid thành da, gân mạch, sụn, xương và màng cellulose vỏ bọc tế bào, đều do từ mỡ tạo thành.
Cả hai máu và mỡ chia nhau nuôi dưỡng tế bào phát triển và bảo vệ tế bào không bị bệnh tật,
Năng lượng dự trữ là lượng protein+lipid bổ sung sẽ chuyển hóa thành máu và mỡ.
Còn oxy là do chức năng hoạt động của phổi do hít thở, do khí của thức ăn cung cấp để duy trì lượng máu, lượng máu và hồng cầu, luôn giữ máu đỏ, thiếu oxy lượng máu sẽ giảm và máu đỏ biến thành máu đen làm tế bào suy yếu mới trở thành bệnh.
Khi thức ăn đủ lượng đường, chất đạm protein, chất béo lipid, chất tăng khí oxy hay hạ khí oxy phù hợp, không phá vỡ tỷ lệ 4 chất để nuôi tế bào thì tế bào khỏe mạnh, thì sức khỏe con người cũng khỏe mạnh không bị bệnh tật.

Để biết tầm quan trọng của đường, Y Tế Thế Giới năm 1979 khuyến cáo cơ thể chúng ta cần đường vào hai thời điểm, thời điểm đói phải có đường huyết từ 6 đến 8mmol/l hay 140mg/dl, để dành năng lượng đường này cho chức năng tim bơm máu tuần hoàn và cho phổi hô hấp trao đổi oxy duy trì hồng cầu. Nên nhu cầu đường cho tim hoạt động bảo vệ tim không bị bệnh, hiệp hội Tim Mạch Hoa Kỳ khuyến cáo mỗi ngày tim cần 6-9 thìa đường cát vàng hay 36g đường.
Đường còn có nhiệm vụ chuyển hóa thức ăn thành máu, tức là glucose+protein, thì sau khi ăn, bao tử cần thêm 3mmol/l đường huyết, tức là 6 thìa cà phê đường cát vàng nữa cho đủ đường chuyển hóa thức ăn thành máu, như vậy mới không lấn phạm vào đường dành cho tim phổi hoạt động, và cũng đủ đường chuyển hóa hết thức ăn trong bao tử thì bao tử không đầy hơi làm tăng áp huyết hay thức ăn cũ không bị lưu giữ lâu trong bao tử lên men làm bao tử thừa acid gây loét bao tử hay làm cho men gan cao.
Một lý thuyết căn bản khác của tây y khi nghiên cứu sự hoạt động của chức năng não, thì não hoạt động 24/24 kiểm soát hệ thống thần kinh vận động, và hệ thần kinh giao cảm, hay điều khiển sự hưng phấn hay ức chế của các chức năng cơ quan tạng phủ duy trì quân bình âm dương, thì năng lượng đường cung cấp cho não cần 144g đường. tổng công cơ thể cần phải được cung cấp 180g đường, cho tim mạch 36g cho não 144g.
Đó là khám phá của khoa học, có người tin và có người không tin. Không quan trọng, nhưng chúng ta phải tin vào thực tế là thật sự cơ thể chúng ta cần có đường huyết bao nhiêu trong một ngày để chúng ta khỏe mạnh không làm cho tế bào bị bệnh mà mọi người có thể tự thử bằng cách đo đường huyết trước khi tối đi ngủ, và trung bình ngủ 7 tiếng, sáng ngủ dậy đo đường huyết còn bao nhiêu.
Thí dụ tối trước khi đi ngủ đo đường huyết 200mg/dl, sau 7 tiếng ngủ thì tim vẫn phải co bóp bơm máu tuần hoàn, phổi vẫn thở, gan vẫn làm việc chuyển hóa thanh lọc độc máu từ thức ăn, sáng ngủ dậy đo đường huyết còn lại 130mg/dl, nếu ngủ 6 tiếng thì đo đường huyết còn lại 140mg/dl
Nếu tối đi ngủ đo đường huyết 140mg/dl ngủ 6 tiếng sáng đo còn 80mg/dl
Nếu tối đi ngủ đo 100mg/dl ngủ được 5 tiếng là mất ngủ vì đường huyết còn 50mg/dl là bị nằm mơ ác mộng ú ớ la hét, dẫy dụa cầu cứu biết sắp chết, tim sắp ngưng đập, hơi thở khó khăn, nếu người nào biết về tầm quan trọng của đường thì gọi họ dạy cho uống đường thì họ tỉnh và đã cứu họ thoát chết vì thiếu đường.

Như vậy qua cách thử đường mỗi tối trước khi đi ngủ, thì ai cũng bị mất 10mg/dl trong mỗi giờ cho tim phổi hoạt động, thì 24 giờ một ngày tim phổi cần 240mg/dl đường huyết, số đường huyết này được cung cấp từ 3 bữa ăn, 240mg/dl chia 3, thì mỗi bữa ăn phải cung cấp cho tim phổi 80mg/dl đường huyết.
Bao tử muốn hoạt động co bóp thức ăn thì bao tử cũng cần thêm lượng đường huyết 60mg/dl, 2 bữa ăn cần 120mg/dl.
Chưa kể đường là năng lượng cho hoạt động đi lại, làm việc chân tay hay trí óc là phải có số lượng đường riêng cộng với tim phổi và bao tử một ngày đã cần 240+120mg/dl là 360mg/dl.
Lại từ một thử nghiệm khác, chúng ta sẽ thấy cứ uống 1 thìa cà phê đường làm đường huyết tăng lên 10mg/dl, như vậy một ngày cơ thể cần ít nhất 360mg/dl tương đương 36 thìa đường, tây y tính 1 thìa đường nặng 5g, 36 thìa đường là 180g đường, Do đó tây y mới kết luận cơ thể con người cần 180g đường môt ngày là đúng sự thật.

2-Làm sao cho đủ nhu cầu 360mg/dl đường huyết mỗi ngày cho cơ thể không bị bệnh
Chúng ta có hai nguồn đường :
a-Chọn thức ăn có đường, như tinh bột đường từ cơm gạo, từ trái cây, rau củ quả nếu đủ thì không cần phải uống thêm đường cát vàng.
Nguồn đường từ cơm gạo trắng.
Cung cấp nhiều đường và năng lượng cho cơ thể khỏe mạnh nhất, chính là cơm, mỗi chén cơm trắng khi ăn vào cho ta 80mg/dl đường huyết, nếu ăn 3 chén cơm mỗi bữa chúng ta sẽ có 240mg/dl, chưa kể còn có thêm các loại đường khác trong rau củ quả.
Và chúng ta đã biết 1 người ăn 1 chén cơm với người ăn 3 chén cơm, thì người ăn 3 chén cơm phải khỏe hơn người ăn 1 chén cơm, từ xưa đến nay, nông dân làm lao động chân tay, mỗi người ăn mỗi bữa 3 chén cơm không chết vì ăn 3 chén cơm cả.

b-Như truyền thông y tế so sánh tiêu chuẩn đường huyết theo Y Tế Thế Giới năm 1979, khi đói đường huyết tối đa là 140mg/dl, khi no có đường huyết tối đa là 200mg/dl là người có đủ đường khỏe mạnh. Đó là ngành y đạo đức
Ngành y hiện nay vô đạo đức, làm hạ tiêu chuẩn đường huyết chỉ có một tiêu chuẩn tối đa duy nhất không vượt quá 126mg/dl, có nơi không vượt quá 100mg/dl, còn từ 100-126mg/dl đã bị kết tội là bệnh tiền tiểu đường, họ không còn theo lý thuyết căn bản của tây y nữa mà hù dọa bệnh tiểu đường, như cấm ăn nhiều cơm, cấm ăn nhiều trái cây, bánh kẹo... thì hậu quả thiếu đường nuôi tim, phổi, gan, não và tế bào trong cơ thể suy yếu gây ra hậu quả nhiều bệnh.
Cho nên khi tụt đường huyết vào bệnh viện đúng ra phải cấp cứu truyền đường glucoza, lại chữa lầm tiêm insulin hạ đường huyết nên nhiều bệnh nhân bị chết oan.

c-Để tránh thiếu đường, làm tụt mất đường huyết căn bản cho tim tuần hoàn và cho phổi thở thay đổi oxy, nên khi đo đường thiếu không đủ 140mg/dl thì hậu quả sẽ suy tim, suy hô hấp, còn thiếu đường không đủ 200mg/dl cho đường chuyển hóa thức ăn thành máu thì tế bào mất máu teo nhỏ thì trọng lượng cơ thể gầy ốm, mà không ai dám bổ sung đường thiếu bằng cách uống đường.

Tây y đẻ ra ngành nội tiết nghe có vẻ khoa học, thật ra họ đang muốn làm cho con người thiếu đường gây ra nhiều bệnh phải uống nhiều thuốc để họ kinh doanh thuốc thu nhiều lợi nhuận và bệnh nhân phải bảo đảm uống thuốc suốt đời duy trì lợi tức của họ không bị hao hụt. Chỉ cần 1 chiêu hạ đường huyết không được cao quá 100mg/dl thì làm gì có đủ đường 140mg/dl cho tim cho phổi. làm gì có đủ đường 200mg/dl cho đù đường chuyển hóa thức ăn thành máu nuôi tế bào.

3-Chỉ số sinh tồn là gì

May nhờ máy đo áp huyết cho ra 3 con số cụ thể, và máy đo đường huyết.
Chúng ta phải tự trải nghiệm theo lý thuyết căn bản của tây y, nhưng áp dụng theo cách bắt mạch của đông y là đo áp huyết 2 tay. Chỉ có điện tâm đồ và nghe tim đập mới là khám bệnh tim, còn máy đo áp huyết là máy đo tim gián tiếp luôn luôn bị thay đổi theo mỗi bữa ăn của bao tử ăn nhiều hay ít, ăn thức ăn bổ hay không bổ, lúc no hay lúc đói thay đổi khác nhau, đo bên tay phải cũng làm thay đổi theo lượng máu nhiều hay ít, và theo tính tình thay đổi hưng phấn hay ức chế khi vui vẻ hay lúc giận hờn sẽ có kết quả khác nhau
Tế bào cần oxy, thì máy đo áp huyết số đầu là tâm thu bên bao tử và phổi khi đói khi no thay đổi khác nhau, số đầu tâm thu bên gan là lượng oxy hay thể tích gan co bóp khi đói khi no cũng khác nhau, vì thế khi đói khi no phải chênh lệch thuận cách nhau khoảng 10mmHg, thí dụ tuổi trung niên tâm thu chênh lệch 120-130mmHg đông y gọi là Khí Lực.

Số thứ hai tâm trương bên bao tử là lượng thức ăn nhiều hay ít cũng chênh lệch nhau khi đói thấp, khi no cao. Nếu thức ăn có chất bổ máu thì tâm trương bên tay phải là gan thấp sẽ tăng , nếu thức ăn không có chất bổ máu thì tâm trương đo bên tay phải bị gỉảm, Tại sao không có máu vì lý thuyết tây y nói đường cộng với thức ăn thành máu thì đường huyết sau khi ăn phải 200mg/dl, không có đủ đường thì thức ăn không biến thành máu dạng lỏng thì trở thành thức ăn dạng đặc biến thành đàm mỡ, thì tế bào mất máu sinh ra bệnh,

Số thứ ba nhịp tim, cũng liên quan đến đường, khi cơ thể đủ đường khi đói 140mgdl, khi no 200mg/dl thì nhịp tim nằm trong tiêu chuẩn, có tốc độ bơm máu hòa hoãn không nhanh không chậm 70-80 nhịp trong 1 phút. Theo đông y nhịp tim gọi là hàn hay nhiêt, có nghĩa nhịp tim thấp dưới 70 thì người lạnh, cao hơn 80 là người nóng, thử bằng súng bắn nhiệt độ thì đo ở trán là nơi phản ảnh nhiệt của ngoài bao tử, đo ở đầu ngón tay út trái là nhiệt độ của tim, đo ở đầu ngón chân út trái là nhiệt độ của thận đưa máu nuôi não cũng là nhiệt độ trong não tất cả đều từ 36.0-36.6 độ C

Tuy nhiên khi đo đường huyết do uống đường cát vàng nhiều, hay ăn nhiều cơm, cho ra kết quả tăng nhiệt độ và nhịp tim tăng. pH kiềm. Ăn nhiều rau củ quả đo đường huyết cao nhưng cho ra kết quả giảm, nhiệt hạ nhịp tim và nhiệt độ. có pH acid, khác với cơm hay khác với ăn trái cây hay bánh kẹo.

Nhưng dù khí oxy tâm thu là bao nhiêu, máu là tâm trương tay phải bao nhiêu, hay đo đường huyết là nhịp tim bao nhiêu, chỉ số sinh tồn của người khỏe mạnh phải có nhịp tim trong tiêu chuẩn 70-80 nhiệt độ tay, chân, trán, trong tiêu chuẩn 36-36.6 độ C và phải thay đổi khi cho ngậm đường vào miệng, hay tiêm glucoza sẽ làm thay đổi chỉ số sinh tồn.
Nếu bệnh nhân còn chỉ số sinh tồn thay đổi tốt thì tim còn đập, não còn làm việc, như vậy do hôn mê sâu vì do thiếu đường, linh hồn họ đang trong mơ, có khi linh hồn họ xuất ra còn đứng cạnh giường, vì họ chưa muốn chết, nhưng cách chữa làm thân họ mất chỉ số sinh tồn thì họ mới rời khỏi thể xác.
Như trong một ca cấp cứu người hôn mê sâu, y tá lay người bệnh nhân và ghé sát tai bệnh nhân gọi tên bệnh nhân lớn tiếng nhiều lần, bệnh nhân mở mắt tỉnh và ôm ngay y tá tỏ lời cảm ơn đã gọi ông ấy, ông ấy kể rằng đang đi trong vườn hoa nhìn thấy những những bông hoa lớn, càng xa càng có nhiều bông hoa lớn rất đẹp, bỗng nhiên nghe tiếng ai gọi liền tỉnh dậy.
Một trường hợp khác bệnh nhân hôn mê sâu nằm như người thực vật tim vẫn đập phổi vẫn thở, tôi bảo người nhà cho cha mẹ con cái đều thu tiếng gọi bệnh nhân tỉnh dậy, thu vào máy đặt vào tai cho bệnh nhân nghe nhiều lần, giống như gọi hồn bệnh nhân đang trong mơ tỉnh dậy, bệnh nhân nghe tiếng quen thuộc của người nhà gọi, hay cho bệnh nhân nghe hài tiếng cười tiếng vỗ tay lớn của khán giả làm họ giật mình thức giấc.

4-Chỉ số sinh tồn thay đổi tốt hay xấu

a-Chỉ số sinh tồn thay đổi tốt
Đó là sự thay đổi nhịp tim, nhiệt độ và đường huyết sau khi cho uống đường,
Thí dụ đo dường huyết 4mmol/l là hôn mê, Như trên đã giải thích nếu không bổ sung đường thì mỗi giờ đường huyết tụt dần, nhiệt độ chân tay lạnh dần thì tim ngưng đập, lỗi tại bệnh viện cứ để cho bệnh nhân hôn mê, còn thở thỉ chỉ vài ngày sau cơ thể hết đường như ngọn nến cháy hết thì tắt, thay vì phải tiêm đường glucoza vào máu trực tiếp cho họ tỉnh nhanh hơn cho uống đường vào miệng,, sau khi tiêm mà thấy đường huyết tăng, nhịp tim tăng thì thoát chết

b-Chỉ số sinh tồn xấu.
Ngược lại sau khi tiêm glucoza hay uống đường nhịp tim không thay đổi nhiệt độ không thay đổi , áp huyết không thay đổi mới là não chết.
Không cần biết có chết não hay xuất huyết tràn đầy não hay tắc máu não, mà tim còn đập phổi cỏn thở đo đường huyết thấp phải tiêm ngay đường glucoza cho tăng lên đường huyết là cơ thể còn hấp thụ, não còn hoạt động làm tăng nhịp tim, tăng áp huyết thì bệnh nhân sẽ tỉnh không bị chết oan
Cả thế giới đã có nhiều người bị chết oan vì đường huyết thấp, vì si mê tin theo tiêu chuẩn đường huyết thấp của ngành y vô đạo đức, nên mặc dù bệnh nhân có đường huyết thấp 126mg/dl, thay vì tiêm thêm năng lượng đường cho tăng chỉ số sinh tồn, thì đa số lại chữa theo bệnh đường huyết cao, tiêm insulin, kết quả làm bệnh nhân ngủ sâu trong hôn mê hồn lìa khỏi xác khi tụt đường huyết, nhịp tim thấp máu đặc tim ngưng đập là vô tình làm bệnh nhân chết oan, vì thật ra có tiêm đường glucoza cho tăng đường huyết thì cũng chưa có ai chết khi đường cao 200mg/dl.
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 3 Tháng 1 27, 2026 11:05 am

PHẦN 24-Có hai nguyên nhân chết do tế bào đói vì thiếu đường
Video : https://youtu.be/1LHNTP2QirA
Trước kia khoa học cho biết trong cơ thể con người cần nhiên liệu là đường glucose để nuôi hơn 40 ngàn tỷ tế bào, để duy trì sự sống cho con người. Ngày nay các nhà khoa học càng có nhiều khám phá mới về sự sống con người hiện nay là 87 ngàn tỷ tế bào đều lệ thuộc vào nhiên liệu từ những thực phẩm chúng ta ăn vào cơ thể đều được tế bào chuyển hóa thành đường glucose. Nói khác đi con người sống nhờ bằng thực phẩm ăn mỗi ngày, còn tế bào sống được nhờ nhiên liệu đường do chúng chuyển đổi thức ăn thành đường glucose.
Câu hỏi được đặt ra là cơ quan nào chịu trách nhiệm chính trong việc điều chỉnh lượng đường trong máu.
Bác sĩ Wayne Bottlick, nhà nghiên cứu về đường trả lời :
KHÔNG có một cơ quan duy nhất nào chịu trách nhiệm điều chỉnh glucose -

Câu hỏi đúng hơn sẽ là, “Hệ thống điều hòa glucose là gì, và làm thế nào nó duy trì nguồn nhiên liệu ổn định cho mọi tế bào sống trong cơ thể?”

Glucose là NHIÊN LIỆU mà các tế bào trong cơ thể chúng ta “đốt cháy” (oxy hóa) để tạo ra năng lượng sống ở cấp độ tế bào. tất cả 87 nghìn tỷ tế bào - ĐỀU CẦN nhiên liệu để tạo ra năng lượng nhằm duy trì sự sống; và chúng cần nhiên liệu đó liên tục. Chúng tạo ra năng lượng thông qua một quá trình gọi là hô hấp tế bào - bạn đã học về nó trong lớp khoa học lớp 8.

Là con người, chúng ta không ăn liên tục; Nhưng giữa các bữa ăn, chúng ta vẫn cần glucose. Vì vậy… khi chúng ta ăn, cơ thể sẽ hấp thụ glucose từ thức ăn và vận chuyển nó vào các tế bào hoạt động - nhưng lượng “dư thừa” so với nhu cầu hiện tại sẽ được LƯU TRỮ - trong gan và các cơ dài dưới dạng glycogen, và trong MỌI tế bào mỡ dưới dạng lipid. Bất cứ khi nào chúng ta KHÔNG ăn và cần nhiên liệu (đặc biệt là khi ngủ), lượng dự trữ này sẽ được sử dụng để cung cấp năng lượng cho các chức năng cơ bản (hô hấp, nhịp tim, chức năng não, v.v.).

Có một hệ thống hormone PHỨC TẠP quản lý toàn bộ quá trình chuyển hóa, lưu trữ, lấy ra và cung cấp glucose và lipid đến các tế bào cần chúng. Chúng được sản xuất ở NHIỀU cơ quan trong cơ thể - và nếu MỘT cơ quan bị lỗi, toàn bộ hệ thống có thể bị sụp đổ.
Sau đây là sơ lược về các hormone điều hòa glucose, chức năng của chúng và nguồn gốc (các cơ quan sản sinh ra chúng).
Các hormone CHÍNH điều hòa lượng đường huyết (BG) được tiết ra bởi tuyến tụy - cụ thể là tuyến tụy nội tiết - chiếm khoảng 2% cơ quan; 85% còn lại là tuyến tụy ngoại tiết, phần này sản xuất các enzyme tiêu hóa. 13% còn lại là hệ thống ống dẫn và mao mạch hỗ trợ các chức năng của cơ quan.

Tuyến tụy nội tiết, hay còn gọi là “các đảo Langerhans”, sản xuất sáu loại hormone chính khác nhau, từ năm loại tế bào khác nhau. TẤT CẢ chúng đều tham gia vào quá trình điều hòa đường huyết - hệ thống mà tất cả các động vật có xương sống duy trì lượng đường huyết (glucose) cần thiết trong cơ thể. Các hormone này được tiết vào máu thông qua hệ thống mao mạch tuyến tụy. Chúng bao gồm 6 loại tế bào chức năng điều hòa lượng đường và 14 chất vận chuyển đường sau đây :

1-Tế bào alpha sản xuất và tiết ra hormone glucagon
Đây là hormone chính làm tăng lượng đường huyết bằng cách kích hoạt giải phóng glycogen từ gan, chuyển hóa trở lại thành glucose và tiết vào máu. Glycogen là dạng dự trữ của glucose, chứa nhiều phân tử đường (và tất cả các loại carbohydrate) – Carbon, Hydro và Oxy - trong một cấu trúc đặc hơn, do đó có thể lưu trữ nhiều hơn trong không gian ít hơn. Glycogen cũng ổn định hơn glucose - một lợi thế quan trọng để dự trữ. Glucose KHÔNG được dự trữ dưới dạng glucose.

2-Tế bào beta sản xuất và tiết ra hai hormone chính - insulin và amylin.
Chúng ta có thể sống mà không cần amylin - nhưng không thể sống thiếu insulin; đây là lý do tại sao bệnh nhân tiểu đường loại 1 (tiểu đường tự miễn loại 1) phải tiêm insulin suốt đời để duy trì sự sống; chính là các tế bào beta này bị hệ thống miễn dịch của chúng ta phá hủy, và nếu không có chúng, chúng ta sẽ không có insulin hoặc amylin. Insulin là hormone chính làm giảm lượng đường huyết bằng cách tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển nó từ máu vào các tế bào của cơ thể. Ở đó, nó hoặc được đốt cháy bởi hoạt động của các tế bào - hoặc được lưu trữ dưới dạng chất béo. Tất nhiên, trước khi chất béo được hình thành, glucose được chuyển hóa thành glycogen và dự trữ trong gan (để sử dụng chúng khi đường huyết thấp) hoặc trong các cơ dài (để các cơ đó sử dụng khi hoạt động). Nếu lượng glycogen dự trữ trong gan và cơ dài đạt mức tối đa, thì quá trình tích trữ chất béo (tạo mỡ) mới bắt đầu. Tất cả quá trình này đều được điều hòa bởi insulin.

Amylin có chức năng ít quan trọng hơn - nhưng vẫn có vai trò quan trọng. Nó ức chế sự giải phóng glucagon bởi các tế bào alpha - vì vậy khi cần insulin để hạ đường huyết, các tế bào alpha sẽ không kích hoạt việc giải phóng thêm glucose. Và nó gửi tín hiệu no đến não - báo hiệu rằng bạn không còn đói nữa (điều này là bình thường nếu đường huyết của bạn đủ cao để cần đến hormone insulin). Nó cũng làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày, do đó làm chậm sự tăng đường huyết sau bữa ăn.

3-Tế bào Delta sản sinh và tiết ra somatostatin. Di-polypeptide này có nhiều chức năng, khi kết hợp lại, giúp làm chậm quá trình tiêu hóa ở ruột – và làm chậm sự tăng đường huyết. Nhưng vai trò chính của nó là điều hòa glucagon và insulin – về cơ bản là “bật” và “tắt” sự giải phóng của hai hormone này. Vì vậy, đây là hormone chính điều chỉnh hormone nào trong hai hormone này đang được giải phóng một cách chủ động. Somatostatin cũng được sản sinh bởi vùng dưới đồi và ruột.

4-Tế bào Gamma sản sinh và tiết ra polypeptide tuyến tụy.
Để giảm cảm giác thèm ăn.

5-Tế bào Epsilon sản sinh và tiết ra ghrelin, được gọi là “hormone gây đói”. Hormone này chỉ mới được phát hiện gần đây (năm 2002), và hiện nay chúng ta biết rằng ghrelin có nhiều tác dụng hơn là chỉ gây đói. Nó cũng kích thích giải phóng hormone tăng trưởng, giải phóng axit dạ dày và nhu động ruột, ức chế sinh nhiệt, và có tác dụng chống viêm và điều hòa miễn dịch. Các tế bào này cũng được tìm thấy trong dạ dày và các cơ quan khác.

Từ đó, xuất hiện THÊM một số hormone khác ảnh hưởng đến quá trình chuyển hóa/phản ứng đường huyết - những hormone này đến từ các nguồn khác.

6-Tế bào L ở ruột non.
Nằm ở hồi tràng xa và đại tràng, cũng như hỗng tràng và tá tràng, tiết ra hai loại GLP-1(Glucagon Like Peptide 1) và GIP (Glucose-dependent Insulinotropic Polypeptide – chúng báo hiệu cho các tế bào beta giải phóng insulin. Chúng cũng báo hiệu cho các tế bào alpha ức chế tiết glucagon – đó là lý do tại sao amylin không quan trọng. GLP-1 cũng làm chậm tốc độ làm rỗng dạ dày (làm chậm tốc độ hấp thụ glucose) và báo hiệu cho não rằng bạn đã no.

Có 14 chất vận chuyển đường gọi là GLUT (Glucose Transporters) nàm trong ba nhóm :
Chúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển glucose qua màng tế bào bằng khuếch tán được hỗ trợ, khi được kích hoạt bởi insulin - mà insulin không thể tự thực hiện được trong các tế bào sử dụng chúng. Các chất vận chuyển này được sản xuất ở nhiều mô khác nhau –

a-Tế bào beta tuyến tụy (sản xuất insulin) sản xuất một loại.
b-Hệ thần kinh trung ương (CNS) sản xuất một số loại.
c-Một số được sản xuất trong hoặc gần các mô mà chúng phục vụ.

Epinephrine (hay còn gọi là “adrenaline”) được giải phóng từ các đầu dây thần kinh và tuyến thượng thận.
Nó tác động trực tiếp lên gan để kích thích giải phóng glycogen và chuyển hóa nó trở lại thành glucose (thông qua một quá trình gọi là glycogenolysis) để làm tăng đường huyết - tương tự như glucagon.

Cortisol là một hormone steroid cũng được tiết ra bởi tuyến thượng thận. Nó tăng cường sản xuất glucose của gan - VÀ làm tăng kháng insulin trong mô mỡ, do đó làm tăng mức đường huyết.

Hormone tăng trưởng, được giải phóng bởi tuyến yên, cũng làm tăng kháng insulin trong mô mỡ VÀ mô cơ, về cơ bản làm “tê liệt” các mô này đối với tác dụng của insulin - và do đó ngăn mức đường huyết giảm quá thấp.
Đối với phụ nữ, estrogen và progesterone thường có tác động đáng kể đến mức đường huyết của họ trước và trong thời kỳ kinh nguyệt; không may là, tác động này khác nhau ở mỗi bệnh nhân; Đối với hầu hết phụ nữ, chu kỳ kinh nguyệt làm tăng lượng đường huyết; nhưng đối với một số người, nó lại làm giảm lượng đường huyết. Estrogen và progesterone thường gây ra tình trạng kháng insulin ở tế bào, do đó làm tăng lượng đường huyết; nhưng điều này không đúng với tất cả phụ nữ - vì vậy điều quan trọng là chỉ cần nhận thức rằng trong giai đoạn này của chu kỳ kinh nguyệt hàng tháng, lượng đường huyết có thể "lệch" so với bình thường.

Có 6 loại hormone chính điều hòa đường huyết cơ bản:
3 hormone làm giảm đường huyết: Insulin, Amylin, Polypeptide tuyến tụy,

2 hormone làm tăng đường huyết: Glucagon, Ghrelin
1 hormone điều hòa đường huyết: Somatostatin

Các cơ quan chủ yếu tham gia vào quá trình điều hòa đường huyết bao gồm tuyến tụy, hệ thần kinh trung ương, đường tiêu hóa (ruột non, ruột già, đại tràng và tá tràng), gan và các cơ dài;
Nhưng TẤT CẢ các mô trong cơ thể chúng ta đều tham gia vào quá trình điều hòa glucose - mỗi tế bào sống đều cần glucose để tạo ra năng lượng sống ở cấp độ tế bào

Kết luận :

Nếu không có glucose, chúng ta sẽ chết theo hai cách.
Điều quan trọng chúng ta chết vì tế bào trong cơ thể bị đói do thiếu dường.

Cách chết thứ nhất vì kiêng sợ đường
Do không ăn tinh bột đường hay thực phẩm có đường khiến cơ thể sụt cân mất thịt, gọi là chết đói suy dinh dưỡng.

Khi một người chết vì đói - đó là do thiếu glucose; điều này gây ra một quá trình gọi là nhiễm toan ceton do đói, trong đó cơ thể "đốt cháy" tất cả chất béo... VÀ đốt cháy mô cơ để lấy đường nuôi tế bào khi điều đó xảy ra ở mức độ cao, có nghĩa là đo đường huyết cao không còn là đường dư thừa làm béo phì mà là cơ thể mất nhiều đường sụt cân, cơ thể trở nên có tính axit - và bệnh nhân chết. khi thử pH nước bọt là acid,
Cách chữa là phải ăn nhiều tinh bột đường, nhiều chất béo lành mạnh và ăn nhiều chất xơ để ổn dịnh đường huyết

Cách chết thứ hai thừa đường béo phì, vì cơ thể thiếu insulin dẫn đường vào nuôi tế bào nên lượng đường dư thừa không thể thoát ra đi vào tế bào được, nên tế bào cũng bị chết vì đói.- bởi vì nếu không có insulin, quá trình chuyển glucose VÀO tế bào KHÔNG THỂ xảy ra - và bệnh nhân thực sự chết vì đói, mặc dù có lượng glucose dư thừa trong máu - lượng glucose này KHÔNG THỂ "thoát ra" và đi vào tế bào.
Cách chữa là phải tập thể dục thay cho insulin làm tăng oxy, và hít dầu làm tăng oxy trong phổi đốt cháy đường và mỡ dư thừa để không bị thừa cân.
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 3 Tháng 1 27, 2026 11:07 am

PHẦN 25-Nguyên nhân ung thư đầu tiên là tế bào thiếu oxy,
Được phát hiện sớm bằng giấy quỳ thử nước bọt pH acid

Video : https://youtu.be/G6oycCZl760

A-NGUYÊN NHÂN UNG THƯ.
Cách chữa ung thư của tây y là chữa vào hậu quả khi phát hiện ra khối u ung thư đã thành hình đều là phát hiện muộn thuộc giai đoạn 4, mà không biết trước nó đã có dấu hiệu báo trước vài năm trước bằng cách thử pH nước bọt là acid từ thực phẩm và sử dụng thuốc làm giảm áp huyết tâm thu trong một thời gian dài đã làm giảm nồng độ oxy trong máu, mà tây y đã bỏ qua.
Làm sao biết cơ thể thiếu oxy trong máu, tây y có dụng cụ đo áp huyết, số thứ nhất là tâm thu, là tổng số lượng khí oxy trong cơ thề, lượng oxy hiển thị bằng số tâm thu tùy theo tuổi như bảng tiêu chuẩn áp huyết theo tuổi của môn học Khí Công Y Đạo.

Thí dụ như áp huyết của tuổi trung niên (41-59 tuổi) là :
120-130/70-80mmHg, nhịp tim 70-75.

Khi tuổi trung niên có áp huyết tâm thu cao đến 140-160mmHg, tây y phải cho dùng thuốc hạ áp huyết suốt đời là sai, khi dùng thuốc hạ áp huyết lọt vào tiêu chuẩn thì ngưng, thì tây y bắt phải uống thuốc suốt đời làm áp huyết xuống thấp khiến cơ thể thiếu oxy nuôi tế bào, thì thử pH nước bọt là acid, và tình trạng oxy trong máu giảm trong thời gian dài cho đến khi áp huyết lọt vào tiêu chuẩn áp huyết ung thư, lúc đó khối u ung thư đã thành hình, vì thế tế bào nào của các tạng phủ toàn thân thiếu oxy đều trở thành tế bào ung thư nên tây y gọi là di căn là quan niệm sai lầm.
Theo đông y, tất cả các bệnh dẫn đến ung thư đều là bệnh hư chứng là thiếu dương khí oxy, thiếu lượng máu nuôi tế bào, nhịp mạch quá cao là trong người quá nóng hay quá thấp là trong người quá lạnh, đối chiếu với cách bắt mạch bằng máy đo áp huyết của tây y thì cho ra kết quả cụ thể bằng số đo áp huyết như :

1-Các giai đoạn ung thư :
Ung thư giai đoạn 1 khi có áp huyết tâm thu thấp dưới 90mmHg, là thiếu khí oxy cấp 1, tây y vẫn chưa phát hiện.
Ung thư giai đoạn 2 khi áp huyết tâm thu thấp dưới 85mmHg, là thiếu oxy cấp 2, tây y cũng chưa thấy mô tế bào ung thư,
Ung thư giai đoạn 3 khi áp huyết tâm thu thấp dưới 80mmHg là thiếu oxy cấp 3, tây y cũng chưa thấy mô tế bào ung thư.
Ung thư giai đoạn 4 khi áp huyết tâm thu thấp dưới 75mmHg là thiếu oxy cấp 4, lúc đó tây y chụp X-quang hay CT scan mới thấy các khối u là giai đoạn muộn, nên khó chữa.
Như vậy phát hiện muộn là do chụp. scan, mới thấy, còn ngược lại biết chẩn đoán bệnh ung thư bằng máy đo áp huyết thì đã biết trước dấu hiệu ung thư nguyên nhân do thiếu oxy nuôi tế bào.

2-Cách chữa : Kiềm hóa cơ thể là chìa khóa chống ung thư.
Vì thế đã có một bác sĩ người Đức tên- Otto Heinrich Warburg đoạt giải Nobel, vào năm 1931 đã phát hiện ra các tế bào ung thư đều có pH thử nước bọt là acid, và theo nghiên cứu của nhà bác học đã đoạt giải Nobel y học này áp dụng cách chữa là Kiềm hóa cơ thể là chìa khóa chống ung thư.

Sự cân bằng axit – kiềm trong cơ thể đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì một cơ thể khỏe mạnh. Cơ thể nhiễm axit trong một thời gian dài sẽ làm thay đổi môi trường máu, các mô và tế bào, và làm giảm nồng độ oxy trong máu. Đây chính là sự khởi đầu của ung thư. Do đó, kiềm hóa cơ thể là một giải pháp quan trọng trong phòng chống ung thư.

3-Cơ sở khoa học của việc kiềm hóa cơ thể
Sự cần thiết kiềm hóa cơ thể dựa trên khám phá của nhà sinh học nổi tiếng người Đức Otto Heinrich Warburg (8/10/1883 – 1/8/1970), người đoạt giải Nobel Sinh lý học và Y khoa năm 1931. Ông đã phát hiện ra nguyên nhân gốc rễ của ung thư là do sự thiếu hụt oxy trong tế bào, từ đó tạo ra tính axit trong cơ thể.
Để cơ thể khỏe mạnh và hạn chế tối đa khả năng phát sinh bệnh tật thì môi trường axit-kiềm trong máu, mô, tế bào phải luôn ở trạng thái cân bằng, có độ pH ở mức kiềm nhẹ với thang điểm lý tưởng là pH=7,365. Khi độ pH<7,365, sẽ xảy ra tình trạng cơ thể nhiễm axit. Môi trường cơ thể nhiễm axit sẽ lại gây ra tình trạng thiếu oxy.
Ông cũng chỉ rõ: “Tất cả các hình thức của bệnh ung thư được đặc trưng bởi hai điều kiện cơ bản: nhiễm axit và giảm oxy (thiếu oxy). Thiếu oxy và axit là hai mặt của một đồng xu: khi mà bạn có mặt này thì tất yếu bạn sẽ có mặt bên kia”.
Khám phá của Warburg cho thấy rằng các tế bào ung thư sống và phát triển mạnh trong môi trường độ pH thấp (axit), ở thang điểm <6,0 do hai nguyên nhân chính là cơ thể sản xuất axit lactic và tăng CO2. Tình trạng này lại có mối quan hệ trực tiếp với nồng độ oxy thấp trong máu. Khi độ pH cao, nghĩa là kiềm hóa cơ thể tốt thì cơ thể ở trạng thái kiềm và đồng nghĩa với việc nồng độ của các phân tử oxy cao; ngược lại, khi pH thấp cơ thể nhiễm axit, nghĩa là nồng độ oxy thấp.
Như vậy, nghiên cứu của ông cho thấy tầm quan trọng của việc kiềm hóa cơ thể, bởi các tế bào và khối u ung thư chỉ sống và phát triển mạnh mẽ trong môi trường axit, nghĩa là có độ pH thấp, thường ở mức pH<6,0. Bởi vậy kiềm hóa cơ thể là một trong số những chiến lược tối quan trọng để ngăn chặn và đẩy lùi ung thư.

4-Hệ quả của việc không kiềm hóa cơ thể là gì?
Nếu không được kiềm hóa cơ thể, lâu ngày sẽ đưa đến trình trạng cơ thể nhiễm axit và nếu tình trạng này kéo dài sẽ làm thay đổi môi trường máu, các mô và tế bào, gây ra tình trạng giảm nồng độ oxy trong máu và oxy tế bào. Những hiệu ứng do môi trường cơ thể nhiễm axit đem lại bao gồm:
– Các tế bào, mô và cơ quan không nhận đủ lượng oxy nên chúng bị suy giảm chức năng hoặc chết. Thiếu oxy gây tổn thương màng tế bào và ty thể (nhà máy sản xuất năng lượng của tế bào) và khả năng giao tiếp giữa chúng. Để tồn tại, các tế bào, mô sẽ phải lấy năng lượng từ quá trình lên men đường glucose và quá trình này sẽ lại thải ra nhiều axit lactic. Nồng độ cao axit lactic lại tiếp tục làm cho tình trạng cân bằng axit-kiềm bị phá vỡ, trở nên trầm trọng hơn và hệ quả tiếp theo là làm cơ thể nhiễm axit nặng hơn và làm giảm nồng độ oxy trong tế bào và cơ thể.
– Khi cơ thể nhiễm axit, độ pH của máu ở mức <7,365, các hồng cầu có xu hướng kết dính, dòng chảy của máu bị chậm lại, gây tình trạng tù đọng, khó đi vào mao mạch nên nguy cơ các tế bào, mô bị “ngạt” do thiếu oxy. Các hiệu ứng này tạo thành vòng xoáy và hệ quả cuối cùng là phát sinh bệnh.

Môi trường cơ thể thiếu oxy là “mảnh đất” tốt cho các chất độc và các vi sinh vật có hại phát triển, sinh sôi nảy nở. Chúng sẽ ngăn cản việc hấp thụ và sử dụng hoặc sẽ “chiếm đoạt” oxy và các chất dinh dưỡng như axit amin, vitamin, chất khoáng để sử dụng, làm cho cơ thể thiếu “nguyên liệu” cho quá trình sản xuất các enzyme, hooc-môn và nhiều chất sinh-hóa cần thiết khác để tạo ra năng lượng cho các tế bào, mô, cơ quan và cho hoạt động sửa chữa tế bào lỗi.

5-Các tế bào có ADN bị lỗi
– Các hiệu ứng đề cập ở trên tạo thành một vòng xoắn, hiệu ứng này thúc đẩy sự gia tăng của hiệu ứng kia và hệ quả là gây tổn hại tới ADN của các tế bào và enzym hô hấp. Các tế bào có ADN lỗi sẽ phát sinh hàng loạt trong khi khả năng sửa chữa của cơ thể và hệ miễn dịch lại bị suy giảm. Khi đó ung thư và nhiều bệnh nan y khác xuất hiện và phát triển mạnh mẽ.
Lý thuyết của Warburg cho đến nay vẫn gây tranh cãi trong giới y khoa bởi nhiều nhà khoa học cho rằng nguyên nhân sinh ra ung thư không chỉ là sự mất cân bằng axit-kiềm mà còn liên quan đến rất nhiều yếu tố khác như đột biến gen, di truyền v.v. Tuy nhiên cũng không thể phủ nhận rằng một chế độ dinh dưỡng có tính kiềm sẽ mang lại lợi ích cho cơ thể.

6-Cách thức điều chỉnh độ cân bằng axit-kiềm trong cơ thể
Có một thực tế rằng, hàng ngày 80% những gì chúng ta đưa vào cơ thể đều có tính tạo axit. Điều này dẫn đến việc hệ thống đệm phải hoạt động liên tục. Nếu kéo dài trong nhiều năm sẽ dẫn đến khả năng xử lý của hệ thống đệm kém đi, lúc đó sẽ phát sinh ung thư và nhiều bệnh khác. Bởi vậy, việc kiềm hóa cơ thể cần thực hiện hàng ngày.

B-CÁCH ĐIỀU CHỈNH THỨC ĂN CÓ TÍNH KIỀM

1-Phân loại nhóm thực phẩm theo độ pH
Những cách thức để điều chỉnh sự cân bằng axit-kiềm trong cơ thể:
1. Chế độ ăn tăng cường các loại trái cây và rau quả (đặc biệt là các loại có màu xanh đậm) giúp cải thiện tỉ lệ K+/Na+, những yếu tố quan trọng giúp điều hòa điện giải và cân bằng môi trường trong cơ thể.
2. Hạn chế các loại thực phẩm giàu tính axit như tinh bột, đường hoá học, đường tinh luyện, thịt đỏ.
3. Uống nhiều nước mỗi ngày. Nước tham gia trong mọi quá trình trao đổi chất, ion, cũng như hoạt động sinh lý, tâm lý của cơ thể. Nước giúp cân bằng nội môi và giải độc cơ thể. Tránh xa các loại nước ngọt vì chúng tạo môi trường axít và gây ra hàng loạt bệnh tật.
4. Ngủ đủ giấc. Khi ngủ, do thở sâu hơn thức nên axít dư thừa sẽ được thải trừ ra ngoài cơ thể. Giấc ngủ sâu tạo ra môi trường kiềm.
5. Hít thở sâu. Hít thở sâu cũng là một trong những cách giúp kiềm hóa cơ thể, bằng cách đẩy những độc tố trong cơ thể ra ngoài bằng hơi thở.( đã được môn Khí Công Y Đạo áp dụng từ trước đến nay)
Để phòng chống ung thư hình thành và phát triển thì kiềm hóa cơ thể là một giải pháp cần thiết, đòi hỏi phải được thực hiện hàng ngày, liên tục và song hành với các giải pháp khác. Khi kiềm hóa cơ thể được thực hiện thì các gốc tự do gây hại nhanh chóng bị loại bỏ, môi trường xung quanh tế bào sẽ “quang đãng ” và “thông thoáng” hơn, nhờ vậy mà tế bào sẽ được cung cấp oxy nhiều hơn, và ung thư khó phát triển hơn.


C-TRƯỜNG HỢP ÁP HUYẾT TÂM THU TRONG TIÊU CHUẨN TỐT

1-Làm sao biết cơ thể thiếu oxy.
Như chúng ta đã biết trong cơ thể chúng ta sống khỏe mạnh là nhờ hơn 40 ngàn tỷ đơn vị tế bào là những chức năng điều hòa sự sống của con người, với điều kiện con người phải cung cấp năng lượng nuôi tế bào bằng những thực phẩm chúng ta ăn hằng ngày phải gồm đủ 4 chất căn bản nuôi tất cả các tế bào là glucose, protein, lipid, oxy. Như vậy tế bào trong cơ thể thiếu 1 trong 4 chất sẽ gây ra bệnh.
Theo bác sĩ Đức Otto Heinrich Warburg đã khám phá ra nguyên nhân bệnh ung thư là do cơ thể thiếu oxy.
Còn theo bác sĩ Alexey Krivenko, Người đánh giá y khoa, đã giải thích trong bài đánh giá ngày ngày 24 tháng 11 năm 2025 như sau :
Thiếu oxy, hay thiếu oxy mô, xảy ra khi quá trình sản xuất năng lượng của cơ thể không đáp ứng được nhu cầu của các tế bào mô. Điều này xảy ra do độ bão hòa oxy trong máu, mô và phổi không đủ. Mô thần kinh phản ứng mạnh hơn với sự thiếu hụt này, dẫn đến thiếu oxy não, nhưng thiếu oxy cũng có thể được quan sát thấy ở các cơ quan khác.

2-Nguyên nhân gây thiếu oxy
Nhiều yếu tố có thể gây ra tình trạng bệnh lý nghiêm trọng. Chúng được chia thành hai loại nguyên nhân chính: nguyên nhân bên ngoài và nguyên nhân bên trong.

a-Các nguyên nhân bên ngoài phổ biến nhất là:
độ bão hòa oxy trong môi trường thấp;
tắc nghẽn đường thở;
nhiều bệnh cấp tính và mãn tính khác nhau.
Yếu tố rủi ro :
ở lâu trong phòng chật hẹp và thông gió kém;
ở vùng núi cao so với mực nước biển;
điều kiện môi trường bất lợi;
ngộ độc khí carbon monoxide.

b-Trong số các nguyên nhân bên trong, những nguyên nhân sau đây chiếm ưu thế:
mất máu do chấn thương;
thiếu máu;
bệnh tim mạch;
ngộ độc chất độc;
tăng tiêu thụ oxy trong quá trình lao động thể chất nặng nhọc khi không thể cung cấp đủ oxy.
Yếu tố rủi ro
Thiếu oxy cũng có thể do ngạt thở khi dị vật xâm nhập đường thở, hẹp do phù nề dị ứng, chèn ép cơ học, hình thành khối u hoặc đuối nước. Hen phế quản, viêm phế quản tắc nghẽn và viêm phổi cũng góp phần gây ra tình trạng này.

3-Sinh bệnh học
Thiếu oxy có liên quan đến sự gián đoạn trong các phản ứng chuyển hóa: sự tích tụ năng lượng dưới dạng ATP (adenosine triphosphate), thu được trong quá trình oxy hóa chất dinh dưỡng, trong ty thể của tế bào. Sinh bệnh học của tình trạng thiếu oxy dựa trên sự không có khả năng cung cấp năng lượng cho các quá trình sống do sản xuất không đủ.

4-11 chứng thiếu oxy
Các biểu hiện của thiếu oxy phụ thuộc phần lớn vào nguyên nhân và tuổi của người bệnh. Dấu hiệu đầu tiên là thở nhanh, sâu và ngáp thường xuyên. Cảm giác hưng phấn nhẹ và một mức độ kích động nhất định cũng có thể xảy ra. Nếu không bổ sung oxy trong một thời gian dài, các triệu chứng khác có thể xuất hiện:

khó thở, đánh trống ngực;
đau đầu, chóng mặt, giảm khả năng tư duy;
rối loạn giấc ngủ;
đổ mồ hôi, yếu ớt và ra mồ hôi;
da xanh xao và tím tái;
co giật.

Tùy thuộc vào nguyên nhân và cơ chế phát triển của bệnh lý, nó được chia thành nhiều loại:

Thiếu oxy mô
– liên quan đến sự hấp thụ oxy mô bị suy giảm và sự mất cân bằng trong các quá trình oxy hóa và phosphoryl hóa sinh học – các phản ứng sinh hóa quan trọng. Quan sát thấy trong các trường hợp nhiễm phóng xạ, nhiễm độc muối kim loại nặng và nhiễm độc carbon monoxide;

Thiếu oxy não:
điều này là do tuần hoàn não bị suy giảm. Thiếu oxy cấp tính gây phù não, hôn mê, những thay đổi không thể hồi phục trong mô thần kinh và thường dẫn đến tử vong. Dạng mãn tính có thể kéo dài nhiều năm và biểu hiện bằng sự mệt mỏi dai dẳng và giảm khả năng làm việc.

Thiếu oxy tinh thể,
được biết đến nhiều hơn với tên gọi bệnh tim thiếu máu cục bộ. Việc cung cấp máu không đủ cho tim thường liên quan đến xơ vữa động mạch. Các mảng cholesterol tích tụ trên thành mạch, làm hẹp lòng mạch. Khi đường kính của động mạch vành giảm đi một nửa, sẽ xảy ra đau ngực và các cơn đau thắt ngực (cảm giác khó thở).

Thiếu oxy trong máu:
giảm thể tích oxy. Hiện tượng này thường do nồng độ hemoglobin thấp (thiếu máu), một loại protein vận chuyển oxy, cũng như do tình trạng hydremia (máu loãng đáng kể).

Thiếu oxy trong mạch máu –
thiếu oxy tuần hoàn xảy ra khi thể tích máu giảm đáng kể do nhồi máu cơ tim và các rối loạn tim mạch khác, hoặc do mất máu nhiều.

Thiếu oxy phổi –
Thiếu oxy hô hấp là kết quả của các bệnh về cơ quan hô hấp, rối loạn chức năng của chúng, hoặc tắc nghẽn cơ học đường thở, bao gồm cả sự xâm nhập của dị vật. Trao đổi khí ở phổi bị suy giảm dẫn đến giảm áp suất oxy động mạch.

Thiếu oxy ở da:
1 đến 2% quá trình trao đổi khí của cơ thể diễn ra qua da. Oxy từ không khí đi vào lỗ chân lông, vào máu và thải ra carbon dioxide. Sự mất cân bằng trong quá trình hô hấp dẫn đến sự suy giảm tất cả các chức năng tế bào và gây hại cho tình trạng của lớp biểu bì: nó góp phần làm da xỉn màu, xuất hiện phát ban da và lão hóa sớm.

Thiếu oxy trong thể thao
là tình trạng quá tải, liên quan đến sự gắng sức thể chất mạnh mẽ của các mô hoặc cơ quan, khi nhu cầu oxy bổ sung đột ngột phát sinh. Đây là cách mà tình trạng thiếu oxy trong cơ bắp xảy ra;

Hút thuốc và thiếu oxy là hai khái niệm phụ thuộc lẫn nhau. Ngoài chức năng chính, phổi của người hút thuốc cũng phải hấp thụ nicotine và khói thuốc. Chỉ khi bỏ thói quen xấu này thì lượng không khí hít vào mới tăng lên.

Thiếu oxy cấp tính
Hình ảnh lâm sàng của bệnh được đặc trưng bởi một số dạng. Một trong số đó là dạng diễn tiến nhanh, phát triển sau khi hít phải khí độc hoặc bị chèn ép khí quản.

Dạng cấp tính không xảy ra nhanh chóng và biểu hiện như sự giảm áp suất khí quyển đột ngột, nhồi máu cơ tim hoặc hít phải khí carbon monoxide vào hệ hô hấp.

Nó đi kèm với giảm nhịp tim, khó thở, thở không đều và suy giảm chức năng cơ thể. Trong trường hợp này, bất động từ 2 đến 3 giờ có thể dẫn đến tử vong. Ví dụ, tử vong có thể xảy ra trong một chiếc xe đóng kín với động cơ đang chạy, trong một ngôi nhà được sưởi ấm bằng bếp lò, hoặc trong trường hợp rò rỉ khí gas trong nhà bếp.

Thiếu oxy mãn tính
Loại thiếu oxy này xảy ra sau khi tiếp xúc kéo dài với bầu không khí thiếu oxy. Nó biểu hiện như chứng tăng hồng cầu (tăng số lượng hồng cầu và hemoglobin trong máu) và suy giảm chức năng sống. Các triệu chứng tương tự như ngộ độc rượu xuất hiện: mệt mỏi, buồn nôn, chóng mặt, mất khả năng phối hợp, và thường là tiểu tiện và đại tiện không tự chủ.
Thời gian của giai đoạn mãn tính thay đổi từ ngắn hạn đến vài năm.

5-Biến chứng và Hậu quả
Thiếu oxy dẫn đến các rối loạn nghiêm trọng của cơ thể, thậm chí tử vong. Hậu quả phụ thuộc vào thời gian mắc bệnh và khả năng duy trì các cơ chế bù trừ của cơ thể. Não có thể chịu đựng được tình trạng thiếu oxy từ 3 đến 5 phút, trong khi thận và gan có thể chịu đựng được đến 40 phút.

Nếu tình trạng thiếu oxy được khắc phục nhanh chóng, kết quả thường tốt. Ngược lại, các biến chứng như suy giảm miễn dịch đáng kể, chứng mất trí nhớ, bệnh Parkinson, các vấn đề về trí nhớ và thoái hóa mỡ ở cơ tim, gan và cơ bắp là điều đáng lo ngại.

6-Chẩn đoán thiếu oxy
Để chẩn đoán, bạn sẽ cần xét nghiệm máu tổng quát và xét nghiệm sinh hóa (xác định tình trạng của tất cả các cơ quan), trong đó hemoglobin, trọng lượng riêng của nó và mức ATP rất quan trọng.

Sử dụng máy đo oxy xung (một thiết bị y tế không xâm lấn như đo sự thẩm thấu oxy SpO2), độ bão hòa oxy của máu động mạch được xác định trong trường hợp suy hô hấp. Để chẩn đoán thiếu oxy, có thể sử dụng các phương pháp cận lâm sàng như điện tâm đồ, MRI, CT scan và siêu âm các cơ quan.

7-Chẩn đoán phân biệt
Thiếu oxy là một quá trình bệnh lý phổ biến, vốn có trong cơ chế bệnh sinh của bất kỳ bệnh nào. Chẩn đoán phân biệt nhằm mục đích thiết lập một chẩn đoán chính xác để xác định nguyên nhân cơ bản càng nhanh càng tốt và hướng các nỗ lực vào việc loại bỏ nó.

D-ĐIỀU TRỊ THIẾU OXY

1-Tiêm oxy
Các biện pháp điều trị chính bao gồm loại bỏ tình trạng thiếu oxy. Để đáp ứng nhu cầu oxy của tế bào, liệu pháp oxy cao áp được sử dụng, một thủ thuật bao gồm tiêm oxy vào phổi dưới áp suất. Bằng cách này, oxy đi vào máu trực tiếp mà không tương tác với hồng cầu, làm giãn các mạch máu trong não và tim.

2-Truyền máu
Trong trường hợp thiếu oxy trong mạch máu, thuốc tăng cường chức năng tim và thuốc hạ huyết áp được chỉ định. Để bão hòa máu, truyền máu được thực hiện, máu được lọc, và các enzyme, glucose và hormone steroid được kê đơn. Thiếu máu được điều trị bằng cách bổ sung sắt. Thuốc an thần kinh cũng được chỉ định để giảm phản ứng với các kích thích bên ngoài và căng thẳng tâm thần vận động.

3-Điều trị vật lý trị liệu
Các phương pháp vật lý đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tình trạng thiếu oxy. Chúng bao gồm các loại cocktail oxy: các loại trà thảo dược được làm giàu oxy cho đến khi tạo ra bọt nhẹ.

Vật lý trị liệu giúp tăng cường cơ vòng, điều này rất quan trọng để loại bỏ chứng thoái hóa cột sống, gây chèn ép động mạch đốt sống và các mạch máu ở vùng cổ, do đó ngăn cản dòng máu lưu thông hoàn toàn lên não. Ngoài ra, các cơ hô hấp cũng được tăng cường.

Liệu pháp áp lực cũng được sử dụng – cùng với dẫn lưu bạch huyết bằng vật liệu, liệu pháp hang động, liệu pháp bùn, xoa bóp và các thủ thuật vật lý trị liệu khác theo chỉ định.

4-Các biện pháp dân gian
Các bài thuốc truyền thống được sử dụng trong trường hợp thiếu oxy mãn tính. Ví dụ, để bình thường hóa quá trình trao đổi chất của cơ tim, người ta sử dụng các loại cây như ích mẫu, tía tô chanh, táo gai và nữ lang. Nước dùng yến mạch và hỗn hợp mật ong và...
Hydrogen peroxide đã trở nên rất phổ biến trong điều trị nhiều bệnh khác nhau, bao gồm cả tình trạng thiếu oxy, vì nó đóng vai trò trong các quá trình trao đổi chất, hấp thụ nhiều vitamin và khoáng chất, và loại bỏ độc tố khỏi cơ thể. Việc sử dụng nó phổ biến hơn khi dùng ngoài da, nhưng trong trường hợp này, nó được dùng để uống. Để làm điều này, người ta sử dụng dung dịch 3%. Bắt đầu với một giọt peroxide cho hai thìa canh nước. Uống dung dịch 30 phút trước bữa ăn, ba lần một ngày, tăng dần lên 10 giọt. Sau đó nghỉ hai ngày và tiếp tục liệu trình 10 ngày với 10 giọt. Sau một thời gian nghỉ ba ngày nữa, bạn có thể lặp lại chu kỳ.

Phòng ngừa
Cách tốt nhất để ngăn ngừa thiếu oxy là lối sống năng động, tiếp xúc lâu dài với không khí trong lành, thông gió phòng, đi bộ, bơi lội, hạn chế hoạt động thể chất gắng sức, hỗ trợ y tế kịp thời cho các bệnh lý hiện có và tránh các sự kiện gây chấn thương.
Thiếu oxy đột ngột không có cơ hội sống sót. Trong trường hợp thiếu oxy cấp tính, mọi thứ phụ thuộc vào tốc độ phản ứng và hỗ trợ. Thiếu oxy mãn tính mang lại nhiều cơ hội cho kết quả khả quan.

5-Phương pháp tăng kiềm tiêu diệt tế bào ung thư của môn Khí Công Y Đạo.
Đề phòng khi chưa bị ung thư và cách chữa đang bị ung thư, đều phải dùng giấy quỳ thử nước bọt theo dõi thức ăn uống, thuốc uống và cách hít thở mỗi ngày, trước và sau mỗi bữa ăn.

a-Cách thử pH thức ăn, thuốc uống.
Phải tin vào giấy quỳ thử pH, chứ không tin vào công dụng của thuốc tây, hay công dụng của các loại thức ăn nước uống, nếu thử có pH acid thì cấm không được dùng, nếu không tế bào ung thư sẽ tăng trưởng thành di căn toàn thân.
Nếu thức ăn thuốc uống thư pH là kiềm, ra mầu xanh, còn thì thử pH nước bọt trước là pH acid, thì sau khi ăn 60 phút, thử lại pH nước bọt mỗi ngày theo tời gian pH thử nước bọt bớt mầu vàng mà tăng dần lên mầu xanh là các tế bào ung thư trong người giảm dần, có nghĩa ung thư giai đoạn 4 có áp huyết tâm thu dưới 80mmHg trở lại giai đoạn 3, rồi trở lại giai đoạn 2, rồi trở lại giai đoạn 1, rồi trở lại có tâm thu cao trên 100mmHg, nhưng vẫn phải duy trì phòng ngừa tái phát nếu thử pH nước bọt có mầu vàng luc đó gọi là ung thư tái phát.

b-Tăng cường chất kiềm bằng baking soda pha đường sau mỗi bữa ăn trưa 1 tiếng
Sau khi ăn 1 tiếng để bao tử chuyển hóa thức ăn thành máu, thức ăn còn lại trong bao tử không chuyển hóa hết thì sẽ làm tăng acid trong bao tử và làm tăng men gan cao lại là nguyên nhân cho tế bào ung thư phát triển trong môi trường acid lảm giảm oxy trong máu.
Đyể đề phòng hay để tiêu diệt tế bào ung thư phải uống 1 thìa cà phê baking soda pha 5 thìa cà phê đường cát vàng, uống xong, nằm úp bụng lên chai thủy tinh đựng nước nóng 40 độ C thời gian lâu 30 phút để baking soda kiềm hóa acid trong bao tử và phá vỡ thức ăn còn lại trong bao tử đóng cục xuống ruột

c-Cách tập hít thở mạnh làm tăng oxy cũng làm thay đổi tạm thời pH acid thành pH kiềm.
Trước khi tập đo áp huyết 2 tay và đo đường huyết, có áp huyết như 95/60mmHg nhịp tim 65, dùng dầu gió xanh hay dầu tràm (khuynh diệp) hay Linh Nam Ultra Balm, bôi vào lòng bàn tay cho xông ra mùi dầu, rồi để bàn tay vào mũi hít vào thật mạnh thật sâu 50 lần cho mùi dầu thông mũi lên đến óc và vào phổi. Sau đó đo lại áp huyết tâm thu tăng trên 100mmHg, tâm trương thấp 60 cũng tăng lên 70 là tăng lượng máu, nếu tâm trương cao như 90 là tăng cholesterol sẽ giảm xuống 70 là chữa bệnh gan nhiễm mỡ, nhưng đặc biệt trước khi tập hít thở mạnh sâu 50 lần bằng tinh dầu thì thử pH mầu vàng là acid, sau khi tập thử pH nước bọt là màu xanh là kiềm, chứng tỏ tâm thu tăng là tăng oxy cũng làm tăng kiềm, phối hợp cả hai cùng làm giảm acid trong cơ thể thì tế bào ung thư giảm dần, bướu ung thư nhỏ dần teo mất.

Xin lưu ý :
Tất cả các phương pháp nhịn ăn, thụt rửa ruột, xổ độc, day bấm huyệt, châm cứu, máy hồng ngoại hay thuốc đông tây y đang chữa ung thư hay chữa ung thư bằng rau thìa canh, lá đu đủ, hoặc tây y tuyên bố khỏi bệnh là không thấy khối u hay tế bào ung thư. …

Chúng ta cần thử giấy quỳ mỗi ngày nếu còn acid thì ung thư sẽ tái phát. Những ai đang theo mọi phương pháp chữa ung thư nên mua giấy quỳ thử pH nước bọt mỗi ngày để biết chúng ta đang theo phương pháp đó đúng hay sai để khỏi bị chết oan uổng mạng.
Phương pháp chữa ung thư bằng kiềm hóa đã có từ thời bác sĩ người Đức, tây y ngày nay cố tình không phổ biến vì không có lợi cho việc kinh doanh thuốc chữa bệnh theo y học hiện đại ngày nay.
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 3 Tháng 1 27, 2026 11:10 am

PHẦN 26- Những bệnh thiếu oxy và có pH acid
đã được kiểm chứng lại bằng giấy quỳ thử pH nước bọt

Video : https://youtu.be/EKZCSSGLIfE

A-Nguyên nhân.
1-Cơ thể thiếu oxy có 2 lý do:
1-Do áp huyết tâm thu thấp : là số hiển thị kết quả khí lực oxy tổng thể từ các thức ăn và sự hít thở của phổi mạnh hay yếu, nếu trong thức ăn không cung cấp đủ khí, vì trong thức ăn có 3 yếu tố là tính hàn hay nhiệt, khí là thăng hay giáng, vị là mặn, ngọt, chua, cay đắng, là chất dẫn chất bổ đi vào nuôi tế bào tạng phủ, và sự hít thở oxy của phổi phải đủ để chuyển hóa thức ăn thành, máu và tăng hồng cầu.
Tân thu bị giảm khí lực từ từ chúng ta dễ nhận thấy khi chúng ta bị bệnh áp huyết cao phải dùng thuốc hạ áp huyết xuống thấp dần, từ từ xuống dưới 100mmHg thì thử pH nước bọt sẽ ngả ra mầu vàng xanh là 6.5 thì phải ngưng không cần dùng thuốc hạ áp huyết nữa, nếu tiếp tục hạ áp huyết xuống pH 6 là nghiêng về acid là các tế bào thiếu oxy, các tế bào mô các cơ quan không nhận đủ oxy sẽ bị suy giảm chứ năng hoặc chết. Thiếu oxy gây tổn thương màng tế bào và ty thể (nhà máy sản xuất năng lượng của tế bào) và khả năng giao tiếp giữa chúng.
2- Khi phổi yếu không nạp đủ oxy nuôi tế bào, và mất oxy trong đường, vì để tồn tại duy trì sự sống, các tế bào, mô sẽ phải lấy năng lượng từ quá trình lên men đường glucose và quá trình này sẽ lại thải ra nhiều axit lactic. Nồng độ cao axit lactic lại tiếp tục làm cho tình trạng cân bằng axit-kiềm bị phá vỡ, trở nên trầm trọng hơn và hệ quả tiếp theo là làm cơ thể nhiễm axit nặng hơn và làm giảm nồng độ oxy trong tế bào và cơ thể.Và trong quá trình rút đường glucose trong các cơ thịt và mỡ có nghĩa phá vỡ công thức đường C6H12O6 để thải ra hai lần acid lactic 2(C3H6O3), nên mất đường pH kiềm lại tăng pH acid.
Điểm chú y ở đây mà chúng ta đã bị tây y lừa gạt là tế bào ăn đường nhiều hơn để phát triển tế bào ung thư, có vẻ là đúng, nhưng thật ra tây y có một loại virus gọi là tế bào ăn thịt người, làm teo cơ, teo thịt, chính là lấy năng lượng trong cơ thể trong quá trình rút đường glucose trong các cơ lên men trở thành acid cho tế bào ung thư phát triển.
Khác với đường glucose từ cơm tinh bột, protein, chất béo, rau củ quả từ thức ăn nạp vào cơ thể cái nào cũng phải được chuyển hóa thành đường, và cần phải có phổi hít thở mạnh tăng oxy cho đường của thức ăn chuyển hóa thành máu, và oxy của phổi duy tri oxy trong cơ thể không bị mất để luôn luôn có độ pH kiềm thì tế bào ung thư không có cơ hội rút đường để lên men nuôi tế bào ung thư.

B-Những bệnh thiếu oxy gây ra bệnh ung thư hay bệnh virus ăn thịt người

1-Bệnh thừa chất sắt.
Công thức máu là Fe2O3, thừa chất sắt là cơ thể chỉ còn Fe2, mất oxy thì pH là acid, Cách chữa là tăng cường oxy từ phổi, là xoa dầu gió xanh hay dầu khuynh diệp, dầu bạc hà, dầu camphre (căm pho), dầu salicylate…vào lòng bàn tay, đưa lên mũi hít thật mạnh và sâu cho hơi dầu vào trong phổi cho thông mũi và tăng cường phế khí cho mặt hồng hào, cho tăng áp huyết tâm thu.
Sau khi tập xong đo lại pH acid giấy quỳ thử nước bọt trước khi chưa tập hít dầu thì nó mầu vành hồng là acid, sau khi tập xong thì nó ngả mầu xanh kiềm, nhưng mầu xanh kiềm không giữ được lâu, chì sau 4 tiếng nó trở lại acid, vì sau 4 tiếng nhịp tim là tốc độ bơm máu sẽ chậm dần, người nóng sẽ lạnh dần, thì khí oxy đã mất không giữ được thân nhiệt, lúc ấy dùng máy thử đường thì bị tụt đường xuống dưới 6mmol/l, chứng tỏ thiếu đường dương glucose là đường cát vàng.

2-Phát hiện đường nào có oxy là pH kiềm thì dùng, đường nào có pH acid gây bênh thì không dùng như đường cát trắng và đường trái cây.
Chúng ta lại thử nghiệm xem đường nào là acid, đường nào là kiềm, cũng phải thử nước bọt bằng giấy quỳ, thì quả thật có loại đường là acid, có loại đường là kiềm, bất kể đo đường huyết cao hay thấp
Tính chất của đường có tính kiềm là nóng ấm, làm tăng oxy là làm tăng áp huyết tâm thu và tăng nhịp tim.
Các bạn phải dùng giấy quỳ thử trước khi ăn sau khi ăn để so sánh mầu của giấy quỳ mới thấy sự hướng dẫn của tây y về cách kiêng đường và kiêng tinh bột, cơm và ăn nhiều rau củ quả để khỏi bị bệnh tiểu đường là sai, tất cả những hướng dẫn theo tiktok người nói kiểu này, người nói kiểu kia, không biết tin ai đúng ai sai, chi bằng tự mình kiểm chứng bằng giấy quỳ thử nước bọt, thì đa số những cách hướng dẫn ấy đều có kết quả pH acid, cho nên nhà bác học Otto Heinrich Warburg khuyên chúng ta đều phải thử trước và sau khi ăn, còn môn học Khí Công Y Đạo khuyên cũng cần phải thử trước và sau khi tập.

3-Tại sao phải thử trước và sau khi tập.
a-Trước khi tập, phải đo áp huyết 2 tay có nhịp tim và đo đường huyết, nếu pH là acid, mà nhịp tim quá cao hay nhịp tim quá thấp, đường quá cao, là virus ăn thịt người, là tế bào rút đường trong cơ bắp làm teo thịt sụt cân, thì chưa được tập, phải uống đường, đo lại rồi mới tập hít dầu mạnh cho thông khí dầu vào phổi rồi đo lại áp huyết 2 tay và đường, rồi lại tiếp tục uống đường, đo lại pH, rồi tập tiếp hít dầu 50 lần khác, rồi đo lại áp huyết 2 tay và đường, pH tăng nhưng không giữ được lâu vì nhịp tim chưa tăng 70-80, đường huyết tụt thì phải uống thêm đường lên 11mmol/l hay 200mg/dl thì nghỉ để duy trì pH kiềm được 4 tiếng cho đến bữa ăn, khi ăn thì chọn thức ăn có nhiếu chất kiềm.

4-Các bệnh đã có kinh nghiệm xác nhận là thiếu oxy, pH acid là :
khó thở, đánh trống ngực;
đau đầu, chóng mặt, giảm khả năng tư duy;
rối loạn giấc ngủ;
đổ mồ hôi, yếu ớt và ra mồ hôi;
da xanh xao và tím tái;
co giật.
mệt mỏi dai dẳng
mất khả năng làm việc
Thiếu máu cơ tim cục bộ
Hôn mê, ngất xỉu
Nhồi máu cơ tim
Xơ vữa động mạch
trào ngược thực quản
hen xuyễn,
Parkinson.

5-Làm sao biết bệnh nào thiếu oxy hay thiếu đường dù đường huyết cao.
Bất cứ áp huyết cao hay thấp, đường cao hay thấp, đo pH nước bọt là acid đều là thiếu oxy và đường glucose.
Vì cơ quan nào có co bóp thay đổi thể tích tâm thu chênh lêch 10mmHg là có oxy chuyển hóa, nhưng chuyển hóa thuận xuống ruột là có oxy, nhưng thiếu đường thì chuyển hóa nghịch là khí lên cổ họng làm buồn nôn khó thở, trong bệnh suy tim, đau tức nghẹn ngực, vi khuẩn HP trong bao tử, ợ chua, men gan cao, xơ vữa động mạch, chặn đường thơ không cho phổi và tim thu nạp oxy, thì tế bào ăn thịt người xuất hiện rút đường trong cơ bắp làm sụt cân để chuyển đổi đường trong cơ thể thành 2 acid lactic thì đường này biến thành pH acid xuống từ 6.5 xuống 6, xuống 5.5, xuống 5 là tế bào ung thư di căn toàn thân

Lưu ý.
Bất kỳ ai theo phương pháp chữa bệnh nào, hãy mua giấy qùy thử nước bọt, trước và sau khi ăn, nếu pH acid là chúng ta đã theo phương pháp chữa bệnh sai, ngay cả thầy dạy phương pháp ấy cũng có pH acid thì sẽ bị chết bất đắc cả thầy lẫn trò mà vẫn không biết lý do tại sao, nên Đức Phật đã dạy : Trực chỉ, minh tâm, kiến tánh, thành Phật trong đường tu, nó cũng có thể áp dụng trong chũa bệnh, có nghĩa là : trực chỉ là đi thẳng vào vấn đề, minh tâm là suy nghĩ sáng suốt, kiến tánh là hiểu nguyên nhân vấn đề ở đâu thì giải quyết ngay vào vấn đề ấy, thành Phật là giác ngộ đã hiểu vấn đề và đã giải quyết được vấn đề, là thành công,.
Vậy vấn đề bệnh ở đây là cơ thể thiếu oxy để chuyển hóa đường trong thức ăn nuôi tế bào, lại bị tây y hù dọa kiêng đường, nên mới phát sinh ra bệnh virus ăn thịt người. nó ăn hết thịt trơ xương thì chết vì si mê.
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 4 Tháng 2 25, 2026 12:31 am

PHẦN 28- Cơ thể mọi người cần 2 phần năng lượng calo cho 2 nhiệm vụ khác nhau.

I-Tiêu chuẩn đường huyết của cơ quan Y Tế Thế Giới năm 1979 có 2 tiêu chuẩn đói và no.

1-Tiêu chuẩn đường huyết khi đói từ 6-8mmol/l :

Đổi ra calo là từ 334,37-445,82 calo, để đủ duy trì hoạt động của chức năng não, tim, phổi, gan, thận, hoạt động tốt trong thời gian 4 tiếng.

Cứ sau 4 tiếng đường huyết và calo tụt dần từ 8mmol/l còn 6mmol/l hay còn 334,37 calo, thì cơ thể phải nạp thêm thức ăn cho năng lượng calo và đường huyết tăng lên 8mmol/l hay 445,82 calo, để không làm mất năng lượng của chức năng não, tim, phổi, gan thận.

2-Tại sao tây y áp dụng tiêu chuẩn đường huyết thấp từ 3.9-5.9mmol/l là sai

Nhờ tính đường huyết bằng năng lượng calo, thì thấy tây y áp dụng tiêu chuẩn đường huyết thấp từ 3.9-5.9 mmol/l là sai, trên 6 mmol/l đã kết tội đường huyết cao trong khi đổi ra calo chỉ có 334 calo cho một bữa ăn, 3 bữa ăn khoảng 1000 calo, thì không đủ năng lượng cho 5 chức năng não, tim, phổi, gan, thận hoạt động, nên mới gây ra hậu quả sụt cân hư 5 tạng dẫn đến ung thư.

Một câu nói hù dọa kinh điển, thừa đường gan sẽ cất đường vào gan làm gan nhiễm mỡ, hù dọa cho mọi người sợ đường để gây ra hậu quả bị nhiều bệnh nan y. Thật ra đường cao là 8mmol/l khi đói, tuyến tụy cũng không dại gì cất đường vào kho gan để biến thành mỡ để bị người lạnh thiếu nhiệt lượng máu đông gây ra bệnh suy tim.

3-Tiêu chuẩn đường huyết no sau khi ăn từ 8-11mmol/l

Ngoài ra, khi chúng ta hoạt động, đi lại, nói năng, làm việc, cơ thể cần phải thêm năng lượng cho bao tử chuyển hóa thức ăn, thì cơ thể phải nạp đủ 11mmol/l là 613 calo, và để trả lại 445 calo cho não, tim, gan, thận thì còn thừa lại 168 calo để làm việc trong thời gian 4 tiếng.

Như vậy tổng số năng lượng calo sau mỗi bữa ăn là 613 calo , thì chúng ta mới có thừa 168 calo để làm việc trong 4 tiếng, ngược lại sau khi ăn đường chỉ lên 8 mmol/l, thì mới đủ trả lại cho não, tim, gan, thận mà không có năng lượng làm việc thì chỉ hợp với những người không hoạt động, thì mỗi bữa ăn chỉ cần 8mmol/l là 445 calo nhân 3 bữa, thì tổng số calo mỗi ngày là 1335 calo/ngày thì cơ thể cũng không bị sụt cân.

II-Nguyên nhân tại sao tăng cân và sụt cân.

1-Với năng lượng 1335 calo .

a-Không làm việc không tăng cân. Đối với người già, không làm việc, sau khi ăn đường huyết 8mmol/l lượng calo 3 lần 445 calo là 1335 calo/ngày vẫn đủ duy trì hoạt động cho não, tim, phổi, gan, thận hoạt động, thì người vẫn khỏe, không bị sụt cân hay tăng cân.

b-Không làm việc, nạp năng lượng nhiều sẽ tăng cân

Nếu không làm việc, mà sau khi ăn đường huyết lên tiêu chuẩn no 11mmol/l, ngày ăn 3 lần tổng số calo 3 lần 613 là 1848 calo là thừa 513 calo sẽ bị tăng cân.

c-Đối với người đang làm việc ít, hay tập thể dục ít, thì không có năng lượng thừa để làm việc trong 4 tiếng mất 168 calo, là vô tình rút bớt calo của não, tim, phổi, gan, thận, thì năng lượng trong ngày còn 1335-168= còn 1167 calo thì bị giảm cân ít hơn,

d-Nếu làm việc 8 tiếng hay tập thể dục nhiều hơn là mất 2 lần 168= còn 999 calo, thì cơ thể bị sụt cân, và thiếu calo cho hoạt động của não, tim, phổi, gan, thận, thì bị giảm cân nhiều hơn,

2-Đối với người béo phì muốn giảm cân.

a-Giảm cân mà không hại chức năng não, tim, phổi, gan, thận.

Thí dụ cao 1,65m, nặng 80kg, cần nạp năng lượng sau mỗi bữa ăn ít đi chỉ có 8mmol/l thì tổng số calo trong ngày là 1335 calo/ngày chỉ đủ duy trì năng lượng không hại cho não, tim, phổi, gan, thận hoạt động, mà vẫn hoạt động làm việc hay tập thể dục thể thao, mỗi ngày 3 lần, mỗi lần mất 168 calo, 3 lần trong ngày mất 504 calo tiêu hao này làm mất cơ bắp nên sụt cân,

III-Cách giảm cân sai làm cơ thể bị tổn thương chức năng não, tim, phổi, gan thận.

Cách 1 : một ngày ăn 1050 calo

Nói tổng quát cơ thể không bị tổn thương chức năng não, tim, phổi, gan thận, thì không được làm mất 1335 calo mỗi ngày. Trong khi mọi người lại áp dụng cách giảm cân máy móc nguy hiểm nhu công thức dưới đây, chỉ có 1050 calo/ngày, đương nhiên thấp dưới giới hạn 1335 calo là giảm cân, nhưng lại làm hại chức năng chuyển hóa rối loạn sinh ra nhiều bệnh tật.

Sáng 6-8h, ăn nhẹ 100 calo

Trưa 11-12h ăn 450 calo (150g đạm trắng, 400g rau, ½ chén cơm)

Xế 15-16h ăn nhẹ 100 calo

Tối 17-19h ăn 400 calo (150g đạm trắng, 400g rau)

Tổng cộng 1050 calo cần uống nước 0,4 lít/10kg

a-Phân tích những điểm sai làm hại các cơ quan nội tạng :

Ăn sáng, và ăn xế 100 calo :

-Nếu sau khi ăn lượng đường huyết thấp không đủ nhiệt lượng calo cho tim hoạt động tuần hoàn máu thì tuyến tụy phải kích hoạt gan chuyển hóa lấy mỡ trong gan hay đường trong cơ bắp để cho tim đủ nhiệt lượng tuần hoàn máu, nên bị sụt cân

Ăn trưa và tối 450 calo.

Đường huyết tương đương 7,5 mmol/l đã làm thiếu đường huyết của não, tim, phổi, gan, thận, không còn đủ để hoạt động 4 tiếng, cơ thể cũng bị sụt cân, vì chức năng tuyến tụy và gan lại phải can thiệp lần nữa lấy mỡ đường dư thừa trong cơ thể cho đủ duy trì chức năng hoạt động của não, tim, phổi, gan, thận

Tính tổng số calo một ngày không làm tăng cân, giảm cân và không làm hại chức năng tạng phủ thì cần 1335 calo, trong khi ăn theo công thức này chỉ có 1050 calo là thiếu hụt 285 calo/ngày

Hậu quả của cách giảm cân này rất nguy hiểm khiến gan và tụy tạng phải can thiệp mỗi ngày 2 lần, cuối cùng suy tim, suy gan, suy hô hấp, sau khi giảm cân thì cơ thể thèm ăn lại trở thành tăng cân như cũ nhưng sẽ bị rối loạn chức năng chuyển hóa .

Trong khi muốn giảm cân, cứ theo đúng tiêu chuẩn đường huyết sau khi ăn no 8-11mmol/l, và mỗi ngày chạy bộ 1 tiếng tốc độ 5km/1 giờ, khoa học đã chứng minh cơ thề tăng nhiệt , đốt cháy 200 calo/ngày, mà không tổn thương chức năng của não, tim, gan, thận

Cách 2-Uống giấm táo viên làm giảm cân có kết quả nhưng gây ra bệnh ung thư.

Cứ ăn uống bình thường thừa cân thừa mỡ, sáng và tối mỗi lần uống 2 viên thuốc giấm táo làm giảm cân nhanh nhưng thời gian uống giấm táo thì pH nước bọt từ kiềm trung bình xuống thấp dần thành pH acid 6 là ung thư giai đoạn 1, pH 5,5, rồi pH 5 là ung thư di căn, sụt cân

Cách 3-Phương pháp ăn giảm cân 16/8

Thực tế trái ngược, kết quả có người vẫn mập, lại có người sụt cân.

a-Lý do mập hơn : Nếu tính lượng calo trung bình một ngày 2000 calo, mà mình đã béo phì sẵn thì trong 8 tiếng để ăn, thì phải ăn ít đi 500 calo, nghĩa là chỉ còn 1500 calo/ngày, thì ngược lại ăn thật nhiều trong thời gian 8 tiếng này làm tăng calo lên 3000 calo, rồi nhịn ăn trong thời gian 16 tiếng, sau khi ăn thì đường huyết cao, tuyến tụy phải tiết insulin ra nhiều cất đường dư thừa thành mỡ béo phì. Mỗi ngày tuyến tụy phải sản xuất ra lương insulin không đủ, nên không kiểm soát được đường huyết, cuối cùng trở thành bệnh nhân bị tiểu đường loại 1.

b-Lý do sụt cân :

Chỉ tốt cho người béo phì thừa cân trong một thời gian nhất định, vì muốn giảm cân phải nạp ít calo như 1500 calo/ngày, trong 8 tiếng ăn làm 3 lần, mỗi lần 500 calo tương đương đường huyết 9mmol/l, cứ mỗi 2 tiếng chức năng hoạt động của não, tim, phổi, gan, thận làm mất calo giảm lượng đường trong máu, như vậy 16 tiếng còn lại mất 8mmol/l theo lý thuyết tương đương mất 445 calo. Thực tế không phải tính như vậy.

Cứ 2 tiếng chức năng hoạt động của não, tim, phổi, gan, thận lấy mất 1mmol/l, còn 7mmol/l, thêm 2 tiếng nữa thì còn 6 mmol/l, thêm 2 tiếng nữa thì còn 5mmol/l là thiếu năng lượng cho chức năng não, tim, phổi, gan thận, thêm 2 tiếng nữa thì còn 4mmol/l tim sắp ngưng đập vì trong 8 tiếng nhịn ăn đường huyết tụt còn 4mmol/l, tuyến tuỵ phải kích hoạt gan tiết mỡ và đường trong cơ bắp ra để bù năng lượng cho 5 chức năng này, nên trong vài ngày cơ thể bị sụt cân trông thấy rõ, 8 tiếng còn lại nữa, tuyến tụy bắt gan phải thu gom đường mỡ bổ sung cho 5 chức năng này, cuối tuyến tụy và gan làm việc quá tải nên bị suy gan, tụy, làm gan thiếu máu cung cấp cho tim là suy tim, gan hư phổi hư thì chức năng thận hư, từ đo người gầy không ăn mà đường vẫn lên cao do đường trong cơ thể mất đi.

c- Phương pháp nhịn ăn gián đoạn 16:8 có tác dụng phụ và rủi ro .



Phương pháp này không phù hợp với tất cả mọi người. Các tác dụng phụ và rủi ro tiềm ẩn có thể bao gồm:



Cảm thấy không khỏe và bị đau đầu, mệt mỏi, cáu kỉnh và táo bón

Giảm cân quá mức ở người lớn tuổi

Ăn quá nhiều hoặc ăn những thực phẩm không lành mạnh trong khung thời gian ăn uống 8 giờ do quá đói

Gây hại cho những người mắc một số bệnh lý hoặc đang dùng một số loại thuốc nhất định.

Những người có tiền sử rối loạn ăn uống nên tránh phương pháp nhịn ăn gián đoạn. Hiệp hội Rối loạn Ăn uống Quốc gia cảnh báo rằng nhịn ăn là một yếu tố nguy cơ gây rối loạn ăn uống.
Viện Quốc gia về Lão hóa (National Institute on Aging) kết luận rằng không có đủ bằng chứng để khuyến nghị bất kỳ chế độ ăn kiêng nhịn ăn nào, đặc biệt là đối với người lớn tuổi.
Phương pháp nhịn ăn gián đoạn 16:8 không phù hợp với những người đang mang thai, cho con bú hoặc đang cố gắng thụ thai.
Những người có bệnh lý nền, chẳng hạn như tiểu đường hoặc huyết áp thấp
đang dùng thuốc điều trị huyết áp hoặc bệnh tim
có tiền sử rối loạn ăn uống

IV- Công dụng của chạy bộ hay đi bộ làm giảm cân.
Khoa học chứng minh công dụng của chạy bộ :
Chạy bộ và đi bộ đều là 2 môn thể thao được nhiều người lựa chọn, bởi chúng đơn giản, dễ thực hiện, mang đến hiệu quả đốt cháy calo tương đối lớn. Câu hỏi, chạy bộ 1 tiếng tiêu hao bao nhiêu calo hiện đang là thắc mắc của nhiều người yêu thích môn thể dục này quan tâm.

1-Chạy bộ giúp cải thiện trí nhớ
Không chỉ giúp nâng cao sức khỏe, rất nhiều nghiên cứu tại Mỹ đã chứng minh việc bạn thường xuyên chạy bộ sẽ giúp cải thiện trí nhớ một cách đáng kể so với những người không tập luyện môn thể dục này. Cũng trong báo cáo đưa ra, những người ngoài 40 tuổi nên đi bộ mỗi ngày để giúp tăng lưu thông tuần hoàn máu, ngăn ngừa lão hóa và hạn chế các bệnh tuổi già.

2- Chạy bộ giúp phổi khỏe mạnh hơn
Đây là một trong những lợi ích của việc chạy bộ mà ít người biết đến. Thực chất, khi cơ thể thể bạn vận động sẽ phải điều hòa hô hấp tốt hơn để oxy có thể đến được cơ bắp. Chính vì điều này giúp phổi hoạt động mạnh mẽ và hiệu quả hơn rất nhiều.

3- Giảm thiểu đột quỵ và tốt cho tim mạch nhờ chạy bộ
Nếu gia đình bạn có tiền sử mắc các bệnh tim mạch thì bạn nên chủ động kết thân với môn thể dục chạy bộ để đảm bảo có một trái tim khỏe mạnh và ngăn ngừa nguy cơ đột quỵ. Nguyên nhân bởi, khi bạn đi hoặc chạy bộ, cơ thể sẽ vận động nhiều từ đó giúp cơ tim khỏe mạnh, nhờ vậy cũng giảm thiểu được nguy cơ mắc các bệnh tim mạch.

4- Giảm cân và mỡ
Việc đi bộ đã được chứng minh giúp làm săn chắc cơ bắp, giảm mỡ thừa vùng bụng, cải thiện sức khỏe được tốt hơn. Vì thế, nếu bạn đang thừa cân hãy cố gắng mỗi ngày dành ra 30 phút để đi bộ và thấy được kết quả sau một thời gian ngắn.
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: TỰ HỌC YHBS kHÍ CÔNG Y ĐẠO TỪ CƠ BẢN ĐẾN NÂNG CAO

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 7 Tháng 2 28, 2026 10:48 pm

PHẦN 27-CÁCH KHÁM BỆNH BẰNG GIẤY QUỲ THỬ pH NƯỚC BỌT
Video : https://youtu.be/8q2i_fqejDM

Việc khám tìm bệnh bằng dịch nước bọt đã từng có trong lịch sử y khoa trải qua 5 thời kỳ.

Thời kỳ 1. Việc kiểm tra tiết nước bọt bằng cách sử dụng thủy ngân đã được thực hiện ít nhất từ năm 1685.

Thời kỳ 2. Việc kiểm tra độ axit của nước bọt đã xảy ra ít nhất từ năm 1808.

Thời kỳ 3. Việc sử dụng xét nghiệm nước bọt trong lâm sàng đã xuất hiện ít nhất từ năm 1836 ở những bệnh nhân bị viêm phế quản.

Thời kỳ 4. Năm 1959, các nhà khoa học trên tạp chí Cancer đã nêu lên khả năng sử dụng những thay đổi sinh hóa trong phosphatase axit trong nước bọt như một chỉ báo về sự hiện diện của ung thư tuyến tiền liệt

Thời kỳ 5.Trong thời kỳ có đại dịch covid 19. Hiện nay trên thị trường có các sản phẩm xét nghiệm nước bọt thương mại sử dụng nhiều phương pháp tiêu chuẩn hóa khác nhau để đảm bảo độ chính xác và độ tin cậy của kết quả xét nghiệm. Salimetrics là một trong những đơn vị như vậy, cung cấp một loạt các sản phẩm và dịch vụ để thu thập và xét nghiệm nước bọt.

I-Nguyên nhân nhiễm toan gây ra bệnh gì

1-Nhiễm Toan (Acidosis)
Nhiễm toan xảy ra khi mức độ axit trong cơ thể tăng cao, làm giảm pH máu. Có hai loại nhiễm toan chính:

Nhiễm Toan Hô Hấp: Do hô hấp kém, CO2 tích tụ trong máu. Điều trị bằng cách cải thiện thông khí.
Nhiễm Toan Chuyển Hóa: Do sản xuất axit quá mức hoặc giảm khả năng thải axit. Điều trị bằng cách quản lý nguyên nhân cơ bản và có thể dùng bicarbonate.(baking soda)

2-Các loại nhiễm toan là gì?
Nhiễm toan xảy ra khi cơ thể không thể loại bỏ axit khỏi đường thở, máu hoặc các dịch cơ thể khác. Có một vài loại nhiễm toan:

a-Nhiễm toan lactic: Nhiễm toan lactic là một loại nhiễm toan chuyển hóa. Nó xảy ra khi quá nhiều axit lactic tích tụ trong máu.

b-Nhiễm toan do đái tháo đường: Loại nhiễm toan chuyển hóa này xảy ra khi quá nhiều axit ketone tích tụ trong máu.

c-Nhiễm toan ống thận: Loại nhiễm toan chuyển hóa này xảy ra khi thận cho phép quá nhiều axit trở lại máu.

d-Nhiễm toan tăng clo máu: Loại nhiễm toan chuyển hóa này xảy ra khi nồng độ natri bicarbonat, một chất kiềm, trong máu trở nên quá thấp.

đ-Nhiễm toan hô hấp: Nhiễm toan hô hấp xảy ra khi phổi không thải đủ CO2.
Khi các mô và cơ quan bị quá tải axit, quá trình vận chuyển oxy bị gián đoạn. Điều này có nghĩa là các tế bào không thể hô hấp, và carbon dioxide có thể tích tụ, khiến các tế bào và mô bị nghẹt thở.
Hiểu được tác động của độ pH đến cơ thể và sức khỏe sẽ giúp bạn dễ dàng tránh tình trạng cơ thể bị axit hóa và khôi phục lại sức khỏe tối ưu.
Lượng axit dư thừa trong cơ thể là nguyên nhân hàng đầu gây ra các rối loạn tiêu hóa như trào ngược axit, ợ nóng và khó chịu đường tiêu hóa. Khi lượng axit nhiều hơn lượng khoáng chất kiềm trong ruột, tuyến tụy sẽ phải làm việc quá sức do thiếu các enzyme quan trọng.

e-Hệ tuần hoàn
Mặc dù chất béo thường bị đổ lỗi, nhưng độ axit thực sự là một yếu tố quan trọng gây ra bệnh tim. Chất béo lành mạnh cần thiết để tăng cường sức khỏe tim mạch vì chúng có thể chữa lành chứng viêm liên quan đến mảng bám động mạch.
Tổn thương động mạch do sự tích tụ mảng bám chất béo gây ra viêm nhiễm, đây là kết quả trực tiếp của việc có quá nhiều axit trong cơ thể. Các mạch máu của bạn phản ứng với độ axit bằng cách hình thành các mảng bám chất béo, và những mảng bám này góp phần gây ra bệnh tim mạch.

g-Hệ miễn dịch
Môi trường axit là điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của mầm bệnh, trong khi môi trường kiềm ức chế hoạt động của mầm bệnh. Độ pH của cơ thể sẽ quyết định liệu các mầm bệnh có hại trong cơ thể có hoạt động hay vẫn ở trạng thái ngủ đông, vì vậy duy trì sự cân bằng pH thích hợp là điều cần thiết cho khả năng bảo vệ hiệu quả cơ thể khỏi nhiễm trùng.
Giảm độ pH trong cơ thể sẽ giúp các mạch máu phục hồi nhờ chất béo lành mạnh trong chế độ ăn uống, và có thể bảo vệ bạn khỏi bệnh tim mạch

h-Xương khớp
Viêm khớp có liên quan đến tình trạng viêm mãn tính, và hai loại viêm khớp phổ biến nhất là viêm khớp dạng thấp và viêm xương khớp đều liên quan đến nồng độ axit cao trong cơ thể.
Axit tích tụ làm tổn thương sụn và gây khô các vùng khớp, dẫn đến viêm quá mức. Axit uric cũng có thể tích tụ trong khớp và tạo thành tinh thể, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận động và gây đau đớn. Giảm nồng độ axit là một trong những cách tốt nhất để ngăn ngừa viêm khớp và các vấn đề về xương khớp, và chắc chắn có thể giúp giảm đau nếu bạn đã mắc phải những bệnh này.

i-Cơ bắp
Độ axit trong cơ bắp làm rối loạn quá trình trao đổi chất, dẫn đến hoạt động kém hiệu quả của cơ bắp. Cơ bắp hoạt động tối ưu trong điều kiện hơi kiềm, vì vậy việc giữ mức độ axit thấp rất quan trọng để giữ cho cơ bắp khỏe mạnh.

II-Tại sao phải cân bằng âm-dương axit-kiềm
Acid và base (kiềm) đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sinh học vì chúng tham gia vào nhiều quá trình hóa học và sinh học thiết yếu. Dưới đây là một số lý do cụ thể tại sao acid-base quan trọng:
1. Cân bằng pH nội môi: Acid và base giúp duy trì cân bằng pH trong cơ thể, đảm bảo các quá trình sinh hóa diễn ra bình thường. pH của máu và các dịch cơ thể phải được duy trì ổn định để các enzyme và protein hoạt động hiệu quả

2. Chức năng của enzyme: Enzyme, là những protein xúc tác cho các phản ứng sinh hóa, hoạt động tốt nhất trong một khoảng pH nhất định. Sự thay đổi pH có thể làm thay đổi cấu trúc của enzyme, ảnh hưởng đến khả năng xúc tác của chúng.
3. Chuyển hóa tế bào: Acid và base tham gia vào quá trình chuyển hóa của tế bào. Ví dụ, quá trình hô hấp tế bào sản sinh ra CO2 (một acid) và cơ thể phải cân bằng lại bằng cách loại bỏ CO2 qua phổi.
4. Điều hòa điện giải: Acid và base giúp điều hòa nồng độ các ion trong cơ thể, như natri, kali, và canxi, đóng vai trò quan trọng trong các chức năng cơ và thần kinh.
5. Hệ đệm sinh học: Cơ thể có các hệ đệm, như bicarbonate, phosphate, và protein, để chống lại sự thay đổi pH đột ngột, bảo vệ các tế bào và mô khỏi tổn thương.
6. Phản ứng miễn dịch: Acid và base cũng có vai trò trong các phản ứng miễn dịch, giúp tiêu diệt vi khuẩn và các tác nhân gây bệnh khác.
Nhờ những chức năng quan trọng này, acid và base góp phần duy trì sức khỏe và sự sống của các sinh vật

III-Những bệnh có pH nước bọt axit dưới 6.5
Dưới đây là những bệnh có pH nước bọt là axit do tây y nghiên cứu thống kê được :

Viêm tủy mềm cấp tính (AFM)
Bệnh Alzheimer là sự tích tụ các protein bất thường trong não: các cụm beta-amyloid (gọi là mảng amyloid).

Viêm não do arbovirus là tình trạng viêm não có thể do virus lây truyền qua động vật chân đốt (arbovirus) gây ra. Động vật chân đốt bao gồm muỗi và ve. Tại Illinois, các loại arbovirus lây truyền sang người qua vết cắn của muỗi nhiễm bệnh.

Viêm khớp có 3 dạng phổ biến nhất là viêm xương khớp, hội chứng đau xơ cơ và viêm khớp dạng thấp. Viêm xương khớp, còn được gọi là bệnh thoái hóa khớp, là loại viêm khớp phổ biến nhất, ảnh hưởng đến khoảng 21 triệu người trưởng thành ở Mỹ

Hen suyễn là một tình trạng ảnh hưởng đến đường thở. Nó gây khó thở vì đường thở bị sưng, sản sinh quá nhiều chất nhầy và các cơ xung quanh đường thở bị co thắt.

Bệnh Babesiosis do các ký sinh trùng siêu nhỏ gây ra, chúng lây nhiễm vào hồng cầu. Babesia microti là loài chính được tìm thấy ở người tại Hoa Kỳ. Con đường lây truyền chính là qua vết cắn của ve bị nhiễm bệnh
.
Viêm âm đạo do vi khuẩn (BV) là một tình trạng ở phụ nữ khi sự cân bằng bình thường của vi khuẩn trong âm đạo bị phá vỡ và được thay thế bằng sự phát triển quá mức của một số loại vi khuẩn nhất định.

Ung thư bàng quang là một loại ung thư phổ biến bắt đầu từ các tế bào của bàng quang, một cơ quan cơ rỗng ở vùng bụng dưới có chức năng lưu trữ nước tiểu. Thận đưa nước tiểu qua niệu quản đến bàng quang và ra khỏi cơ thể qua niệu đạo.

Ung thư vú
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC), mỗi năm tại Hoa Kỳ, có khoảng 270.000 trường hợp ung thư vú được chẩn đoán ở phụ nữ và khoảng 2.300 trường hợp ở nam giới. Khoảng 42.000 phụ nữ và 500 nam giới ở Hoa Kỳ tử vong mỗi năm vì ung thư vú. Năm 2021, bang Illinois báo cáo 10.981 phụ nữ và 117 nam giới được chẩn đoán mắc ung thư vú. Trong năm 2021, 1.697 phụ nữ và 23 nam giới đã tử vong vì ung thư vú.

Ung thư các loại là một căn bệnh phổ biến, phổ biến hơn nhiều người nghĩ. Viện Ung thư Quốc gia ước tính rằng cứ 2 nam giới ở Hoa Kỳ thì có 1 người có nguy cơ mắc ung thư trong suốt cuộc đời; đối với phụ nữ, nguy cơ này là 1/3. Số người mắc ung thư đang tăng lên ở hầu hết các quốc gia.

IV-Cách khám bệnh bằng giấy qùy thử pH nước bọt của Ngành Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo
Ngành Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo hướng dẫn cho bệnh nhân tự khám bệnh tìm bệnh một cách đơn giản nhanh chóng bằng cách dùng giấy quỳ thử pH nước bọt tìm xem nguyên nhân của mọi bệnh kể cả ung thư có phải do đường, khiến mọi người đều sợ đường, và kiêng đường do tây y hù dọa lại bị rơi vào bẫy tiểu đường nên mới dẫn đền hậu quả mang nhiều bệnh tật.
Ngoài ra khi cơ thể bị bất cứ có bệnh gì, do thức ăn sai, do uống thuốc tây y, đông y, do thực phẩm chức năng, hay do tập luyện, cũng dùng giấy quỳ thử nước bọt nếu là axit là phải ngưng để bệnh không bị trở nặng thêm

A-Nguyên nhân mất quân bình âm dương đo bằng máy đo áp huyết

1-Ý nghĩa của số áp huyết tâm thu
Theo đông y và tây y, dương là nóng, là khí oxy, dùng giấy quỳ thử nước bọt là kiềm. Đo khí bằng máy đo áp huyết tùy vào áp huyết theo tiêu chuẩn tuổi. Thí dụ tuổi trung niên từ 41 đến 59 tuổi có áp huyết tiêu chuẩn là

120-130mmHg, khoảng cách giới hạn trong 10 số gọi là lực chuyển hóa khí, hay sự hô hấp của tổng số tế bào và các cơ quan tạng phủ, như khi đói bao tử rỗng thể tích bao tử là 120mmHg, sau khi ăn no thể tích bao tử to hơn tối đa 10 số là 130mmHg,
Ngược lại hô hấp của gan khi đói thể tích phải to 130mmHg để co bóp bơm máu tuần hoàn và tiết dịch tiêu hóa sang bao tử có đủ axít làm tiêu hóa thức ăn.

2-Ý nghĩa của số áp huyết tâm trương
Tâm trương của tuổi trung niên từ 70-80mmHg.
a-Tâm trương tay trái là bao tử khi chưa chứa thức ăn là thời kỳ đói có tâm trương thấp là 70mmHg, khi ăn no bao tử đầy là chỉ lượng thức ăn thì cao 80mmHg
b-Tâm trương tay phải là gan, chỉ lượng máu trong gan thay đổi, trước khi ăn thì gan đã co bóp thể tích thì lượng máu trong gan chỉ 70mmHg, sau khi bao tử tiêu hóa thức ăn để chuyển hóa thành máu thì gan nhận thêm máu lại tăng lên 80mmHg
3-Nhịp tim là tốc độ bơm máu tuần hoàn của tim hòa hoãn, trong khoảng 70-75 nhịp trong 1 phút, của tuổi trung niên, của tuổi lão niên trên 60 tuổi là 70-80. Nếu nhịp tim nhanh hơn 80 là người nóng, thấp dưới 70 là người lạn
B -Thức ăn nuôi tế bào .
Khoa học ngày nay đã có đủ máy móc hiện đại tinh vi chính xác đo được 78 nghìn tỷ tế báo tập hơp trong cơ thể con người, nó họạt động để duy trỉ sự sống cho con người là nhờ 4 chất glucose, protein (đạm), lipid (dầu mỡ chất béo), và oxy, do chức năng của các tế bào chuyển hóa thực phẩm mà con người ăn trong 3 bữa ăn từ tin bột đường, đạm, dầu mỡ và rau củ quả. Nếu tế bào thiếu 1 chất cũng làm cho tế bào suy yếu gây ra bệnh, do thực phẩm con người ăn thiếu chất, như thiếu đường, hay thiếu đạm, thiếu chất béo hay thiếu oxy
Khoa học cũng chứng minh là tất cả mọi thực phẩm ăn vào đều biến thành năng lượng là đường, tinh bột cũng biến thành đường cơm rau củ quả cũng biến thành đường. Khoa học cũng chứng minh :
a-Đường kết hợp protein đạm biến thành máu nuôi tế bào nuôi thịt các cơ.
b-Đường kết hợp với chất béo nuôi da, gân, sụn, xương, dây thần kinh, các ống dẫn máu
c-Đường kết hợp với oxy để giữ thân nhiệt không nóng không lạnh, để tăng cường hô hấp trao đổi chất oxy nội bào và duy trì tính kiềm
1-Nguyên nhân mất khí oxy.
Thí dụ tổng số khí của tuổi trung niên từ 120-130mmHg, do uống thuốc hạ áp huyết xuống còn dưới 100mmHg là mất khí lực, người bệnh không còn sức lực hơi thở yếu, thử giấy quỳ nước bọt là axit
Cơ quan nội tạng không hô hấp, nghĩa là không co bóp, không chuyển hóa, như trước khi ăn và sau khi ăn vẫn là 120, hay vẫn là 130, hay hô hấp yếu trước khi ăn 120, sau khi ăn 122mmHg, hay trước khi ăn 120mmHg, sau khi ăn còn 100mmHg là mất khí là thiếu dương hay mất dương , thừa âm thì pH nước bọt là axit

2--Rối loạn axit-bazơ
Bất cứ ăn thực phẩm gì, uống nước gì, ăn canh gì, uống thuốc gì, chúng ta không biết tốt hay xấu, đều phải thử pH nước bọt, nếu là axit thì chúng ta bị bệnh

a-Nguyên nhân do bệnh tiểu đường
Một số tình trạng làm rối loạn sự cân bằng độ pH trong cơ thể được gọi là nhiễm axit trong trao đổi chất do:
Bệnh tiểu đường axit xeton (sản sinh quá nhiều hợp chất axit xeton do không cung cấp đủ lượng đường glucose trong máu hoặc mỡ dự trữ năng lượng gây nên thiếu insulin) Chứng tăng ure-huyết do thận bị hỏng hoặc làm việc kém hay tăng axit uric.

b-Nguyên nhân do mất nước do bị u bướu hoặc lạm dụng thuốc lợi tiểu

c-Nguyên nhân do tập thể dục quá mức tích luỹ axit lactic trong cơ thể do tập thể dục quá mức hoặc do bệnh tật gây ra.

d-Nguyên nhân ăn không tiêu
Thức ăn trong bao tử lên men, sản sinh axit và viêm loét dạ dày
Thông thường axit-bazơ được giữ ở mức cân bằng trong dạ dày khi tiêu hoá thức ăn và sản sinh ra axit clohydric gọi là axit tiêu hoá.

đ-Nguyên nhân do thiếu đường dương có tính kiềm
Khi chúng ta ăn cơm thử đường cao, mà thử pH nước bọt là kiềm, thì đường của cơm tốt, đường cao mà không béo phì.

Khi chúng ta ăn nhiều rau củ quả, đo đường huyết cao, mà thử pH nước bọt là axit thì chúng ta bị bệnh.
Khi chúng ta ăn thêm đường bổ sung cao mà thử pH axit chúng ta vẫn bị bệnh
Khi chúng ta ăn ít cơm. Dù cơm là pH kiềm nhưng nhịp tim cơ thể thấp, người lạnh, đo đường huyết thấp dưới 6mmol/l hay dưới 100mg/dl, thử pH nước bọt vẫn là axit

e-Nguyên nhân do thiếu máu
Đường kết hợp với protein thành máu, mà chỉ ăn rau củ quả, kiêng đường và tinh bột thì cơ thể thiếu máu, người sụt cân, nhưng nếu nhịp tim quá cao, nhìn áp huyết tâm thu có vẻ tốt như bình thường là áp huyết giả thử pH nước bọt dưới 6 là ung thư giai đoạn 1, dưới 5.5 là ung thư giai đoạn 2, dưới 5 là giai đoạn 3, pH 4 là giai đọan cuối chờ chết .

V-Hiểu sai về đường gây ra ung thư.

1-Do kiêng đường sụt cân
Tất cả các bệnh ung thư đều do kiêng đường, mà vẫn bị sụt cân, vẫn thiếu máu, vì tế bào nào cũng phải được nuôi sống bằng đường. Trong cơ thể chúng ta có 2 loại đường, đường nạp vào nuôi tế bào là từ thức ăn để chuyển hóa thức ăn thành máu, và giúp tế bào hô hấp đổi năng lượng đường thành khí oxy để duy trì lượng máu.
Nếu sau khi ăn mà không tập thể dục cho tăng oxy, tập cho đường chuyển hóa thức ăn, thì đường thừa bị cất vào gan thành đường dự trữ glycogen, thì tế bào sẽ thiếu
máu, thiếu oxy, chúng vẫn cần đường để sống nên lấy đường trong cơ thể để ăn nhưng đường này không cho năng lượng ATP, không chuyển hóa thành oxy, thì tế bào ung thư dùng đường này glucose là C6H12O6, cho lên men thành 2 lần axit lactic 2(C3H6O3) là môi trường axit cho tế bào ung thư phát triển nhanh.

Cho nên ăn đường cát vàng bổ sung phải đúng lúc là sau bữa ăn 30 phút, đo đường thiếu đường thì chắc chắn sẽ thiếu máu, thay vì cần ăn nhiều tinh bột cơm gạo, thì ăn thêm đường bổ sung lên 200mg/dl rồi tập bài Hít Dầu 50 lần, đo lại đường, đường xuống còn 120-140mg/dl, chúng ta phải thắn mắc đường mất đi đâu, lại phải đo áp huyết thì thấy tâm thu thay đổi, tâm trương thay đổi lượng máu, nhịp tim đang cao là thiếu máu trở về nhịp tim bình thường, hay đang thấp người lạnh cũng tăng lên tiêu chuẩn bình thường làm người ấm, thử pH nước bọt tăng kiềm.
Tóm lại thiếu đường dương không đủ chuyển hóa thức ăn thành máu thì pH axit là dấu hiệu ung thư, (thử pH đường cát vàng là kiềm, đường cát trắng là axit)
Thừa đường mà người gầy do tế bào ung thư ăn đường cho lên men thành axit lactic y học gọi là tế bào ăn thịt người để phát triển thành di căn toàn thân.
Mặc dù bổ sung đường dương mà không được chuyển hóa thành năng lượng oxy, có nghĩa không tập chuyển hóa thành năng lượng thì bị insulin cất đường dư thừa vào gan làm cơ thể béo phì

2-Hậu quả thiếu đường, do tinh thần, do thực phẩm ăn uống do lười tập

a-Tuy nhiên có nhiều nhân tố gây sản sinh axit quá mức trong dạ dày
Như: stress, rượu, thuốc lá, nhiễm vi khuẩn dạ dày Helicobacter pylori, một số chất gây kích thích quá mức như gia vị cay chua hay chất cafein (cà phê, trà đen, nước uống có ga hoặc chứa cafein). Và khi axit cao quá mức có thể dẫn đến một số bệnh như: Chứng ợ nóng, Viêm loét dạ dày, Trào ngược axit lên thực quản.
Khi tuyến tụy bị quá tải, nó không thể điều khiển hiệu quả quá trình chuyển hóa thức ăn. Kết quả là, bạn bị viêm nhiễm do các cơ quan tiêu hóa bị rối loạn và không thể thực hiện chức năng của mình.

b-Môt nguy cơ khác gây ung thư là do các bài thuốc bắc, các thực phẩm chức năng, được phát hiện bằng cách dùng giấy quỳ thử pH nước bọt là axit.
Điều trị việc tăng axit dạ dày bao gồm: Giảm độ axit, Tiêm proton là chất gây ức chế tiết axit trong dạ dày, kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn Helicobacter pylori, tránh dùng rượu, gia vị cay chua, hút thuốc, những đồ ăn có chứa nhiều chất béo và cafein, tránh dùng mãi một loại thức ăn mà nên ăn đa dạng, giảm stress bằng cách tập thể dục, thư giãn, hoặc nhờ nhà tâm lý giúp giải tỏa căng thẳng. Dùng thuốc chống stress, tập yoga hay bất cứ phương pháp nào mà bạn cho rằng chúng có ích trong việc làm giảm stress và lo lắng.

VI-Cách chữa : Để cơ thể cân bằng độ pH trung bình:

1-Bằng thực phẩm có tính kiềm
Ăn nhiều rau, củ, quả xanh sẽ giúp trung hòa lượng axit dư thừa trong cơ thể, bổ sung nhiều vitamin cần thiết để cơ thể khỏe mạnh. Một số loại thực phẩm giàu tính kiềm có thể dễ dàng tìm được như:
Cải bó xôi (rau bina, rau chân vịt): trong cải bó xôi có rất nhiều chất diệp lục giúp kiềm hóa cơ thể hiệu quả.
Ớt chuông: ớt chuông cũng có tính kiềm rất cao, ăn ớt chuông thường xuyên sẽ giúp kiềm hóa cơ thể, tăng cường miễn dịch, giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, ung thư…
Cần tây: tính kiềm trong cần tây cũng dồi dào và có chất coumarin và chất phtalic, giúp giảm nguy cơ ung thư và giảm hàm lượng cholesterol xấu trong cơ thể.
Quả bơ vừa dễ ăn lại mang tính kiềm mạnh giúp trung hòa axit trong dạ dày. Ăn bơ còn giúp ngăn chặn quá trình oxy hóa và giảm nguy cơ mắc nhiều loại bệnh nguy hiểm khác.
Liên quan: Cách men vi sinh giúp kiềm hóa cơ thể |
Nước máy hoặc nước suối (thậm chí cả nước biển nếu bạn muốn)
Táo, việt quất, chanh, nho, dâu tây, chuối và kiwi
Nấm, ô liu, bơ, bông cải xanh, bắp cải và cải Brussels
Rong biển
Đậu nành
Gạo lứt
Khoai lang
Cải xoăn và cải bẹ xanh
Hạnh nhân
Trà xanh

2-Bằng tinh thần suy nghĩ tích cực, lạc quan
Khi suy nghĩ tiêu cực, lo lắng, stress, cơ thể cũng tự tiết ra axit có hại cho sức khỏe, vì vậy để giữ được tính kiềm trong cơ thể, giúp cơ thể khỏe mạnh, ngoài chế độ ăn uống khoa học, mỗi người cũng nên duy trì suy nghĩ tích cực, lạc quan, yêu đời.
Ngoài ra, theo các nghiên cứu, suy nghĩ lạc quan, cười nhiều còn giúp giảm căng thẳng, cải thiện và tăng cường hoạt động của các tế bào miễn dịch chuyên săn lùng và tiêu diệt các tế bào ung bướu và tế bào nhiễm virus.

3-Dùng baking soda pha đường :
Để kiềm hóa môi trường axit phải dùng 1 thìa bôt baking soda là loại muối pha 5 thìa đường cát vàng uống sau bữa cơm trưa 1 tiếng, là đợi thức ăn trong bao tử chuyển hóa không hết sẽ bị nhiễm toan, nên phải uống baking soda tống hết thức ăn
trong bao tử và baking soda sẽ xâm nhập vào mô tế bào ung thư tách chúng và tiêu diệt chúng bớt dần từng ngày.

Dùng nước ion kiềm mỗi ngày chỉ để ngăn ngừa khi chưa bị ung thư, giống như nó là đội cảnh sát tuần tra bắt cướp trên đường phố, nước kiềm không phải là loại muối, còn tế bào ung thư là cướp đã xâm nhập vào nhà dân phải có đội đặc biệt xông vào nhà bắt cướp chính là baking soda.

4-Dùng phương pháp Hít dầu thông mũi thông phổi, tăng oxy, tăng kiềm.
a-Đường huyết cao béo phì. Thoa vài giọt dầu vào lòng bàn tay để gần mũi hít thật mạnh cho hơi dầu thông vào phổi pH axit là trong phổi thiếu oxy mà thừa oxide carbon CO2, thì phải thổi hơi ra nhiều
b-Nếu đo đường huyết thấp không đủ 200mg/dl phải uống đường đủ mới Hít dầu làm tăng oxy tăng kiềm làm hạ đường huyết.
c-Nếu áp huyết cao thì cúi gập người xuống nhiều ép bụng cho thức ăn xuống ruột làm hạ áp huyết
d-Nếu áp huyết thấp thì ngửa người hít vào mạnh cho oxy vào phổi nhiều cho tăng áp huyết.
Tập tối đa không quá 50 lần, hay khi cảm thấy người nóng ấm thì ngưng, tập nhiều làm đường tụt thấp mất đường lại làm tăng pH axit

VII -Thực phẩm có tính axit không nên ăn khi bị ung thư
Đồ uống có ga và nước tăng lực
Bỏng ngô
Phô mai và kem phô mai
Thịt lợn và thịt bò (thịt đỏ nói chung)
Bia và rượu vang
Mì ống
Yến mạch
admin
Site Admin
 
Bài viết: 7110
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về Tài liệu Tự Học Chữa Bệnh

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách

cron