Hành trình khám phá bản thân

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 7 26, 2017 11:44 am

Đừng tu thành Thần

Ngày nay người ta Tu theo Phật rất nhiều, bởi con đường của Phật là con đường Bình an và Giải thoát. Nhưng hỡi ơi...Tu đắm đuối mà lại thành Thần mới đau. Thực tế nếu được Thành thần tiên thì cũng tốt hơn là vào Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sanh đúng không ... Nhưng Thành thần thì A Tu La cũng mệt mỏi chẳng kém. Nên trong Kinh, Phật không khuyến khích người ta Tu để thành Thần vì từ Thần tu thành Phật còn khó hơn là Con người ... Vì sao ?? Vì bản ngã ...
Nếu bạn thường xem phim Thần thoại thì Thần tiên thường có Bản ngã rất lớn, Chiến đấu ở Thần thông Biến hoá. Giúp cho Loài người nhưng lại Đòi hỏi Miếu thờ và Cúng dường. Họ mà Giận dữ thì cũng Phiền phức lắm. Thành thần tiên thì Công Đức chẳng nhiều nhưng rất nhiều Phước Đức. Phước Đức hết thì lại Đoạ tiếp tục ... vậy thì đâu có Niết bàn và Giải thoát ...
Vậy tại sao Tu phật mà lại Thành thần ?? Vì Ham cầu Phước báu cho cái Bản ngã. Phật dạy Buông xã, ta tu lại Tham đắm vào ... Tham đắm Lời khen, Tước vị và cả Phước báo. Lại còn Mê tín chạy theo Hình thức, Hình tượng những Lễ nghi tốn kém và Không cần thiết. Mà chẳng chịu Tu sửa Thân tâm mình. Ta tu mà muốn Ăn trên Ngồi trước, thích được Làm thầy thiên hạ, Cung kính Cúng dường.
Nếu chẳng chứng được Pháp bất nhị thì tất sẽ thấy có Mình có Người, thì đường Tu chông gai lắm. Phật dạy Phụng sự thế gian để xả ra cái Tham đắm của Bản ngã, Ta làm cho Người thì để Nuôi cái Ngã thần thánh của mình. Ngày xưa, Đức phật 2 Y 1 Bát, ngày nay, mấy ai chịu Tu với 2 Bữa ăn với 1 Bộ đồ. Tu mà toàn muốn Thoải mái đầy đủ thì cũng Vật vã lắm. Vì đủ đầy sinh ra Bại hoại rất dễ thôi ... Ta làm cho Người vì ta thấy Ta cũng Khổ giống Người ... Hay ta thấy Ta hơn Người, Trí tuệ hơn Người, Từ bi hơn Người ... Nếu có một Cái thấy nào Hơn người là Cái thấy của Bản ngã, chứ chưa phải là Vô ngã ... mà không phải con đường Vô ngã thì lạc đường ...

(Sưu tầm)
Đây có lẽ là bài kết của topic Hành trình khám phá bản thân, tôi xem như một quyển sách gối đầu giường. Trải qua quá trình loanh quanh tìm đạo do muốn thoát khổ ở đời, nhưng càng tìm càng rối, tưởng như mất phương hướng...Thế rồi tôi gặp Khí Công Y Đạo, lại có lẽ nhờ duyên đã tu nhiều kiếp nên gặp được MINH SƯ là Vô Ưu. Con đường Giải thoát đã sáng tỏ trước mặt, giờ việc phải làm là đi trên con đường đó. Tôi muốn tri ân thầy Đỗ Đức Ngọc, chia sẻ với môn sinh của thầy trên toàn thế giới...Rất vui nếu có ai có thiện tâm chuyển ngữ những bài này ra nhiều thứ tiếng : Anh, Pháp, Nhật, Trung, Nga, Đức v.v...thì có lẽ rằng nhân loại sẽ bớt khổ đau, tất cả chúng sinh sẽ hạnh phúc, an vui và hòa hợp...
hoangthuynam
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi Trandan » Thứ 4 Tháng 8 16, 2017 12:51 pm

admin đã viết:Thầy kính mến.
Em rất cảm động đọc bài này. Đây là một nghĩa lớn của Thầy trò cô Tú, cũng như Thầy có tấm lòng BỒ TÁT, thương yêu con người, muốn truyền hết cho mọi người, không bao giờ Thầy ham danh vọng.
Em chưa biết địa chỉ của cô Tú cũng như nhóm này.
Còn nếu biết được địa chỉ của nhóm và quay được video ( nếu được phép), em cũng có thể ủng hộ được kinh phí.
Em luôn ghi nhớ công ơn to lớn của Thầy, chẳng biết lấy gì báo đáp.
Môn KCY Đ của Thầy ngày càng được nhiều người quan tâm không chỉ là người dân mà còn nhiều người có chức, vị cao.
Người dân Việt Nam đang dần được hưởng lợi lạc từ KCY Đ.
Học trò
Vương Văn Liêu

con đọc bài này thấy hy vọng quá
Trandan
 
Bài viết: 4
Ngày tham gia: Thứ 4 Tháng 2 25, 2015 3:09 am
Đến từ: Thái Bình

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 10 31, 2018 9:41 am

Hỏi đáp cùng người học Phật
Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018


Hỏi:
Kính anh, email này tôi có gửi đến anh nhưng có lẽ không đến do sai địa chỉ email. Nay tôi xin viết lại. Như một bệnh nhân đang khai rõ bệnh mình, có những triệu chứng gì để thầy thuốc bắt mạch chẩn đoán và tiện ghi đơn thuốc. Xin anh dành chút thời gian quý báu để tôi trình bày quá trình tìm đạo của tôi:
- 30 năm trước, tôi có tập phương pháp của Ông Tám, Lương sĩ Hằng và tôi có được hiện tượng xuất hồn. Sau khi tôi ngồi thiển hơn 30 phút, lúc nằm xuống tôi thấy tôi vượt ra khỏi cơ thể. Lúc đó tôi có quan sát lại cơ thể mình đang nằm, chỉ thấy một hình dạng như cơ thể con người, có màu tối đen. Thời gian trước tôi có đọc sách Thông thiên Học và biết linh hồn có thể đi xuyên qua bức tường. Và tôi thử khi xuất hồn, tôi không đi ra ngoài phòng bằng lối cửa, mà tôi đi xuyên tường. Lạ thật tôi vượt qua bức tường dễ dàng. Sau đó tôi nhìn xuống đất (lúc đó đang ở trên lầu 1), thấy cảnh vật, cây cối trong một ánh sáng mờ mờ như lúc 6, 7 giờ chiều. Tôi đi một lúc và khi trở lại gần thân thể. Lúc ấy cái tạm gọi là linh hồn bị hút mạnh vào thể xác. Lúc đó tôi tỉnh lại và tôi cố gắng nhớ tư thế lúc ngủ để hy vọng rằng sẽ chủ động xuất hồn lần nữa. Nhưng từ đó hiện tượng xuất hồn không trở lại nữa. Đây là một hiện tượng lạ nhưng tôi nghĩ là do sự hoạt động của óc não nên có thể xảy ra những ảo giác, mặc dù ảo giác này rất thật.
- Thời gian sau nữa, tôi không nhớ rõ. Tôi có quen một anh bạn. Tôi nói với anh ấy là tôi không tin có thế giới vô hình. Và anh bạn dẫn tôi đến một anh bạn khác dạy ở Đại học Mỹ thuật Sài gòn. Anh này tên Nhựt, anh có một ông Lục người Miên theo. Khi anh làm chuyện gì không phải, ông Lục nhập vào và anh tự đánh đập vào cơ thể mình. Khi tỉnh lại anh mới biết. Một lần, tôi và bạn tôi cùng anh Nhựt đi đến nhà một người bạn khác. Anh bạn này thứ Ba, làm nghề chữa bệnh tà ma… Anh Ba và anh Nhựt gặp nhau lần đầu. Khi tôi, bạn tôi và anh Nhật vào nhà. Sau khi chào hỏi, giới thiệu. Anh bạn tôi nói với anh Ba, đây là anh Nhựt có ông Lục người Miên theo, ông Lục này có thể nhập vào bất cứ lúc nào. Lúc này, anh Ba nói: nhập ở đâu chớ tại đây thì không thể nhập vào xuất ra tùy ý được. Ngay lúc đó anh Nhựt thay đổi tư thế, anh khệnh khạng đi đến bàn thờ thắp nhang cặm vào lư hương rồi nói bằng thứ tiếng lạ, tôi không hiểu được ý nghĩa. Anh Ba cũng ngạc nhiên vì ông Lục vẫn nhập vào anh Nhựt dù ngay tại lãnh địa của anh. Định thần lại, anh Ba cũng đối đáp bằng thứ tiếng lạ đó. Hai người vẫn nói năng bằng những âm thanh mà chúng tôi không hiểu nghĩa được. Rồi anh Ba nói với anh Nhật: thôi mình nói bằng tiếng Việt đi, chớ như vầy thì anh em có ai biết được gì đâu. Bấy giờ hai anh nói bằng tiếng Việt, anh Nhựt thì nói giọng lơ lớ như người Miên nói tiếng Việt!.. Bây giờ những anh bạn đó mỗi người một nơi, có anh đã sống ở nước ngoài, còn anh ba Nhựt đã mất do tai nạn giao thông.
- Cạnh nhà tôi có một cô gái khoảng 18 tuổi. Cô này có bà ngoại chết cách đây vài năm. Một lần tôi đi làm về, thấy nhà bên cạnh rất đông người, ồn ào. Hỏi ra mới biết bà lão đã mất nhập vào cô gái 18 tuổi. Cô gái nói chuyện y hệt như một bà già. Cô nhắc chuyện xưa, hỏi thăm những người lối xóm. Cô đòi ăn bánh da lợn. Khi người nhà mua bánh về, bà lão (trên thân xác cô gái 18 tuổi khỏe mạnh) cầm miếng bánh da lợn và ăn miếng bánh da lợn như một bà lão. Cô gái này nói tụi bây cho tao ăn bánh da lợn gì mà dai quá! Sau khoảng một giờ, người nhà nói thôi ngoại nghỉ nói chuyện một lát đi để tụi con ăn cơm. Sau khi gia đình ăn cơm xong, thì cuộc đàm thoại giữa người âm kẻ dương lại tiếp tục!
- Vài sự việc trên đã cho riêng tôi một bài học vô cùng quý báu. Hơn 20 năm trước, khi đọc kinh Thủ lăng nghiêm, sau khi Phật chỉ rõ ông A nan là ông không phải là thân xác, mắt, óc não mà ông chính là tánh Biết thường hằng, bất sinh, bất biến, bất diệt. Lúc đó tôi còn nghi hoặc, tôi không tin. Vì tôi nghĩ đâu là thân, đâu là vọng tâm, đâu là chân tâm. Theo tôi chỉ có óc não là chủ đạo. Khi còn óc não thì còn hai trạng thái: một là tĩnh lặng, sáng suốt tạm gọi là chơn tâm và hai là sự nhận xét phân biệt khen chê, nghĩ quá khứ, tưởng đến tương lai, hạnh phúc, khổ đau… Nếu thân này chết đi óc não hư hoại thì còn đâu cái gọi là chân tâm, vọng tâm nữa??? Và nếu kinh sách hay người nào giải thích có lẽ tôi sẽ không bao giờ tin được.
Nhưng vài sự việc xảy ra mà tôi đã kể ở trên, đủ cho tôi thấy sau khi con người chết đi, thân thể, trí não này dù bị hư hoại đi, tánh Biết vẫn còn tồn tại và vẫn có sự sống sau khi con người chết đi, sau khi thân này, óc não này hư hoại.
- Vài năm sau, tôi đọc quyển Pháp bảo đàn kinh của Lục tổ Huệ Năng và suy tư về ý nghĩa của kinh. Câu mà tôi hay nhớ là: Tổ Huệ Năng bảo Huệ Minh: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, chính khi ấy cái gì là Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?" Đột ngột, một lần tôi rơi vào một trạng thái lạ lùng. Tôi vẫn sinh hoạt như ngày thường, tôi vẫn đi làm việc, vẫn đang sống với vợ tôi. Tôi có cảm giác trong lòng hạnh phúc, thơ thới không tả được. Cảnh vật bên ngoài hình như sáng rỡ, lung linh. Trong thời gian rơi vào trạng thái này, hầu như tôi không còn suy nghĩ, phân biệt gì. Toàn bộ bộ máy suy nghĩ như dừng lại. Tôi cảm giác không một chút phiền muộn, thân thể như nhẹ nhàng hơn nhiều. Nếu suốt cuộc đời như ba ngày mà tôi trãi nghiệm có lẽ không thể dùng bất cứ gì để đánh đổi. Tôi nghĩ rằng mình đã rơi vào trạng thái ngộ đạo hay gì gì đó rồi. Nhưng sau ba ngày tôi trở lại bình thường như mọi ngày!

- Kính anh, còn những chuyện lạ khác, tôi xin được không kể ra. Nhưng tất cả sự việc xảy ra, cuối cùng cho tôi cảm nhận, tin tưởng tuyệt đối là có một đấng, hay một lực vô hình toàn tri, toàn năng. Và cũng có những vị phò trợ vô hình, họ có thể theo hướng dẫn cho mỗi người suốt một kiếp người. Vì tin như thế, tôi thường đứng thành tâm khấn nguyện Ơn Trên cho tôi gặp được một phương pháp có thể theo đó mà hòa với Ơn Trên sống với bản chất thực của mình… Đồng thời cho tôi gặp những bạn đạo cùng ý hướng… Trong hơn năm nay tôi có đọc được những trải nghiệm và bài giảng của đạo sư Duy Tuệ, và ba quyển sách của ông Eckhart Tolle (sức mạnh của hiện tại, sức mạnh của sự Tĩnh lặng, Một thế giới mới). Gần đây tôi biết được nhiều đạo hữu khác. Tất cả đều đem lại cho tôi những bài học, kinh nghiệm hữu ích.
Thưa anh, bây giờ tôi xin được nói về ý kiến cá nhân của tôi:
- Phật và Ơn Trên ai hơn ai? Tôi nghĩ, trước khi đức Phật Thích Ca sinh ra thì đã có chư Phật, vô số Phật đã thành rồi. Phật Thích Ca cũng là người như chúng ta. Nhưng ngày đã nhận lại và sống với bản lai diện mục, sống lại với tánh Vô Cùng sẵn có. Và vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô, khoảng không gian bao la không ngằn mé này đã có trước lâu lắm rồi. Nhưng khi tôi tin có Thượng Đế ( tạm gọi là vậy ) hoặc lực tối cao, hoặc thái cực hay gì gì đó thì có một câu hỏi trong tôi lại xuất hiện: Ai sinh ra Thượng đế đây? Đây là điều không thể hiểu nổi. Con người với trí óc hạn hẹp không thể trả lời câu hỏi này được.
- Không thể phân chia đạo Phật làm Phật giáo nguyên thủy hay Đại thừa hay gì gì nữa. Vì Phật Thích Ca đã nói “Đạo ta chỉ có một vị duy nhất là giải thoát”.
- Phật giáo có vô số (84.000 pháp môn) được chia ra làm 3 tông: Thiền, Tịnh, Mật . Chúng sinh tùy chỗ chấp của mình mà chọn một trong 3 tông. Nhưng đích đến cũng là một. Như trong đời thường, bệnh về thể xác có nhiều loại từ bệnh nhẹ là cảm cúm đến bệnh các tạng phủ, bệnh do vi trùng… Mỗi bệnh phải dùng một số thuốc đặc hiệu. Nhưng đích đến vẫn là một: là sự khỏe mạnh. Do đó nếu tôi đau đầu do cảm, tôi uống loại thuốc này rất hay. Nhưng tôi không thể chỉ cho một người bị đau đầu do bị bệnh cao huyết áp được. Một thí dụ khác, hai người đi trên cầu khỉ. Người hướng dẫn không thể bảo hai người là phải cùng nghiêng bên phải hay bên trái được. Vì nếu 1 người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng phải thì anh hướng dẫn phải yêu cầu người ấy nghiêng về bên trái để được thăng bằng. Còn người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng trái thì anh hướng dẫn không thể nghiêng thêm bên trái được. Tôi nghĩ Phật Pháp là bất định pháp. Tùy chỗ chấp, chỗ sai lầm của chúng sinh mà có một phương cách thích hợp. Trong y dược, Sâm Nhung vô cùng tốt với người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp. Nhưng sâm nhung lại tối kỵ cho người bị bệnh cao huyết áp!
- Những phương pháp tôi đã biết đã hành tôi tin rằng đều do các vị phò trợ vô hình hướng dẫn. Có những phương pháp áp dụng rồi không còn áp dụng nữa. Tôi cho đó là sự ôn tập những gì đã tu tập ở kiếp trước. Mọi việc xảy ra đều là bài học cho mình. Mọi bạn đạo đã quen biết đều có nhân duyên từ những kiếp trước và từ họ có thể có lợi ích cho mình và ngược lại.
- Trong đạo Phật không có người nhỏ tuổi hay lớn tuổi hơn mình. Cũng như bây giờ tôi (64 tuổi) và một ông lão 100 tuổi. Năm sau ông lão chết và tái sinh trở lại. Lúc này thì tôi đã già hơn ông lão (vì lúc này ông mang thân xác của một em bé). Cuộc đời ví như một tuồng hát. Tôi thí dụ có thể hiện giờ anh đóng vai đạo sư. Tôi đóng vai bác sĩ. Hoặc ai khác đóng vai kẻ ăn xin… thì cũng chẳng qua là vai diễn. Và ai cũng có sẵn Phật tính (Chơn như, Bản lai diện mục, tánh Giác, tánh Biết thường hằng bất sinh bất diệt). Nếu chúng ta chấp vào vai diễn tạm trong kiếp này mà quên đi Phật tánh sẵn có thì chúng ta bị trôi lăn theo sinh tử vô thường. Còn chúng ta sống với tánh Biết vốn có thì chúng ta đã sống với cái bản chất Vô cùng của mình rồi.
- Bản chất của vũ trụ (Phật tánh) là bất sinh bất diệt tròn đầy. Dù dưới hình hài của người trí, kẻ ngu, con vật… cũng mang bản chất của vũ trụ, cũng hàm chứa Phật tánh từ lúc mới sanh. Như nước biển, dù ở biển rộng bao la, hoặc dù rót vào bình, vào chai, vào lu thì đều là nước biển chớ không khác nhau do chúng được chứa vào vật đựng! Bản chất này không cần làm gì hết cũng là nước biển, cũng là Phật tánh sẵn có. Như vậy chỉ cần nhận lại và sống với Phật tánh có sẵn chớ thật ra không cần phải động thủ, chẳng cần phải tu (đó là ý riêng của tôi).
- Tôi tin lời đức Phật Thích Ca nói: Chúng sinh ai cũng có Phật tánh (bản chất của cái vô cùng, điểm linh quang của Thượng đế theo đạo Cao Đài, bản lai diện mục, Chơn Tâm…). Do đó chỉ cần nhận lại Phật tánh và sống với Phật tánh là đạt được ý nguyện của kiếp nhân sinh. Nhưng đó chỉ là sự hiểu biết bằng trí óc (vẫn là dựa trên sinh diệt) chứ thật ra bấy lâu tôi vẫn cứ loay hoay. Tôi như con côn trùng cứ cố sức bay ra khỏi phòng nhưng không tìm được cửa mà cứ đâm đầu vào vách!
Tôi lại nghe nói tâm yên thì Phật tánh hiển lộ. NHƯNG LÀM CÁCH NÀO TÂM YÊN??? Tôi không biết tu có cần phải ngồi thiền hay không. Ngồi là ngồi bao lâu và khi ngồi phải làm gì, để tâm yên hay quán xét một vấn đề gì. Còn lúc không ngồi (đi, đứng, nằm) thì phải tu như thế nào. Lúc đối diện với sắc (hình ảnh, màu, nam nữ, tiền bạc…), thanh (tiếng xe cộ, chửi rủa, khen chê, tiếng nhạc êm đềm, âm thanh chát chúa…), hương (mùi thơm, thối, mùi tóc, mùi thức ăn…), vị (mặn, ngọt, chua, cay, đắng…), xúc (sự tiếp xúc của thân này với tất cả các đối tượng )… thì phải tu như thế nào, phải sống như thế nào mới có thể trực nhận được chân lý??? Thật sự đây là một vấn đề quá hóc búa cho con người. Và với cá nhân tôi dù đây là chuyện tôi đã lưu tâm từ lâu vẫn không thể bước thêm một ly nào! Cho nên nghe anh viết, trình bày và xác nhận rằng anh đã đến nơi Phật Thích Ca đến, tôi hết sức vui mừng. Xin anh chẩn bệnh và bốc thuốc cho tôi để được tỉnh mộng thực sự, tỉnh mộng hoàn toàn. Tôi nguyện khi tỉnh thức sẽ đem mọi khả năng để tìm người thực tâm muốn trở về nhà, tìm mọi cách để họ có thể về được quê xưa như mình.
Thành tâm mong được sự khai ngộ của anh. Kính chúc anh luôn vui khỏe.


Trả lời:

Chào chú! Cháu là Tuấn, cũng là Vô Ưu,… những tên gọi đó chỉ là giả danh nó không thật cũng như bản chất vô thường của vạn pháp. Về những sự trải nghiệm của chú như việc xuất hồn, cảm giác thăng hoa thơi thới 3 ngày hay việc biết đến những người bị vong nhập thì với cháu không có gì đáng ngạc nhiên bởi cháu đã từng chạm đến không chỉ 1 lần…
Hẳn là chú không ngồi thiền theo phương pháp xuất hồn lâu rồi... Nói về phương pháp của thầy Lương Sĩ Hằng thì cháu khách quan đánh giá “ Đó không phải là pháp hành của Phật mà là pháp tu đã chịu sự ảnh hưởng của đạo Lão, gốc của việc xuất hồn là tạo thánh thai, hình thành huyễn thân, xuất huyễn thân rong chơi tiêu diêu, tự tại”. Với pháp tu này thì nếu người có định lực yếu dễ rơi vào hoang tưởng do bị tâm ma nhiễu loạn hoặc do bị các vong mượn nhà, đoạt xác. Còn trường hợp người định lực vững mà không rõ biết pháp tu thì sẽ tự nâng cao bản ngã, cái tôi. Điều này sẽ chướng ngại cho sự giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Có thể xem đây là một dạng của phép tu tiểu thừa. Nếu hành pháp tinh chuyên, thông suốt mà không kịp phá bỏ cái tôi trước khi nhắm mắt thì người hành pháp sẽ đạt 1 trong 4 quả vị thánh hoặc tự tạo ra tiên cảnh mà thọ dụng. Với trường hợp tạo ra tiên cảnh thì lâu về sau nhàm chán sẽ quay lại luân hồi nơi 3 cõi…
Cảm giác thảnh thơi, thoát tục là cảm giác thường thấy của người tu bên dòng thiền. Nó giúp người tu tin rằng cảm giác an lạc, tự tại là thật có khi con người thoát ra khỏi những dính mắc lợi danh, tiền của, mê đắm,… Và có lẽ mỗi người chỉ có cơ may nếm trải 1 lần cảm giác đó trong đời. Điều này giúp người học Phật tin sâu vào sự giải thoát hoàn toàn. Việc thần thức rời khỏi thân xác thì người hành pháp có thể chạm đến nhiều lần nhưng việc làm đó không hẳn là rất cần thiết cho việc giải thoát hoàn toàn. Vấn đề quan trọng nhất của đạo giải thoát là dùng sự hiểu biết để phá bỏ cái tôi mà mỗi người chấp giữ đã bao đời nay. Đây mới thật là vấn đề khó cho người hành pháp. Do chấp ngã, chấp vô ngã, chấp có, chấp không, chấp tâm, chấp cảnh, chấp việc đạt pháp, việc xuất hồn, việc kỳ đặc khi ngồi thiền, chấp giữ sự hiểu biết của mình là cùng tột,… mà người học Phật không thể chạm đến nguồn an lạc, tự tại ngay trong hiện kiếp. Và… đến khi rơi vào luân hồi, (Nếu duyên tốt nhập vào thai người) việc nhập thai ngục 9 tháng 10 ngày, quá trình trưởng dưỡng tuổi thơ, rồi việc học hỏi, giáo dục thiên lệch, chủ quan thì “người trở lại” đã quên công phu hành pháp tiền kiếp mà mãi không thoát ra được 3 cõi 6 đường.
Phật và Ơn Trên ai hơn ai? Tôi nghĩ, trước khi đức Phật Thích Ca sinh ra thì đã có chư Phật, vô số Phật đã thành rồi. Phật Thích Ca cũng là người như chúng ta. Nhưng ngài đã nhận lại và sống với bản lai diện mục, sống lại với tánh Vô Cùng sẵn có. Và vũ trụ từ vi mô đến vĩ mô, khoảng không gian bao la không ngằn mé này đã có trước lâu lắm rồi. Nhưng khi tôi tin có Thượng Đế ( tạm gọi là vậy ) hoặc lực tối cao, hoặc thái cực hay gì gì đó thì có một câu hỏi trong tôi lại xuất hiện: Ai sinh ra Thượng đế đây? Đây là điều không thể hiểu nổi. Con người với trí óc hạn hẹp không thể trả lời câu hỏi này được.
Xem ra chú phải bỏ hết cái biết của mình thì mới có thể liễu nghĩa Tam tạng kinh. Hay nói cách khác chú phải bỏ cái biết của chú thì cháu mới có thể chọn thuốc giúp chú được. Chú có đồng ý không?
Vì không có điều kiện tiếp xúc chú nhiều nên cháu cần chú “gác” cái biết của chú sang 1 bên. Cho đến khi chú tham khảo sách và những giải trình của cháu xong thì chú hãy khách quan đánh giá. Nếu những điều cháu nói là vô ích, không có giá trị thì chú “vất đi” và dùng lại cái biết chú đã góp nhặt và cho rằng đúng hơn.
Chú đã tham khảo khá nhiều giáo lý các tôn giáo khác nhau. Trong đó có cả đạo Cao Đài. Có những sách viết đúng, có những sách viết không ổn nhất là những sách do những người chưa thực chứng viết hoặc dịch giải ra. Bởi do có câu “Y kinh giải nghĩa Tam thế Phật Oan, Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết - y kinh giải nghĩa thì oan cho cả 3 đời chư Phật, còn bằng rời kinh dù chỉ là một chữ tức là lời ma nói; cái chữ rời kinh mà thuyết để thành lời ma nói chính là chữ Tâm, rời Tâm mà nói thì là lời hư dối, lời ma mị”. Vì biết nhiều nên chú sẽ rối. Bây giờ cháu sẽ gỡ rối từ từ xem chú có vừa ý không trước đã.
Cháu khẳng định “Không ai hơn Phật Thích Ca”. Ơn trên, thánh Ala,… chỉ là một cụm từ chung chung và cũng là một dạng chúng sinh nơi 6 đường. Đó chính là nẻo Trời mà giáo lý nhà Phật đã chỉ ra. Cháu cũng không là đệ tử Phật, không còn là người học Phật, người bảo vệ Phật nên không có lý do gì để tâng bốc Phật Thích Ca. Chú còn nhớ câu “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn - chỉ có cái ngã là cao quý hơn cả; cái ngã đó là cái ngã trùm khắp, là Tâm, là Phật chứ không phải là cái tôi nhỏ bé mà mỗi người đang chấp giữ. Và … Vạn Pháp Quy Tâm hay nói cách khác là vạn pháp do tâm sinh đã lý giải những gút mắc về sự tồn tại của thượng đế, thánh Ala, chúa Jesu mà chú đề cập và nó cũng lý giải được câu “Ai là người sinh ra thượng đế đây?” của chú. Vấn đề thượng đế chú đã “hiểu nỗi” chưa? Chỉ do tâm tạo. Tâm của ai tạo? Tâm của người tạo chứ không phải tâm Phật. Tâm Phật chỉ tạo ra duy nhất Tam tạng kinh và do chúng sinh, vì chúng sinh 3 cõi mà Phật Thích Ca đã lập ngôn. Chú đừng bận tâm về những vị Phật quá khứ vì những vị Phật đó không tồn tại; chú chỉ cần biết 2 vị Phật là đủ. Đó là vị Phật Thích Ca và vị Phật là chú. Con người với trí óc phân biệt dính mắc sẽ không thể trả lời rốt ráo những vấn đề nơi sự sống, vũ trụ nhưng người nào sống với cái biết sáng rõ, khách quan, không dính mắc sẽ rõ mọi sự việc trên như giữa ban ngày. Vấn đề này chú đã thông chưa? Nếu chú thấy chưa thỏa đáng thì cứ nói chỗ không thỏa đáng cháu sẽ lý giải tường tận vì vấn đề này cháu rõ biết.
Không thể phân chia đạo Phật làm Phật giáo nguyên thủy hay Đại thừa hay gì gì nữa. Vì Phật Thích Ca đã nói: đạo ta chỉ có một vị duy nhất là giải thoát.
Nói không chia cũng không được chú à. Vì lẽ người ta đã chia rồi, vạn pháp do tâm sinh mà nhưng người đạt sự giác ngộ sẽ không chấp vào điều đó. Đại thừa, nguyên thủy, tiểu thừa,… rõ biết rồi không dính mắc nữa. Dù vậy, nếu người nào tin nhận mà chưa thông suốt thì vẫn nên tỏ bày không dính mắc, đền trả từ bi Tâm của Phật; còn những người u mê, tự phụ thông minh hơn người, không đủ duyên đành tùy thuận im lặng như người chết. Vì nói không đúng thời sẽ gây ra điều chống trái, hiềm khích,…
Phật giáo có vô số (84.000 pháp môn) được chia ra làm 3 tông : Thiền, Tịnh, Mật. Chúng sinh tùy chỗ chấp của mình mà chọn một trong 3 tông. Nhưng đích đến cũng là một. Như trong đời thường, bệnh về thể xác có nhiều loại từ bệnh nhẹ là cảm cúm đến bệnh các tạng phủ, bệnh do vi trùng… Mỗi bệnh phải dùng một số thuốc đặc hiệu. Nhưng đích đến vẫn là một: là sự khỏe mạnh. Do đó nếu tôi đau đầu do cảm, tôi uống loại thuốc này rất hay. Nhưng tôi không thể chỉ cho một người bị đau đầu do bị bệnh cao huyết áp được. Một thí dụ khác, hai người đi trên cầu khỉ. Người hướng dẫn không thể bảo hai người là phải cùng nghiêng bên phải hay bên trái được. Vì nếu 1 người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng phải thì anh hướng dẫn phải yêu cầu người ấy nghiêng về bên trái để được thăng bằng. Còn người đi trên cầu có khuynh hướng nghiêng trái thì anh hướng dẫn không thể nghiêng thêm bên trái được. Tôi nghĩ Phật Pháp là bất định pháp. Tùy chỗ chấp, chỗ sai lầm của chúng sinh mà có một phương cách thích hợp. Trong y dược, Sâm Nhung vô cùng tốt với người suy nhược cơ thể, huyết áp thấp. Nhưng sâm nhung lại tối kỵ cho người bị bệnh cao huyết áp!
Phật giáo có 84000 pháp môn. Cái này bỏ đi vì đó chỉ là một lời nói nó không có nhiều giá trị, nó chỉ mang tính ước lệ rằng có rất nhiều cách để đạt được sự giải thoát hoàn toàn dù rằng không cần tỏ ngộ hết tất cả vạn pháp mà chỉ cần tỏ ngộ về sự giải thoát hoàn toàn. Vì nó và sự tỏ ngộ không đúng mực mà đệ tử Phật đã chia tông, rẽ giáo Thiền, Tịnh, Mật làm rối mắt nhân gian, khiến người học Phật rơi vào lối rẽ, đường cùn. Thử hỏi đã có mấy ai nhờ Thiền, Tịnh, Mật mà thành Phật? Phật pháp là bất định pháp là đúng nhưng phải nói thêm sự giải thoát hoàn toàn là định pháp thì mới đủ nghĩa về pháp Phật. Vậy nên Phật pháp là là định pháp và cũng là bất định pháp. Giáo lý nhà Phật lẽ ra là sống nhưng vì người học Phật tự trói mình vào Tam tạng kinh khiến kinh điển chết vì thế đạo Phật mới rơi vào thời mạt pháp. Trong giáo lý, kinh điển các tôn giáo thì chỉ có kinh điển đạo Phật là kinh điển mở nhưng vì kém hiểu biết người học Phật đã khiến kinh điển nhà Phật chết và mất dần giá trị. Việc tùy bệnh mà cho thuốc là việc làm rất đúng mực, có ý nghĩa.
- Những phương pháp tôi đã biết đã hành tôi tin rằng đều do các vị phò trợ vô hình hướng dẫn. Có những phương pháp áp dụng rồi không còn áp dụng nữa. Tôi cho đó là sự ôn tập những gì đã tu tập ở kiếp trước. Mọi việc xảy ra đều là bài học cho mình. Mọi bạn đạo đã quen biết đều có nhân duyên từ những kiếp trước và từ họ có thể có lợi ích cho mình và ngược lại.
Mong rằng chú bỏ qua niềm tin các vị vô hình hướng dẫn. Cháu không nói họ không tồn tại vì cháu đã từng tiếp xúc họ. Trên thực tế họ không biết đường thì làm sao có thể hướng dẫn chú cho đặng. Họ còn đang không rõ lối đi cho chính họ thì sao có thể giúp chú. Những người rõ biết đường thì đều nhập niết bàn tịch diệt cả rồi. Lời này cháu nói không hư dối chú à. Nếu chú tỏ ngộ thì chú còn phải giúp ngược lại họ, khuyên họ giải thoát khỏi thể không hư dối hoặc tìm lấy một hình người tu tập thoát luân hồi…
- Trong đạo Phật không có người nhỏ tuổi hay lớn tuổi hơn mình. Cũng như bây giờ tôi (64 tuổi) và một ông lão 100 tuổi. Năm sau ông lão chết và tái sinh trở lại. Lúc này thì tôi đã già hơn ông lão (vì lúc này ông mang thân xác của một em bé). Cuộc đời ví như một tuồng hát. Tôi thí dụ có thể hiện giờ anh đóng vai đạo sư. Tôi đóng vai bác sĩ. Hoặc ai khác đóng vai kẻ ăn xin… thì cũng chẳng qua là vai diễn. Và ai cũng có sẵn Phật tính (Chơn như, Bản lai diện mục, tánh Giác, tánh Biết thường hằng bất sinh bất diệt). Nếu chúng ta chấp vào vai diễn tạm trong kiếp này mà quên đi Phật tánh sẵn có thì chúng ta bị trôi lăn theo sinh tử vô thường. Còn chúng ta sống với tánh Biết vốn có thì chúng ta đã sống với cái bản chất Vô cùng của mình rồi.
Thực ra có lớn, có nhỏ vì ông cụ 100 tuổi khi trở thành một em bé đã không còn nhận biết về tiền kiếp của mình, bảo họ là 1 e rằng không phải lẽ; Dù vậy họ cũng chẳng phải 2. Tuy nhiên, với giao tiếp thông thường thì gặp người lớn gọi ông, gặp em bé kêu cháu thì ổn hơn.
Cháu sẽ nói rõ một chút về đạo Phật. Đạo Phật là đạo giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Giác ngộ đơn giản chính là sự hiểu biết; giác ngộ giải thoát hoàn toàn là sự hiểu biết sáng rõ đúng thật về sự giải thoát hoàn toàn. Thế nên sự hiểu biết đúng mực, đủ đầy về sự giải thoát là điều kiện tiên quyết giúp con người vượt khỏi luân hồi. Là chìa khóa để buông bỏ cái tôi mà mỗi người đang chấp giữ. Cái tôi mà mỗi con người đang chấp giữ chính là nguyên nhân khiến con người nhào lên, lộn xuống trong 3 cõi 6 đường.
Vì vậy cháu sẽ chỉnh sửa lại khái niệm Phật tính của chú. Phật tính chính là tánh giác, tánh biết về sự giải thoát hoàn toàn, là phần động, có tích lũy, gom góp; còn chân như, bản lai diện mục thì tạm gọi là Tâm, là phần tĩnh. Dù rằng cái biết sau cùng cũng phải buông bỏ nhưng phải biết rõ đúng sai, chẳng sinh lòng yêu ghét thì việc buông bỏ mới dễ dàng.
- Bản chất của vũ trụ (Phật tánh) là bất sinh bất diệt tròn đầy. Dù dưới hình hài của người trí, kẻ ngu, con vật… cũng mang bản chất của vũ trụ, cũng hàm chứa Phật tánh từ lúc mới sanh. Như nước biển, dù ở biển rộng bao la, hoặc dù rót vào bình, vào chai, vào lu thì đều là nước biển chớ không khác nhau do chúng được chứa vào vật đựng! Bản chất này không cần làm gì hết cũng là nước biển, cũng là Phật tánh sẵn có. Như vậy chỉ cần nhận lại và sống với Phật tánh có sẵn chớ thật ra không cần phải động thủ, chẳng cần phải tu đó là ý riêng của tôi).
Bản chất vũ trụ không là Phật tánh mà là tâm, là vạn pháp. Thế nên lập ngôn của chú có điều không ổn. Chúng sinh 3 cõi đều có Phật tánh là đúng nhưng chỉ có chúng sinh nẻo người đang tìm và đi trên con đường giác ngộ giải thoát may ra mới nhận biết Phật tánh mà thôi. Và ngày nay rất ít trong số họ sống bằng Phật tánh mà đạt được giải thoát hoàn toàn. Vì vậy hiện có rất ít người thoát khỏi luân hồi dù rằng có nhiều hơn điều kiện tiếp xúc kinh điển nhà Phật. Do có Phật tính mà không thể nhận biết thì khác gì không có Phật tính. Hơn nữa, nhận biết đã khó, sống đúng bằng Phật tánh càng không dễ. Thế nên bảo chỉ cần nhận lại và sống bằng Phật tánh sẵn có mà không cần động thủ, không cần tu e rằng hơi mạo hiểm trừ phi liễu ngộ vạn pháp, liễu ngộ Phật tánh. Nếu muốn làm được điều đó thì hãy tự xét lại căn cơ xem tự thân là người tiệm tu hay đốn ngộ. Người tiệm tu cần hành trì miên mật bảo nhậm bản tâm; người tu đốn ngộ sau khi nhận diện được bản tâm tự tu, tự hành cho đến khi liễu ngộ hoàn toàn thì tu mà không tu, hành mà không hành, không hành mà hành.
- Tôi tin lời đức Phật Thích Ca nói: Chúng sinh ai cũng có Phật tánh (bản chất của cái vô cùng, điểm linh quang của Thượng đế theo đạo Cao Đài, bản lai diện mục, Chơn Tâm…) .
Chú bỏ cái hiểu của đạo Cao Đài đi. Tôn giáo này là một bản photo, góp nhặt giáo lý các tôn giáo khác 1 cách không hoàn chỉnh, rơi vào đó càng rối trí thêm. Nếu liễu ngộ thì họ đã không đem thánh thần, thiên địa, Phật,… đặt cả lên bàn thờ và đưa thượng đế làm chủ tể của muôn vật; Rồi vẽ bày Phật tánh là điểm linh quang của thượng đế, còn trói con người với thượng đế thì việc giải thoát quá xa vời.
Do đó chỉ cần nhận lại Phật tánh và sống với Phật tánh là đạt được ý nguyện của kiếp nhân sinh. Nhưng đó chỉ là sự hiểu biết bằng trí óc (vẫn là dựa trên sinh diệt) chứ thật ra bấy lâu tôi vẫn cứ loay hoay. Tôi như con côn trùng cứ cố sức bay ra khỏi phòng nhưng không tìm được cửa mà cứ đâm đầu vào vách!
Và đến đây thì chú đã tự khẳng định về điều chú nói trước đó “chỉ cần nhận lại và sống bằng Phật tánh mà không cần phải hành trì” là có điều chưa ổn. Phải chăng chú tin mình có Phật tánh mà chưa sống được? Thế nên pháp xuất thế gian chẳng thể dùng cái hiểu biết, tư duy chủ quan mà thâm nhập được, chú Hải à! Chú đã hội đủ rất nhiều yếu tố để vượt khỏi luân hồi như sự tín tâm Phật tánh, tin nhận có thế giới vô hình,… Tuy nhiên, chính cái biết chưa thông suốt đang trói chú. Trong cái biết của chú có những cái đúng, có những cái sai, chú cứ thong thả gạn lọc lại, khi nhận ra những cái sai là chú sẽ có được cái đúng. Và với một sự khách quan chú hãy xem sách của cháu rồi cho cháu biết chú tìm được gì hay không thấy có gì mới so với những gì chú đã biết. Những điều gì chú cảm thấy chưa ổn, những gút mắc chú cứ trao đổi thẳng thắn với cháu. Cháu sẽ cùng chú mở những nút thắc đó. Đạo Phật là đạo hiểu biết vì thế hãy dùng sự hiểu biết để khai mở những điều chưa rõ về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Tôi lại nghe nói tâm yên thì Phật tánh hiển lộ. NHƯNG LÀM CÁCH NÀO TÂM YÊN?
Đây là câu nói đúng nhưng hơi vụng. Nó tựa như câu tâm bình thường thị đạo nhưng thế nào là tâm bình thường thì lại không nói rõ khiến người chẳng biết đường hành.
Tôi không biết tu có cần phải ngồi thiền hay không. Ngồi là ngồi bao lâu và khi ngồi phải làm gì, để tâm yên hay quán xét một vấn đề gì. Còn lúc không ngồi đi, đứng, nằm) thì phải tu như thế nào. Lúc đối diện với sắc (hình ảnh, màu, nam nữ, tiền bạc…), thanh (tiếng xe cộ, chửi rủa, khen chê, tiếng nhạc êm đềm, âm thanh chát chúa…), hương (mùi thơm, thối, mùi tóc, mùi thức ăn…), vị (mặn, ngọt, chua, cay, đắng…), xúc (sự tiếp xúc của thân này với tất cả các đối tượng )… thì phải tu như thế nào, phải sống như thế nào mới có thể trực nhận được chân lý??? Thật sự đây là một vấn đề quá hóc búa cho con người. Và với cá nhân tôi dù đây là chuyện tôi đã lưu tâm từ lâu vẫn không thể bước thêm một ly nào…
Lục Tổ Huệ Năng đã từng nói tụng kinh, niệm Phật, ngồi thiền,… là nhị pháp còn Phật pháp là pháp bất nhị. Dù vậy Lục Tổ không khiến người tu không ngồi thiền mà là đừng quá chấp chặt việc ngồi thiền. Thế nên việc ngồi thiền là tùy thuận, có điều kiện thì ngồi, ít nhiều, thời gian là tùy thuộc vào hoàn cảnh mỗi người. Việc ngồi thiền giữ tâm lặng lẽ, lắng tâm sẽ giúp trí não khỏe mạnh, thân thể máu huyết cân bằng sẽ góp phần khai mở cái biết sáng rõ, đúng mực về con đường giải thoát hoàn toàn. Những lúc không ngồi thì “Tâm bình thường là đạo”, sắc thanh hương vị xúc là cảnh, cảnh vốn vô thường thì đừng tham đắm cảnh mà khiến tâm cũng vô thường, vọng tâm làm chủ, thường sống bằng vọng tâm sẽ hiển bày tham sân si mạn nghi là những tánh biết dính mắc khiến con người trôi nổi trong lục đạo… Chú cứ giữ tâm bình thường, an nhiên thì về sau chú sẽ nhận biết mình đã tiến xa chứ không chỉ là bước thêm vài ly. Điều quan trọng ở cái biết, trí tuệ khai mở và phải hằng sống với cái biết đúng mực, sáng rõ - Tâm bình thường là đạo.
Cho nên nghe anh viết, trình bày và xác nhận rằng anh đã đến nơi Phật Thích Ca đến, tôi hết sức vui mừng. Xin anh chẩn bệnh và bốc thuốc cho tôi để được tỉnh mộng thực sự, tỉnh mộng hoàn toàn. Tôi nguyện khi tỉnh thức sẽ đem mọi khả năng để tìm người thực tâm muốn trở về nhà, tìm mọi cách để họ có thể về được quê xưa như mình.
Cháu rất trân trọng tâm nguyện của chú. Vì thế cháu sẽ làm mọi cách có thể những mong chú đạt thành sở nguyện nhưng chính chú mới là người tự giải thoát cho chính mình. Tuy nhiên, cháu lại thêm một lần nữa khiến chú rối trí 1 chút. Thật không có nhà, không có quê xưa để về. Vì nếu còn muốn tìm về quê xưa, nhà cũ thì còn trôi nổi; vấn đề chỉ là sự dừng lại hay tiếp tục đi trong luân hồi mà thôi.
Không sai, cháu có nói đã đến nơi Phật Thích Ca đã đến. Đó là khi cháu nhận lại tánh giác. Khi rõ biết và sống với tánh giác thì có nơi nào người học Phật không đến được, 3 cõi ra vào tự tại, thường sống nơi niết bàn. Dù vậy niết bàn không phải là cảm giác thăng hoa, thoát tục, thơi thới mà chú đã từng tiếp xúc. Đó chỉ đơn giản là thường an lạc tịnh.
Cháu chỉ mới 35 tuổi thôi, chú cứ xem gọi cháu là con hay cháu gì cho phải lẽ. Chúc chú khỏe mạnh và sớm khai mở nguồn tâm, sống được nơi chân như.

Phải chăng chú đã 64 tuổi? Thế thì chú càng nên quen dần với việc buông bỏ thì sẽ tốt hơn. Cánh cửa cuối đường hầm và Dứt Phàm Thành Thánh có lẽ sẽ có chút ít giá trị đối với chú.
Thật ra con người còn sống là còn vướng cảnh là việc rất bình thường. Có điều vướng nhiều hay vướng ít, biết đến Phật tánh là phải biết buông bỏ, buông bỏ từ từ, từng chút một và rồi đời sống ngày càng thảnh thơi, an lạc hơn. Việc chú bị trôi theo những suy nghĩ viển vông là điều dễ hiểu vì chú đang sống kia mà. Nhưng chú hãy rèn luyện sự tỉnh thức đừng dính mắc vào những suy tư viễn vông đó, cái nào làm được thì làm; không làm được thì bỏ đi. Sự hiểu biết tự tánh vạn pháp sẽ có ích cho chú. Chú cứ tham khảo sách của cháu qua 1 lượt rồi xác định lại “cháu có chỗ để dùng không?” và trao đổi thêm. Nếu chú thấy cháu có chỗ không ổn thì chú cứ thẳng thắn chỉ rõ. Cám ơn chú đã liên lạc!
-------------------
Vô Ưu- Một thoáng phương đông.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 6 Tháng 11 02, 2018 2:43 pm

Hệ thống ngân hàng, người hùng hay tội đồ?
Thứ Tư, 24 tháng 10, 2018


Long An, 9 giờ 45 phút, ngày 4 tháng 2 năm 2013, hôm nay tôi sẽ viết bài về hệ thống ngân hàng.
Dù vậy tôi cũng không biết là phải bắt đầu từ đâu?
Quả thật là không thể tùy tiện xét nét về công hay tội của một người huống hồ là nói việc đúng sai của cả một hệ thống tài chính ngân hàng ở trong nước hay nói rộng ra ngoài phạm vi thế giới. Nói về luật thì tôi lại không đủ tư cách pháp nhân để làm người phán quyết.
Nói về lợi khi chỉ ra sai lầm của người thì tôi cũng không được gì?
Nói về lý thì tôi vẫn có quyền lạm bàn lúc “trà dư, tửu hậu”,… À, mà nếu tôi không đủ tư cách pháp nhân thì nói theo kiểu không có tư cách pháp nhân, thiếu đạo, trái đức. Nếu nói vì bạn mà viết thì bạn nghe nhàm nên sẽ chán.
Thế nên, tôi sẽ vì sự ngẫu hứng bốc đồng, vì chim thiên nga cuồng loạn khi giãy chết mà viết vậy. Nhưng tôi cũng đánh giá sai mất rồi, tôi đen đúa, xấu xí thế này không thể so với chim thiên nga được có lẽ chỉ là con quạ đen giãy chết thôi.
Hiện nay, hệ thống ngân hàng đã tạo thành chuỗi hệ thống ngân hàng với vô số loại hình phong phú, đa dạng. Không chỉ là vô số thương hiệu ngân hàng khác nhau với các chủng loại nhà nước, liên doanh, tư nhân, các quỹ tính dụng,… và có cả chủ hụi, con hụi,… Trước đây, việc chơi hụi được coi như là bất hợp pháp bởi do nhà quản lý muốn bảo hộ cơ chế độc quyền hay nói khác hơn là tính độc tài hệ thống tài chính ngân hàng. Nhưng hệ thống ngân hàng lúc sơ khai thật không đủ khả năng phân phối giá trị thặng dư cho tất cả những thành phần xã hội cần vốn, người dân nghèo, ít đất khó mong chạm đến số vốn cần vay.
Vì lẽ đó mà việc chơi hụi vẫn được âm thầm duy trì, dù việc chơi hụi là bất hợp pháp, trái với pháp luật. Hơn nữa, việc tham gia trong hệ thống tiền tệ thật sự mang lại nhiều nguồn lợi lớn nên chủ hụi, con hụi vẫn cố gắng duy trì và làm chui việc chơi hụi. Do vậy việc chơi hụi đã tạo ra ít nhiều tiêu cực giật hụi, trốn nợ, mướn xã hội đen vào cuộc đòi quyền lợi, đòi nợ,…
Thêm nữa, việc giao dịch ngoài hệ thống tài chính của nhà nước khiến nhà quản lý thất thu một khoản giá trị thặng dư không nhỏ. Trên thực tế là số tiền luân chuyển trong trò chơi hụi là rất lớn. Thế là nhà nước buộc phải thừa nhận hệ thống huy động vốn chui này và hụi tạm xem như không còn chui nữa. Trước mắt thì việc thu phí từ việc chơi hụi còn hạn chế nhưng tin rằng khi ổn định thế cuộc thì các nhà quản lý sẽ tính toán phí cho ra ngô, ra khoai. Việc này cũng đúng thôi, sự công bằng mà chủ nghĩa thực dụng đang ngự trị trong xã hội loài người có mấy ai làm không công.
Việc chơi hụi cũng giành giựt thị phần giá trị thặng dư xã hội quyết liệt với hệ thống ngân hàng chính quy cũng giống như là số đề giành tiền của từ xổ số kiến thiết vậy.
Chơi kiểu quýt làm mà cam chịu ý lộn cam hưởng thì ai không đau?
Dẹp xổ số kiến thiết là hết số đề thôi. Nhưng xổ số kiến thiết lại cũng là một con gà đẻ trứng vàng. Mỗi ngày có đến 2 đến 3 loại vé số xuất xưởng, 10.000đ/tờ vé số. Mỗi tỉnh phát hành 1.000.000 tờ vé số/ngày nên số tiền thu về là 10 tỷ đồng. Mỗi ngày có không dưới 2, 3 tỉnh thành phát hành vé số thì số tiền vài ngàn tỷ được lưu chuyển qua hệ thống vé số. Giả sử ngày nào cũng có người trúng 10 tờ độc đắc 6 số thì cũng chỉ có không đến 20 tỷ phải chi trả cho người chơi vé số. Nhưng trên thực tế là lâu lâu mới có người trúng độc đắc 6 số vậy số tiền mấy chục tỷ đó đã đi đâu và về đâu. Có lẽ chỉ có ít % không lớn được chi trả cho những người lê đôi chân đi bán dạo, những người tham gia trong hệ thống phát hành xổ số kiến thiết,…
Số tiền khổng lồ còn lại đã đi về đâu?
Có lẽ số tiền đó khó có thể đi vào những kênh xây dựng đầu tư hiệu quả, hàng ngày có hàng chục, hàng trăm đến hàng ngàn tỷ đồng,… đi về đâu mà người dân không hề biết?
Thua keo này bày keo khác ngày hôm sau người dân vẫn mua số và số tiền họ mất có đến hàng chục tỷ đồng/ngày vậy thì hàng tháng, hàng năm số tiền đó sẽ là bao nhiêu?
Người dân bán sức lao động mỗi ngày rồi mua sự rủi may, việc đầu tư không hiệu quả cũng góp phần vào gia tăng lạm phát. Vé số đã tăng giá từ 500đ/tờ đến 10.000 đ/tờ thì mất bao nhiêu năm?
Đó là gì nếu không phải là kết quả của lạm phát. Cho đến thời điểm hiện tại bạn có nhận biết rõ giá trị của xổ số kiến thiết là gì không?
Giải quyết công ăn việc làm cho một số lượng người, tin rằng dẹp bỏ ngành xổ số kiến thiết cũng không có người nào thất nghiệp chết cả. Nếu cùng đường thì ra đứng đường cũng sống được kia mà.
Giá trị của ngành vé số gần như chỉ nhằm vào việc luân chuyển một lượng tiền cục bộ, chia chác và làm biến mất số tiền công sức của người lao động, khiến người lao động sống với niềm tin mong manh, chán chê rồi con người sẽ thử vận may nơi số đề và rồi nhà cửa, gia đình tan hoang, không còn nữa,… và niềm tin về sự sáng suốt của các nhà quản lý theo đó của tan thành sương khói,…
Nếu gắng gượng cho rằng không hẳn là phát hành 1.000.000 tờ vé số thì cũng chỉ bán được 70% <=> với 7 tỷ đồng nhưng đây cũng không là số tiền nhỏ dù có chi tiêu cho các khoản đầu vào thì số tiền còn lại cũng “đè chết” người ngay. Còn nếu cho rằng chỉ có 20 - 30% số vé được bán nên việc xổ số kiến thiết không mang lại lợi nhuận khủng mà tôi đã trình bày, chỉ duy trì cố gắng không phải bù lỗ như cách mà ngành điện lực, ngành nước, ngành dầu khí,… than vãn, khóc lóc kể khổ thì … thì …
À, mà kinh doanh kém hiệu quả đến mức chỉ bán được có 30% sản phẩm làm ra, số sản phẩm còn lại đốt bỏ gây ô nhiễm môi trường, hiệu ứng nhà kính, biến đổi khí hậu,… thì duy trì mảng kinh doanh đó làm gì?
Tuyên bố phá sản, dẹp đi có hơn không?
Vậy mà các nhà quản lý vẫn chưa từng có ý định dẹp bỏ ngành xổ số kiến thiết bởi lẽ họ đang nghĩ rằng “Họ là người làm chủ cuộc chơi “lừa người, lợi mình” nhưng trò chơi đã không còn khách quan thế nên đã trở thành “lừa người, hại mình”, con người khi đánh mất niềm tin thì chỉ là đồ bỏ đi, sẽ không có ai cần đến nữa”.
Chỉ vì cái lợi trước mắt các nhà quản lý đã không xét kỹ vấn đề lợi hại, được mất của trò xổ số kiến thiết. Có lẽ họ nghĩ đơn giản hơn - Chơi trò đập chén cơm mình cho bể chén cơm người thì cũng đói cả đám thôi thì nhẫn nhịn một chút. Đành rằng số đề chơi qua mặt các nhà quản lý nhưng cứ từ từ rồi cũng có cách tận thu. Số đề được xem là hại dân, hại nước. Hại nước là do có một số tiền khủng lưu thông mà nhà nước không đánh được thuế, nhưng hại dân thì mới thật ghê gớm, tôi vẩn vơ lạc về các tỉnh miền nam, miền bắc để biết rằng có những nơi nhà nhà, người người đánh số đề, mạnh mẹ mẹ đánh, mạnh con con đánh, vợ chồng cùng đánh số đề dô ta… và có rất nhiều cảnh tan nhà, nát cửa.
Số đề phá hoại gia cang của người nghèo lẫn kẻ giàu từ thành thị đến nông thôn và dân đen là nạn nhân của số đề chỉ có nước mắt lưng tròng nhìn về quá khứ đẹp đẽ, và tương lai chỉ còn là viễn cảnh xám xịt, tối đen,… trộm cắp, giựt dọc,… tiến đến cướp, trấn lột, vướng và đường dây buôn bán ma túy, buôn người - Đói ăn vụng, túng làm càn mà.
Bọn dân đen kém đến tệ, các nhà quản lý dù rằng không thu được gián tiếp số tiền “mượn đường” chơi số đề qua kênh xổ số kiến thiết nhưng thi thoảng nghe dân tình oán thán thì một đợt ra quân là sẽ thu được số tiền khủng, gom cả mồi chài,…
Tiền của nhà quản lý thì cũng thuộc nhà quản lý có mất đi đâu, chỉ tội cho dân đen chết đen như than.
Gom đủ tiền thả người, người được thả ra tiếp tục “ngựa quen đường cũ” - đây là giai đoạn vỗ béo, mập mạp, béo tốt thì đến ngày giờ “vắt sữa”. Cứ thế … lại thả ra, cứ thế … cứ thế…
Ôi chao! Sao giống liên minh mèo và chuột gớm? Bạn nghĩ sao? Nếu xã hội không có tệ nạn xã hội, không cướp giựt, đâm thuê, chém mướn, mại dâm,… thì lực lượng an ninh, công an có còn tồn tại không? Xã hội an ổn, hài hòa, thái bình thì có đất sống cho các nhà quản lý xã hội không?
Có lẽ họ phải về vườn cuốc đất cả thôi. Thế nên không thể không dung dưỡng cho người xấu tồn tại vì người xấu có thì kẻ tốt có, tội phạm không, anh hùng không. Lẽ nào vì lẽ đó mà việc giáo dục nhân cách con người trở nên là thứ cấp, là không cần thiết,…
Tôi cố hướng con người về sống tùy thuận theo đạo là sai lầm lớn nhất của tư duy sống của tự thân chăng?
Thuở bé tôi thấy những con kiến vàng bắt sâu, bắt rệp lá thì tôi nghĩ con kiến vàng là người bảo vệ cây trồng là loài hữu ích, lớn lên tôi biết loài kiến đã biết nuôi sâu, nuôi rệp là để dùng loại nấm, loại men mà những loài này tạo ra. Tôi đã từng bảo vệ, nuôi giữ loài kiến để bảo vệ cây trồng dù rằng chúng cắn tôi nhiều lần rất đau. Rồi bây giờ tôi cảm nhận tôi đã bị phản bội, ra sức tận diệt chúng thì xem ra cũng chẳng ích gì thôi thì ngươi có nuôi sâu, nuôi rệp thì nuôi nhưng đừng làm thái quá. Cây mà nhiều sâu bệnh quá thì tôi mua thuốc kiến về xịt một lượt là trắng tinh tươm ngay, còn mà quá lắm thì tôi nhổ cả gốc cây cho bỏ, ăn không được thì phá cho hôi mà.
Ơ hay… lẽ nào xã hội con người đang tiến hóa đến cách xây dựng như loài kiến ở trên.
Thây kệ! Chuyện không dính đến ta nhưng đừng làm quá, nước có thể đẩy thuyền nhưng nước cũng có thể lật thuyền, lời nói người xưa không hẳn đã sai. Mong bạn cẩn trọng và hy vọng rằng tôi đã nói quá vấn đề dù rằng những điều tôi nói không phải là không có lý.
Ấy chết! Tôi lại chuyện nọ xọ chuyện kia mất rồi. Thật xin lỗi nhưng cũng mong bạn cảm thông có lẽ thời gian dần cạn, mà tôi còn nhiều điều trăn trở nên nói lan man, nói cứ như là lời trối để về cõi vĩnh hằng vậy. Lại một lần nữa xin nhận lỗi cùng mọi người.
Quay lại vấn đề hệ thống ngân hàng tài chính. Đây là ngành đã tạo ra lạm phát kinh tế. Là tội đồ với tội danh “mượn dao giết người” và đã có nhiều người chết thật cũng như chết lâm sàng. Ngành tài chính ngân hàng thật sự chính là ngành trực tiếp và gián tiếp gây ra khủng hoảng kinh tế.
Còn nhớ cách đây vài năm, đã có lúc lãi suất ngân hàng lên đến trên 1,78%/tháng tương đương với 21,36%/năm. Nhằm tiện cho việc trình bày thì tôi chỉ lấy 20%/năm làm chỉ số tính toán. Dù rằng 1,36% thật không phải là con số nhỏ (1,36% của 10 tỷ là Một trăm ba mươi sáu triệu đồng).
Giả như tôi vay 200 triệu để chăn nuôi lời lỗ thế nào tạm thời tôi chưa biết nhưng chắc chắn rằng mỗi năm tôi sẽ đóng lãi suất ngân hàng vào khoảng 200 triệu*20% = 40 triệu đồng.
Thế nên điều tôi cần làm là phải chuyển số tiền 200 triệu thành con số bao nhiêu để thỏa mãn khả năng trả lãi suất, đảm bảo cuộc sống hàng tháng và tích lũy?
Chắc chắn rằng vay 200 triệu để thu về lợi nhuận ròng 50 triệu đồng là mục tiêu kém nhất mà người vay đặt ra khi lao vào cuộc chơi vay vốn ngân hàng. Bây giờ tôi xét vấn đề ở góc nhìn cận cảnh. Trong bối cảnh xã hội hiện tại, để đảm bảo tồn tại trong cuộc sống thì mỗi tháng tôi phải chi tiêu ít nhất là 3 triệu/tháng <=> 36 triệu năm cho điện nước, ăn uống,… không tính tiền nhà ở. Vậy nên đây là phần cộng dồn cho chi phí sản xuất. Giả như tôi lấy công làm lãi, không thuê nhân công (Đây là mô hình lý tưởng, thật không mang tính thực tế, dù vậy thì mức lạm phát đủ làm bạn choáng).
Giả như tôi sản xuất một giống loài đặc sản nào đó. Ví như là gà Đông Tảo với giá thành sản xuất là 100.000đồng/kg (Đây là giá giả định, bạn hãy tạm chấp nhận là giá thật của thị trường). Xem như tôi là người chăn nuôi giỏi thì từ 200 triệu đồng vào thì tôi sản xuất ra 2000 kg thịt gà đông tảo (Có thể nói đây cũng là điều không tưởng vì chăn nuôi không dễ, không thể đạt năng suất, tỷ lệ sống 100%).
Nếu như tiền vốn 200 triệu ban đầu là vốn nhàn rỗi của tôi thì tôi có thể bán gà với giá 120.000đ/kg (Chấp nhận 20% lợi nhuận). Bán cả đàn 2000 kg thịt tôi thu được 240 triệu - 200 triệu tiền vốn ban đầu thì tôi lãi được 40 triệu. Xem như là chấp nhận được nếu lòng tôi không tham nhiều lắm và kinh tế đừng lạm phát đến mức tôi phải chi tiêu trên 3 triệu đồng tháng. Vì lẽ nếu 3 triệu đồng tháng thì tôi phải trừ chi phí tiêu dùng hàng năm là 36 triệu đồng. Kết quả là sau một vụ nuôi vất vả tôi thu về lợi nhuận ròng 4 triệu đồng/ vụ. Làm ăn mà thế này thì có lẽ tôi mãi mãi không lấy được vợ, tôi thật quá bất tài và vô dụng.
Tính rồi tôi mới biết là dân nghèo, khổ, tội,… Nếu tôi làm nhà quản lý khi ăn chén cơm, uống ly rượu tây tôi sẽ nghĩ đến đời sống người dân nhiều hơn và sẽ cố dùng tiền đóng góp của người dân thật sự hiệu quả, đúng với giá trị công sức lao động mà người dân bỏ ra.
Nhưng hiện tại tôi đang đóng vai trò người dân để sống còn tôi buộc phải bán giá 130.000 đ/kg (30%) hoặc 140.000 đ/kg(40%) trừ tiền vốn + phí sinh hoạt tôi còn 34 - 44 triệu, xem như là có thu hoạch tạm ổn. Nhưng thú thật với mọi người là cả hàng ngàn năm nay tôi, người nông dân gần như chưa bao giờ có quyền định giá sản phẩm mình là ra, đó là điều mà tôi đang mơ. Chẳng hiểu sao xã hội con người lại xây dựng được mô hình quái dị như vậy mà tồn tại được cả ngàn năm. Có lẽ do nhờ chiến tranh, đập phá, tàn sát tất cả kể cả con người rồi gầy dựng lại. Thế nên nếu nhân loại vẫn xây dựng theo mô hình xưa cũ này thì không xảy ra chiến tranh, loạn lạc trên phạm vi thế giới mới là chuyện lạ.
Nhưng điều đáng nói ở đây là tiền vay ngân hàng với mức lãi suất 20%/năm thế nên giá thịt gà đông tảo phải chốt ở giá khác.
200 triệu tiền giá thành thịt gà sẽ cộng với phần tiền đóng lãi suất ngân hàng 40 triệu, cộng chi phí sinh hoạt 36 triệu/năm, cộng chỉ tiêu lợi nhuận 50 triệu/năm tôi sẽ được một con số: 200 triệu + 40 triệu + 36 triệu + 50 triệu = 326 triệu đồng. Tôi lấy con số này chia cho 2000kg thì tôi được giá bán 1kg thịt gà đông tảo là 163.000 đồng/kg. Đây chỉ là giá bán tại trại sản xuất. Tin rằng nếu bạn muốn ăn thịt gà đông tảo xuất tại trại giá 163.000 đồng thì không thể mua ở thị trường với giá trên 200.000 đồng/kg. Bởi lẽ, những người mua bán cũng là người biết tính toán rất siêu vì thế nên việc cộng dồn lãi suất ngân hàng, chi phí sinh hoạt, chỉ tiêu lợi nhuận. Với người nông dân 200 triệu đã thành 326 triệu đồng thì 300 triệu của người làm kinh tế sẽ là 300 triệu + 60 triệu + 36 triệu + 50 triệu = 446 triệu đồng. Tất cả sẽ được cộng dồn vào giá bán sản phầm, người tiêu dùng lãnh đủ và còn kèm vô số loại phí mạng nhện. Sống chết mặc bây tiền thầy bỏ túi, lạm phát kinh tế tăng theo chiều tăng của lãi suất ngân hàng nhưng khi lãi suất ngân giảm thì lạm phát chẳng thể giảm theo mau chóng vì khi mọi thứ vật giá đều lên, lương bổng cũng tăng thì làm sao mà giảm xuống cho được.
Hơn nữa, khi huy động lãi suất cao thì đã có 1 lượng tiền khủng đã tiêu hóa trong nội tại của hệ thống ngân hàng, khi ăn dầy lãi suất ngân hàng kèm với khủng hoảng kinh tế thì đã có vô số ngành kinh doanh cũng như khoản vay nông dân đã mất khả năng chi trả, nợ xấu lan tràn thì làm sao có thể một sớm, một chiều hồi phục cho được.
Những người đã từng làm ăn thua lỗ sao có thể giảm giá sản phẩm khi mà nợ ngân hàng cũ mới còn chồng đống, lương thì đã nâng sao có thể giảm thậm chí còn phát sinh thêm nhiều khoản này, khoản nọ, khoản kia,…?
Chứ không cán bộ, công nhân viên chức làm sao sống được với mức lương chưa đến 3 triệu?
Vậy mà họ vẫn sống đó thôi nếu không muốn nói là sống tốt hơn công nhân, nông dân rất nhiều.
Sao kỳ lạ vậy? Bạn có biết tại sao không?
Tôi thì chẳng rõ lắm chỉ thấy người ta cho con em chui vào các cơ quan công quyền bất chấp thủ đoạn, bất chấp lượng tiền bạc dồi dào phải bỏ ra nhằm mua được lối vào,… Kinh tế khủng hoảng người ta khoái leo lên chiếc thuyền to cho an toàn cùng với việc đi chùa quỳ lạy và cầu nguyện,…
Trên thực tế là người nông dân không thể hô biến đồng tiền một cách tài tình như vậy họ chịu rất nhiều rủi ro về con giống, điều kiện thời tiết, bệnh dịch, giá cả thức ăn, thuốc, phân bón,… hầm bà lằng các món phụ trợ trội,…
Có lẽ người nông dân cũng không dám vay đến 300 triệu đồng và cho dù muốn họ cũng chẳng vay được số tiền đó. Họ vướng những rào cản về phương thức, dự án làm ăn, cơ sở vật chất, sổ đỏ với điều kiện cần và đủ, cần phải có quen biết,… Thế nên, họ chỉ mơ giấc mơ con và giấc mơ đó đã đè nát cuộc đời họ.
Khởi điểm họ có 2 bàn tay trắng cùng một khu đất và vay 30 triệu đồng để chăn nuôi. Có thể bạn còn hoài nghi nhưng với 30 triệu đồng trong bối cảnh hiện tại có thể nói là chẳng thể làm được gì cả. Muốn chăn nuôi thì phải có chuồng trại, dựng chuồng trại bây giờ thật khó dưới 15 triệu, dựng trại rồi con giống, vật nuôi sẽ là bao nhiêu nữa?
Chưa nuôi được mấy tháng thì tiền vốn hết sạch, vật nuôi bữa đói, bữa no, chủ nuôi còn thế thì lấy gì đảm bảo chăn nuôi có hiệu quả. Kết quả việc chăn nuôi thất bại, nợ ngân hàng 1 cục.
Quay đi, quay lại đã hết năm, đáo hạn ngân hàng, đào đâu ra tiền đáo nợ ngân hàng?
Vay nóng bên ngoài với lãi suất cao và vay 35 - 40 triệu sau khi thương lượng nâng mức vay ngân hàng lên 50 - 60 triệu đồng. Anh ok, tôi ok. Ừ thì ok. Rồi thì cũng xong trả khoản vay nóng 35 - 40 triệu đồng + trên dưới 1 triệu đồng tiền vay nóng (Hiện nay phần lớn người vay đều lâm vào tình trạng đáo hạn ngân hàng kiểu này. Anh sống, tôi sống chỉ có người nông dân vay tiền là chết dần, chết mòn, chết tức tưởi). Điều đáng thương tiếc ở đây là người nông dân đi vay rất khổ sầu nhưng vẫn gắng đon đả, cười nói đưa đẩy, đưa tiền, nhận tiền, mất tiền đều phải cười và luôn miệng cám ơn.
Tôi chẳng biết nên nói đời người nông dân đi vay là tủi hay nhục nữa. Thôi nói họ tủi để tôi ít nhục vậy. Rõ khổ. Chỉ thấy những người cho vay nở nụ cười thánh thiện như biểu trưng của một bậc đại nhân, của một kẻ ban ơn, rất đẹp mặt.
Sau khi đưa qua, đưa lại trong tay người nông dân còn dưới 15 - 20 triệu đồng, lui về làm lại cuộc đời, càng làm càng bại, trời hại người nghèo, đất phụ người ngay chăng? Hay người khôn hại người ngu?
Ba năm sau số tiền vay đã là 200 - 300 triệu đồng chiếm khoảng 50 - 60% giá mảnh đất thế chấp. Thế là từ 2 bàn tay trắng cùng với một miếng đất thì người nông dân đi vay đã lấm lem bụi đời và không còn một mảnh đất chọi chim. Có chút ít tiền hóa giá mảnh đất ông bà họ đi thuê nhà trọ nơi xa, bỏ xứ mà đi vì ở lại chỉ thêm mang nhục.
Người nông dân mất đất ra đường đi bán mua vận may cho người khác bằng những tờ vé số rủi may mà rủi nhiều hơn may… Nếu bạn tin thì điều tôi nói sẽ đúng. Vậy mà các chỉ tiêu kinh tế hàng năm đều được báo tăng trưởng và các khoản vay luôn được báo cáo là được sử dụng hiệu quả.
Nếu chỉ dựa vào khoản vay ngân hàng để sống sót thì người nông dân đã ra gầm cầu sống tạm cả rồi. Thời may có một số người nông dân vay vốn họ không chỉ dựa vào một nguồn thu chính mong đợi ở hiệu quả khoản vay, họ trồng thêm cây trồng này, vật nuôi kia, tranh thủ bán sức lao động, ăn uống, tiêu xài tiết kiệm nhưng trong thời đại con người sống trong chủ nghĩa thực dụng thì không mấy ai có tính toán chu toàn như vậy, họ sống tốt thì con cái họ cũng ra sức phá. Rõ thật đời là bể khổ.
Ngành ngân hàng đã dùng tay che trời bao nhiêu năm?
Có lẽ không phải mắt các nhà quản lý không nhìn thấy nhưng họ đang mãi nhìn xa, trông rộng nên cứ lờ đi vì họ lạc quan nghĩ là “Không sao đâu hoặc chẳng thiệt gì chén cơm của ta”.
Tuy nhiên, cũng không thể loại trừ khả năng mắt các nhà quản lý không thấy là thật bởi lẽ họ đang nhìn lên chiếc ghế quyền lực, danh vọng cao hơn hoặc đang mải đánh bóng chiếc ghế đang ngồi, dọn bớt những kẻ săm soi dòm ngó,… đang tính đến những khoản thu về, nhiệm kỳ gần hết làm sao giữ ghế, làm sao leo lên cao hơn…?
Cây kim giấu trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, ngành ngân hàng đang đối mặt với trùng trùng các khoản nợ xấu, khó đòi vì đòi cũng không có. Những năm trước lương thưởng cho nhân viên ngành ngân hàng, bất động sản, sàn chứng khoán,… đủ làm cho người nông dân, công nhân và tôi ngơ ngác, ngớ ngẩn,…
Năm nay, ngành ngân hàng xem ra phải tằng tiện rồi. Mất khả năng thu hồi vốn vì lãi suất cao thì thôi giảm lãi suất để thu hồi vốn bằng vào việc người vay sẽ vay nóng bên ngoài về đáo hạn để chịu lãi suất thấp hơn. Ngành ngân hàng đã giở cao chiêu nhằm đảm bảo tính thanh khoản và an toàn nguồn vốn. Thật ra đây không phải là cao chiêu của ngành ngân hàng mà là của các nhà quản lý tác động vào. Việc làm vừa được tiếng, vừa được miếng, nếu các nhà đầu tư bất động sản non trẻ hoặc người cần nhà ở vay vốn đầu cơ vào bất động sản thì sẽ giải cứu được hiện trạng bất động sản đóng băng nhằm có chỉ tiêu báo cáo tăng trưởng nhưng thực chất chỉ là sang gánh nặng cho những tay mơ và cứu những doanh nghiệp bất động sản cỡ bự vốn là anh em chiến hữu. Rồi bất động sản đâu cũng lại vào đấy lấy hơi lên rồi nằm ngắc ngoải,…
Thêm nữa, việc giảm lãi suất ngân hàng sẽ tạo “cú hích” cho kinh tế? Có thể không?
Trong giai đoạn khủng hoảng này liệu có mấy ai có thể vượt cạn hiệu quả, vay vốn đáo hạn nhằm giải mức lãi suất vượt trội là ước muốn của các doanh nghiệp chứ đào đâu ra hướng phát triển vũ bão khả thi.
Nhiều năm về trước thì khủng hoảng kinh tế gây khó khăn cho doanh nghiệp này nhưng cũng chính là cơ hội cho doanh nghiệp khác. Tuy nhiên, khi đó là lúc mới vào cuộc khủng hoảng, khủng hoảng ngắn nên mới có cơ hội cho những doanh nghiệp trẻ sáng tạo,… nhưng khủng hoảng kinh tế kéo dài thì cái cơ hội đã là khe cửa rất hẹp, không phải là không có kẽ hở nhưng rất khó chui lọt, lọt thì cũng trầy vây, tróc vảy còn không lọt thì thành con nợ của ngân hàng…
Dù lãi suất đã được giảm thấp như số tiền thực sự được rót vào ngành kinh tế, sản xuất không được nhiều chỉ quẩn quanh đáo hạn thì nền kinh tế sao có thể vực dậy được, chỉ tiêu tiêu dùng cũng khó tăng trưởng thật sự vì ai nầy đều ngao ngán với ý thức “thắt lưng buộc bụng”. Dù vậy chỉ tiêu tiêu dùng sẽ tăng trưởng ở mặt hàng rượu bia và nhang đèn, đồ cúng lễ. Vui nhậu, buồn cũng nhậu mà.
Thêm nữa, người chán ngán cuộc sống ngột ngạt sẽ đi chùa, nhà thờ,… cầu nguyện. Đây là khe cửa cơ hội của các nhà kinh doanh nhưng thật sự khe cửa rất hẹp.
Nhưng đã nói ở trên dù là lãi suất có giảm nhưng giá cả các mặt hàng tiêu dùng khó thể giảm, lạm phát vẫn ở mức cao vì việc lãi suất giảm gần như chưa có giá trị rõ ràng cho ngành kinh tế.
Các doanh nghiệp, các nhà sản xuất còn ôm một cục nợ thì làm sao có thể giảm giá sản phẩm?
Giảm cũng chết không giảm cũng chết thà rằng không giảm.
Khi lãi suất 20%/năm thì giá thành sản phẩm cũng đã cộng dồn 20% đó vào sản phẩm cùng với việc lạm phát kinh tế hàng năm luôn tăng nên giá bán sản phẩm chỉ có tăng khó thể giảm. Thế nên lạm phát sẽ làm tăng lạm phát. Sở dĩ lạm phát ngày càng tăng là do các nhà quản lý xã hội đã bán tương lai và tiêu dùng trước phần tương lai rồi. Muốn giải cứu lạm phát thì nhà quản lý phải mua lại tương lai dân tộc. Đây thật không phải là việc làm dễ thực hiện đối với các nhà quản lý hiện tại.
Việc mua lại tương lai dân tộc đòi hỏi một tư duy mới, theo một tiến trình đúng mực và sự gắn kết của mọi người trong mọi thành phần, tầng lớp xã hội.
Nhưng sự gắn kết của mọi người trong xã hội ở các nước hiện nay dường như không tồn tại.
Về lý lãi suất 20% thì lạm phát 20%, lãi suất 12%(hiện nay) thì lạm phát 12% nhưng trên thực tế lạm phát chỉ riêng phần lãi suất ngân hàng hiện tại đã trên 20% rất nhiều lần và có xu hướng tăng lên chứ không hề giảm xuống.
Hiện nay, các nhà quản lý đưa ra chương trình bình ổn giá mặt hàng tiêu dùng lại là một chương trình giết người không thấy máu.
Tại sao?
Bởi lẽ nếu dựa vào hiện tượng thì việc bình ổn giá hàng tiêu dùng sẽ có lợi cho người tiêu dùng nhưng thật ra đây là việc cây hư ở gốc mà ta đi sửa ở ngọn. Bình ổn giá ở đầu ra mà không bình ổn giá cả đầu vào.
Thử hỏi việc làm như vậy có giết chết người không?
Người nông dân chăn nuôi, trồng trọt chịu nhiều rủi ro dịch bệnh, thiên tai, giá cả đầu vào trên trời với giá mặt hàng thức ăn công nghiệp, phân bón, thuốc trừ sâu, giống,… đến khi gom tiền thì bị bóp cổ. Không chết thật thì cũng phải nín thở chịu đựng. Nhưng nếu thả lỏng thì cũng chết chùm, lạm phát tràn lan,…
Tuy nhiên, sai lầm của việc “ăn sạch tương lai” ở nhà quản lý, việc bơm giá trị thặng dư quá mức vào sản phẩm hàng hóa ở các nhà quản lý không thể buộc người dân gánh chịu. Cuộc chơi như vậy thật thiếu công bằng, không đẹp.
Xã hội con người đã từ lâu xây dựng và phát triển như thế nên đến nay đã lộ rõ những bất cập, thiếu bền vững. Thế nên các nhà quản lý xã hội cần có giải pháp đúng mực hơn.
Hệ thống tài chính ngân hàng quá béo bở nên tạo ra vô số loại hình huy động vốn khác nhau tạo ra những cạnh tranh không lành mạnh. Lãi suất vì thế đẩy lên vượt mức làm lạm pháp gia tăng vô lối, giá cả ảo trong các sản phẩm hàng hóa đã vượt xa giá trị thật là rất nhiều lần, người tiêu dùng, người lao động nghèo sẽ phải gánh lấy toàn bộ khoản chênh lệch đó khiến đời sống ngày thêm quẩn bách, khốn cùng,… nguy cơ đổ vỡ xã hội sẽ xảy ra, bạo loạn, rối ren trên diện rộng.
Liệu các nhà quản lý đất nước có thể quản lý, điều tiết xã hội thoát ra ngoài cuộc khủng hoảng lạm phát kinh tế, khủng hoảng tài chính, tín dụng,… không?
Mất niềm tin về kênh đầu tư ngân hàng hoặc việc không dám vay ngân hàng tạo nợ, người dân không tham gia vào cuộc chơi của hệ thống ngân hàng nữa, các khoản nợ xấu ngày càng phình to,… Việc nuôi nấng một hệ thống cán bộ, công nhân viên, quan chức cao cấp, chuyên gia tài chính trong hệ thống chuỗi ngân hàng đã ngốn một lượng tiền khủng thế nên nguồn kinh phí của ngân hàng ngày một eo hẹp.
Để duy trì các nhà quản lý sẽ cho phép các nhà đầu tư nước ngoài mua lại 40 - 50% cổ phần ngân hàng và thế là các nhà đầu tư nước ngoài được chia nửa % giang sơn lợi nhuận và hiện tại giá trị khoản lạm phát ngân hàng là trên 20% sẽ chia đều cho 2 phía. Nhà đầu tư nước ngoài được hơn 10% lợi nhuận và các nhà quản lý trong nước được hơn 10% lợi nhuận. Nhưng các nhà đầu tư nước ngoài không chỉ nhận được hơn 10% lợi nhuận ngân hàng mà còn hưởng cả 50% phần giá trị lạm phát có trong sản phẩm hàng hóa và hơn thế nữa…
Về lâu dài, nếu tôi là nhà đầu tư nước ngoài tôi sẽ dư thừa khả năng ép các nhà quản lý trong nước mua lại gần hết cổ phiếu của hệ thống ngân hàng. Khi đó, người lao động sẽ không phải mất 50% công sức lao động sản xuất cho nhà quản lý (phần lạm phát), 50% cho tôi mà gần như 100% phần công sức lao động lạm phát tôi sẽ thu về qua hệ thống ngân hàng chính quy.
Không chỉ vậy, người lao động còn phải đóng thuế. Tôi - nhà đầu tư nước ngoài cũng phải đóng thuế nhưng tôi báo lỗ và được miễn thuế. Xem ra cuộc chiến kinh tế ác độc, khốc liệt hơn cuộc chiến vũ trang, việc giết người không thấy máu,…
Như đã trình bày ở trên, ít nhiều gì bạn cũng thấy hệ thống ngân hàng là tội nhân mượn dao giết người luôn nở nụ cười thánh thiện trên môi.
Tôi sẽ trình bày thêm về sự máu lạnh đó. Người ta nói mặt lạnh như tiền. Xin thưa! Sai rồi tiền đồng mới vậy, tờ polyme 500.000 đồng không thể nói vậy mà phải nói gần tiền máu con người sẽ trở lạnh.
Cụ thể, khi bạn đi gửi tiền giả như với lãi suất 12% năm. Trong quá trình gửi nếu mà lãi suất có điều chỉnh tăng lên thì lãi suất tiền gửi của bạn vẫn không tăng lên nhưng nếu lãi suất được điều chỉnh giảm xuống thì lãi suất tiền gửi của bạn sẽ được giảm xuống.
Ngạc nhiên chưa? Ấy chết, đừng hỏi tôi vì sao?
Vì tôi không biết đó là chuyện nội bộ của ngân hàng, tôi là người ngoài không được biết, không được nhiều chuyện. Ngược lại khi vay với lãi suất 20% nếu lãi suất tăng thì tôi sẽ đóng tăng lên, còn lãi suất giảm thì tôi vẫn đóng ở mức 20%.
Sao kỳ lạ vậy?
Thú thật tôi chẳng biết khoản chênh lệch này đi đâu và về đâu?
Tôi cũng chẳng rõ là cách chơi này mang tính cục bộ hay là được phép chơi,… việc làm hợp pháp nhưng nếu là cuộc chơi mang tính cục bộ thì cũng là cục bộ trên diện rộng.
Chơi kiểu này thật khó chơi, chơi với ai?
Dân ngu, cu đen không biết đành chịu, nhà quản lý xã hội biết đành chịu,…
Có thể bạn không tin nhưng có thể chính những người làm trong hệ thống ngân hàng cũng không ngờ mình ác độc đến vậy, cả nhà quản lý cũng không nhận ra sai lầm chết người này. Họ đã làm theo truyền thống, thấy lợi nên làm. Ban đầu là lợi người, lợi mình nên làm. Về sau do tầm nhìn hạn hẹp, sự hiểu biết không theo kịp, lòng tham khi trói cái tôi vào chén cơm, manh áo, danh vị, quyền lợi, vào cơ quan, tổ chức bộ ngành nên làm, làm theo quán tính việc có lợi cho mình thì làm quên mất việc lợi mình nhưng hại người, hại nước, hại dân tộc sống trong cục nợ to bự treo lơ lững trên đầu,…
Và dân tộc phải trả nợ không chỉ một đời hết ông bà đến cha mẹ, con cháu, chút chít, chét,… mãi mãi không thể trả hết nếu xã hội vẫn phát triển theo lộ trình hiện nay. Vay mượn, bán mua tương lai để ăn xài thì sẽ là con nợ muôn đời,…
Tôi đã từng nói bất động sản, hệ thống ngân hàng, tập đoàn tài chính, các nhà quản lý chính trị - kinh tế - xã hội bắt đầu ở điểm xuất phát không sai chỉ tiếc càng làm càng sai, sai đến chết người. Nguyên do là sự hiểu biết không theo kịp thời đại, do lòng tham được nuôi lớn trong mỗi con người khi cho rằng chết là hết và do tự trói góc nhìn vào lợi ích cá nhân, tổ chức, bộ ngành,…
Muốn thoát ra khỏi vũng lầy, sự đổ nát xã hội thì con người, các nhà quản lý các cấp và nhất là ở cấp cao cấp phải tìm mọi giải pháp mua lại tương lai dân tộc, mua lại khoản nợ nước ngoài và trái phiếu chính phủ. Điều quan trọng nhất là phải có giải pháp vẹn toàn, đúng mực, hợp lý và có lợi cho dân tộc.
Người xưa nói “thanh giả tự thanh”. Điều này đúng khi bạn thanh thật sự. Nhưng để tránh hiểu lầm nếu bạn thanh thật sự mà những bài viết theo thể loại này rộng truyền thì bạn khó tránh khỏi chất vấn. Nếu bạn không trả lời đúng mực ra ngô, ra khoai thì việc bạn bị hất văng ra khỏi ghế là điều khó tránh khỏi.
Thế nên, nếu tôi có nói lời sai quấy thì bạn cứ lên tiếng chỉ ra chỗ sai. Nếu đúng tôi sẽ thành thật xin lỗi bạn trước tất cả các bên. Tôi thà cứ làm. Đúng hay sai để cho mọi người nhìn nhận. Nếu tôi rõ biết mình làm sai thì sẽ thành thật xin lỗi và ra sức sửa sai.
Trong trường hợp này, nếu tôi nói lời sai và bạn đúng thì khi tôi xin lỗi và bạn nói rõ phần đúng của mình thì bạn cũng sẽ được người dân tôn trọng hơn. Bạn trở nên cao quý hơn. Tôi thật đến giúp bạn không phải đến để hại bạn. Nếu lời tôi đúng thì sẽ giúp bạn nhận ra sai lầm nhằm tìm ra giải pháp sửa sai. Nếu lời tôi sai thì bạn càng thêm tôn quý, đáng trọng.
Một lời gửi đến những người có vốn nhàn rỗi. Mong rằng bạn đừng nên đầu tư vào kênh ngân hàng vì nếu bạn làm điều đó thì bạn đang gián tiếp nhấn chìm nền kinh tế đất nước. Khi kinh tế khủng hoảng trầm trọng, nguy cơ mất vốn của bạn sẽ không hề nhỏ chút nào. Khi bạn vay thì bạn có đặt tài sản thế chấp. Khi bạn gửi bạn có gì ngoài tờ giấy và niềm tin nhưng khi con người không còn niềm tự trọng thì niềm tin giá trị của nó chỉ là một số 0 tròn trĩnh.
Hôm trước, viết bài về bất động sản thì tối hôm đó tôi tình cờ nghe bản tin 10 tỷ USD là tiền của người việt ở nước ngoài gửi về Việt Nam. Nghe thì có vẻ hay nhưng nghĩ lại thì thật gay. Tin rằng phần lớn số tiền trên sẽ vào hệ thống ngân hàng và giả như 100% số tiền đó được gửi vào ngân hàng với lãi suất 5%/năm thì sẽ có 500 triệu USD tiền lạm phát chuyển vào trong giá trị sản phẩm hàng hóa. Bạn hãy thử quy đổi thành Việt Nam đồng và đọc lên xem con số kinh hoàng đến cỡ nào. Bạn đừng cho rằng không thể nào có việc 100% lượng tiền kiều hối chui vào hệ thống ngân hàng.
Bạn nói đúng nhưng bạn quên rằng không chỉ có 10 tỷ USD kiều hối mà còn có rất nhiều nguồn tiền của khác chui vào hệ thống ngân hàng và con số sẽ lớn hơn rất nhiều, rất nhiều lần. Và bạn, người tiêu dùng, người lao động phải trả một lượng tiền thật rất lớn để trả phần giá trị ảo gấp nhiều lần giá trị thật trong mỗi sản phẩm hàng hóa mua về…
Phần hệ thống ngân hàng tôi cũng xin dừng lại. Nếu có gì đóng góp bổ sung thì bạn hãy viết tiếp.
Vô Ưu-Một thoáng phương đông.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 11 04, 2018 9:26 pm

Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018
Không bao giờ là muộn cho việc sửa sai...

Thực tế là có rất nhiều việc bạn cố quên đi nhưng càng muốn quên thì lại càng thêm nhớ. Vậy nên bạn hãy cứ tập trung nhớ rõ lại những việc đó, chấp nhận đó là sự thật, là chuyện đã qua và hóa giải tất cả những vị đắng còn đọng lại trong tâm trí bạn.

Dẫu biết rằng cố quên là sẽ nhớ
Hãy dặn lòng cố nhớ để mà quên.

Sau một quá trình thiền định dài lâu, bạn buông bỏ được mọi vướng mắc thì tâm trí bạn thật sự dừng lặng, ngơi nghỉ. Trí não minh mẫn, sáng suốt và sức mạnh tinh thần kiên định; Bạn đã đủ mạnh để đối mặt với kẻ thù cuối đời - Cái chết. Sự hiểu biết từng trải và định lực vững vàng giúp bạn chấp nhận sự thật “Cái chết sẽ đến với bạn”. Nhìn nhận “Việc chết là lẽ dĩ nhiên, là điều tất yếu” bạn sẽ không còn sợ chết nữa. Có thể bạn cười nhạo và tự tin khẳng định “Bạn không sợ chết, chết không có gì là đáng sợ”. Tôi tin bạn vì “Tôi cũng không sợ chết”. Tuổi trẻ, tôi chẳng ngán ngại một điều gì; Trời cao đất rộng chẳng hơn một bước chân,... Thời gian qua đi, tôi nhìn thấy người khác giãy dụa, rên xiết, cuồng loạn,… ở những phút giây cuối đời; Lòng tôi thầm lo, lo rồi lại sợ. Đó là một quá trình mà mỗi người đều phải trải qua. Tuổi trẻ khí vượng, nông nổi, bồng bột, háo thắng,… “Coi trời bằng vung”. Đến khi cao tuổi già yếu, sức tàn, lực kiệt, nhiệt huyết suy giảm, mòn mỏi,…con người lại sợ sệt, lo lắng. Sợ tiếng chó vọng giữa đêm. Sợ tiếng bước chân người bên hiên vắng. Sợ nghe tiếng gió giao mùa. Sợ cả mùa xuân đến,… Và bạn hãy nhìn lại, tìm hiểu những người vừa mới chết. Có bao nhiêu người bình thản chìm vào giấc ngủ sâu? Có bao nhiêu người vẫy vùng, níu kéo, bám víu,… từng hơi thở cuối? Bạn thuộc nhóm người nào? Nói và làm là hai việc khác nhau. Không hẳn bạn nói là có thể làm được. Thế nên bạn cần có quá trình rèn luyện, chuẩn bị từ trước. Hơn nữa, nếu thật sự bạn không sợ chết, chấp nhận cái chết thì bạn đã buông bỏ mọi việc cho con cái, không xét nét, can thiệp,…công việc của thế hệ trẻ, những “Trái ý nghịch lòng” không thể não hại, khiến bạn đau lòng vì “Chết đã không sợ” thì sẽ không có điều gì làm bạn rối trí.
Chuyển sang vấn đề khác, tôi sẽ nói về trạng thái con người ngay tại thời điểm chết. Bạn có từng thấy một người chết vùng vẫy, gào thét,… trước khi dứt hơi thở sau cùng không? Người đó không phải là bạn nhưng bạn hãy trực nhận “Hình ảnh đó có khác gì hình ảnh ta lột da một con rắn đang còn sống không?”. Hẳn đây không thể là một cảm giác dễ chịu. Nguyên nhân của việc vùng vẫy, gào thét,… ở người chết là do người này thật sự đau đớn, hoảng loạn,… vì họ không chấp nhận cái chết. Bạn lại nghĩ: Vậy chỉ cần chấp nhận “Cái chết sẽ đến” thì sẽ thanh thản lìa đời. Bạn nghĩ đúng nhưng điều quan trọng nhất là bạn phải có định lực đủ mạnh và tâm trạng thực sự bình thản trước mọi việc. Và … khi bạn rơi vào căn bệnh già lẩn thì bạn sẽ không có sự chọn lựa cách thức chết cho chính bạn. Sự minh mẫn, sáng suốt, định tỉnh,… là việc mà người cao tuổi nên gìn giữ. Việc ngồi thiền không chỉ giúp người cao tuổi không bị già lẩn mà còn giúp người cao tuổi nâng cao khả năng chịu đựng những đau đớn về tinh thần và thể xác. Do việc ngồi thiền sẽ giúp bạn quen dần cảm giác tê buốt, căng cứng ở chân, hông, cổ và sự tĩnh lặng ở trí não. Những điều này sẽ rất lợi ích cho bạn, nhất là khi bạn cận kề cái chết. Tôi không dùng cái chết để khiến bạn lo lắng, hoảng sợ. Điều này không ích lợi gì cho cá nhân tôi. Tôi chỉ giúp bạn chấp nhận một sự thật tuyệt đối “Chết là điều tất yếu, không thể tránh khỏi của đời người” và giúp bạn không bị căn bệnh già lẩn quái ác hành hạ, giày vò.
Việc ngồi thiền không chỉ tốt cho người cao tuổi. Dù bạn là ai thì việc giữ tinh thần tập trung, trí não minh mẫn, sáng suốt,… đều rất tốt. Việc ngồi thiền tốt cả cho việc học, công việc và sức khỏe của bạn. Việc ngồi thiền thật sự rất ích lợi cho sức khỏe của bạn. Những căn bệnh đau khớp, đau thần kinh tọa, cột sống, bướu cổ, ung thư, tiểu đường, giảm trí nhớ,… đã thuyên giảm khi những bệnh nhân siêng năng ngồi thiền. Lý giải cho khả năng trị bệnh của việc ngồi thiền là do khi dừng lặng mọi lo toan suy tính, cơ thể bạn có thời gian nghỉ ngơi, điều hòa lại những huyệt vị bị nghẽn, khí huyết sẽ lưu chuyển thông suốt khắp cơ thể. Quá trình ngồi thiền tinh chuyên, không gượng ép sẽ hình thành một luồng khí trung hòa trong cơ thể. Luồng khí này sẽ tự tìm đến những cơ quan, bộ phận “gặp sự cố” trong cơ thể người và sửa chữa những “hỏng hóc” ở nơi đó. Tuy nhiên, bạn phải kiên trì, nhẫn nại, chuyên tâm thiền định. Bạn cũng đừng cố tìm học những phương pháp ngồi thiền kỳ đặc. Vì lẽ khi bạn hành trì sai phương pháp hoặc bỏ lỡ nửa chừng thì việc ngồi thiền kỳ đặc đó có thể sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần của bạn và “Tiền mất, tật mang”.
Tóm lại, việc ngồi thiền - thiền định là dừng lặng ý niệm, buông bỏ suy tư, lo nghĩ để đạt được trạng thái tĩnh tâm. Khi khởi nghĩ, bạn hãy nghĩ đến những điều tốt đẹp. Khi gặp những chuyện không vui, bạn hãy hóa giải chúng bằng cách tìm ra những điểm tốt trong câu chuyện buồn đó. Đừng tạo điều kiện cho buồn lo, sầu khổ,… nhấn chìm, não hại tinh thần của bạn. Nếu phải nhớ thì bạn hãy nhớ lại mọi việc rồi quên bỏ, đừng chất giữ tất cả mọi chuyện. Vì ngay cả mạng sống bạn còn không giữ, không làm chủ được thì bạn giữ những câu chuyện vẩn vơ, vớ vẩn để được gì? Bạn hãy giữ tâm trí an lạc, thảnh thơi, giữ tâm thanh tĩnh,…
Một vấn đề khác không kém phần quan trọng mà người cao tuổi cần lưu tâm. Đó là người cao tuổi phải rèn luyện lối sống lặng yên, tĩnh tại. Thế nên việc ít nói, giữ sự im lặng là cần thiết. Người xưa có câu “Đa ngôn sác cùng, bất như thủ xung” có hàm nghĩa là càng nói nhiều lại càng nguy hại cho thân, chi bằng giữ sự yên tĩnh, lặng im. Vì lẽ bạn hãy chú ý những người sau khi nói huyên thuyên, dông dài,…mọi chuyện thì phải dừng lại thở hào hển, mồ hôi đổ ra như tắm. Đặc biệt, ở những người cao tuổi sau một hồi tranh luận, “ăn to, nói lớn”,… thì hơi thở gấp gáp, đứt quãng, hao hơi, tốn sức,… Khi con người cất lên tiếng nói, nhất là những lúc tranh cãi, kích động,… thì sẽ làm rối loạn nhịp thở, nhịp tim,… Điều này sẽ dẫn đến việc tán loạn hơi thở - khí lực mà khí lực trong cơ thể người là chủ của mạng người. Khí lực thực sự là chủ của mạng sống con người vì lẽ con người có thể nhịn ăn, nhịn uống vài ngày nhưng có mấy ai nhịn thở được 5 phút. Khi còn trẻ, khí lực con người còn mạnh nên cho dù có “Ăn to nói lớn”, “Lao tâm khổ trí”, tổn hao khí lực,… thì việc phục hồi nguyên khí, sức lực, bình ổn điều hòa lại hơi thở còn có phần dễ dàng. Tuy nhiên, nếu những người trẻ tuổi không biết bảo toàn nguyên khí, sống trong sự căng thẳng về tinh thần và thể chất thì việc hao mòn nguyên khí âm thầm sẽ gây ra bệnh tật, tinh lực suy, khí lực cạn dần, dẫn đến việc sức khỏe suy giảm, tuổi thọ rút ngắn lại. Còn đối với người già thì vấn đề nghiêm trọng hơn, việc nói nhiều sẽ làm khí lực tán loạn; Việc điều hòa bình ổn lại nhịp thở, nhịp tim, tâm trạng,… sẽ mất nhiều sức lực dẫn đến tổn hao nguyên khí, nguyên thần của con người.
Nguyên thần của con người là gì? Nói với nghĩa hẹp, dễ hiểu thì nguyên thần là sức khỏe thể chất và tinh thần của con người; Còn nói với nghĩa rộng, đầy đủ thì nguyên thần chính là tâm, còn gọi là phần hồn của con người. Một người được gọi là người sống thì gồm có 2 phần gồm thân và tâm. Thân xác là phần vật chất, có hình dạng có thể nhìn thấy, nắm bắt,… được xem là phần dương; Còn phần tâm thì vô hình, không thể sờ mó, nắm bắt,… được xem là phần âm. Nhưng trên thực tế người vừa mới chết, thân xác còn, phần tâm rời khỏi lại nằm im, bất động,… Vì thế khi nhìn nhận chuẩn xác hơn thì phần thân là dương nhưng thật ra lại là âm, tạm gọi là dương trong âm; Còn người sống cử động, suy nghĩ được là do tâm chi phối, điều khiển,… Tâm là phần âm lại có thể giúp thân xác bất động làm việc, đi lại, nói cười,… nên chuẩn xác hơn sẽ tạm gọi tâm là âm trong dương. Người chết, thân xác vật chất sẽ hư hoại, tan rã mất. Còn phần tâm không hình, không dạng,… thì sẽ tan mất hay ra sao? Phần tâm đi về đâu?
Khi nguyên khí tán loạn, tan mất thì con người sẽ chấm dứt mạng sống. Việc nói nhiều, tranh cãi kích động,… sẽ làm người già sớm chết hoặc rơi vào tình trạng già lẩn, si dại,… Thế nên việc dừng lặng, ít nói sẽ rất cần thiết cho sức khỏe tinh thần và thể chất ở người già. Không chỉ vậy việc ít nói sẽ không gây ra những cãi vã, xung đột,… trong gia đình vì sự khác biệt về nhận thức, sự hiểu biết, bối cảnh sống giữa hai thế hệ là luôn tồn tại. Điều này sẽ giúp cho gia đình bạn có sự hài hòa, ấm êm và hạnh phúc. Có thể bạn sẽ nghĩ: Nếu sống dừng lặng, ít nói,… thì người cao tuổi có khác gì “Pho tượng biết đi”, không có giá trị gì? Vậy “Chết quách cho xong”. Bạn đừng nên cạn nghĩ, cực đoan như thế. Vì lẽ: Một là việc nói nhiều, can thiệp quá mức vào việc làm của con cháu sẽ làm bạn “Hao hơi tốn sức”, làm rạn nứt tình cảm, đổ vỡ gia đình,… thì bạn nói để được gì?; Hai là việc giữ trí não tinh tường, sáng suốt, sức khỏe tốt sẽ giúp bạn có tâm thái an lạc, tươi vui. Có tinh thần minh mẫn, bạn ít lời nhưng lời nói lại có sự chuẩn mực, lời hay ý đẹp - Bạn sẽ là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con cháu, được mọi người kính nể, tôn trọng; Ba là bạn thật sự không thể làm chủ việc chết vì thế bạn hãy giữ sự minh mẫn, bình thản để đón nhận một giấc ngủ nhẹ nhàng, thanh thản hơn là phải đau đớn, khổ sở, oằn mình,… khi cái chết tìm đến. Tóm lại, việc bạn ít nói, giữ sự yên lặng sẽ giúp bạn bảo toàn được sức khỏe thể chất và tinh thần.
Khi nói, bạn hãy nói những điều hay, những việc tốt để khuyên dạy con cháu. Hãy cất lời nói hợp thời, đúng lúc - Khi con cháu cần đến sự hiểu biết, kinh nghiệm từng trải,… của bạn. Là cha mẹ, bạn phải rõ biết những đứa trẻ khi đói chúng sẽ đòi ăn, khi khát sữa chúng sẽ đòi bú, khi “tè ướt quần” chúng sẽ kêu khóc,… Khi no đủ chúng sẽ hồn nhiên vui đùa, tự do,… Rõ biết như thế, bạn đừng gò bó, áp đặt, sắp xếp,… mọi việc cho thế hệ trẻ. Việc làm đó sẽ gây khổ cho bạn, cho con bạn, cho người thân,… Hãy sống an nhàn, thảnh thơi, dứt trừ lo toan, buông bỏ mọi việc,…
Tôi lại đi vào “vết xe đỗ” của những người mẹ, tôi sẽ kể một câu chuyện xưa cũ nát. Tương truyền vào một thời xa xưa, ở Trung Quốc. Có một nhà sư đạo cao, đức trọng được mọi người tin tưởng, cả nể. Vào một ngày kia, vị pháp sư được mời dự một tiệc cưới. Đến lúc nhìn thấy cô dâu và chú rể, nhà sư buộc miệng nói “Ô hay! Bà lấy cháu nội”. Hiển nhiên là câu nói đó đã gây ra sự chấn động lớn. Mọi người chú ý và yêu cầu nhà sư trình bày cho rành mạch, rõ ràng cơ duyên đã nói ra câu nói “động trời” trên. Nhà sư đã trình bày “Sở dĩ ông nói điều đó là vì cô dâu hiện tại chính là bà nội của chú rể”. Câu chuyện được kể rằng bà nội của chú rể vốn là một người hiền lành, tốt bụng. Tuổi tác đã cao mà bà lão vẫn cứ chất giữ tình yêu thương, lo lắng cho con cháu. Đặc biệt là bà lão rất yêu quý cháu trai vừa mới chào đời. Bà lão đã mất khi đứa cháu trai tròn một tuổi. Trước khi nhắm mắt bà vẫn ôm giữ ý định lo cho đứa cháu còn nhỏ dại, không có bà ai nuôi giữ đứa cháu nên người. Vì ý nghĩ đó bà cứ quanh quẩn, lân la,… xung quanh ngôi nhà của mình. Rồi một ngày kia bà đã hạ sinh vào gia đình của người láng giềng bên cạnh. Năm tháng qua, hai đứa trẻ dần khôn lớn, chúng gặp nhau trong một lễ cưới.
Trong câu chuyện này bà nội của chú rể là người hiền lành, tốt bụng, sống thiện lương. Vì thế bà lão đã có thể luân hồi trở lại nẻo Người và thành toàn sở nguyện mà tiền kiếp đã chất chứa. Bạn đừng cho rằng câu chuyện này là thật, cũng đừng cả nghĩ là không thật. Nhưng bạn hãy sống để về sau đừng hối tiếc!
Có thể khi đọc những trang giấy này bạn là một đứa trẻ, một cụ già, một chàng trai, một cô gái,… Bạn hãy chiêm nghiệm, đừng vội xem qua rồi thờ ơ, lãnh đạm buông lời: “Chuyện của người ta”, “Đây là trò vớ vẩn của kẻ nhàn rỗi”,… Bởi lẽ dù bạn là ai thì tôi đã viết cuộc đời bạn vào trong vài trang giấy mỏng. Tôi đã thật sự làm điều đó. Giả như bạn nhận thấy những trang giấy này còn chút ít giá trị thì hãy giữ lại cho mình một bản và gửi tặng cho những người thân yêu khi cảm nhận họ cần đến.
Hãy xem những trang giấy mỏng này như là một món quà. Trân trọng! Chúc mọi điều tốt đẹp đến với bạn và bạn hãy luôn tươi vui, sống khỏe, hạnh phúc!

Không bao giờ là muộn cho việc sửa sai,

Không bao giờ là sớm cho việc rèn luyện một thói quen tốt.


Vô ưu-Một thoáng phương đông.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 11 08, 2018 8:07 pm

Thân Trung Ấm và Hơn Thế Nữa.

Thân Trung Ấm, linh hồn, thần thức, vong linh, hương linh, A tu la, Ngạ quỷ… chỉ là những cách gọi khác nhau của người sống dành cho chúng sinh nẻo không thân tức những người đã khuất.
Và quả thật là để chuẩn mực, rạch ròi chúng sinh nẻo không thân ở nẻo giới vô hình nào là điều không hề dễ dàng. Cụ thể, ở bài viết Thân Trung Ấm và Hơn Thế Nữa… 02, Ngạo Thuyết có trình bày việc gặp 2 vong là oan hồn chết trận, họ đã tồn tại ở hình dạng đó chí ít cũng có đến trên dưới 40 năm, vẫn với kiểu hình chiến sĩ khi còn sống cùng với những thương tích trên người. Họ chết đã 40 năm gọi là Thân Trung Ấm nghe có vẻ cũng gượng gạo nhưng rõ thật là họ cũng đang tồn tại và chờ một cơ duyên khoác lên người một tấm thân xác thịt. Nếu không gọi họ là Thân Trung Ấm thì định danh họ là chúng sinh nẻo A tu la, nẻo Địa Ngục hay nẻo Ngạ Quỷ? Họ không thuộc chúng sinh nẻo Địa Ngục, họ cũng không là chúng sinh nẻo A tu la, cũng không thể xếp họ vào chúng sinh nẻo Ngạ quỷ.
Vì sao?
Vì về cơ bản họ không mang đặc tính đặc trưng của chúng sinh 3 nẻo – A tu la, Ngạ quỷ, Địa ngục. Thật khó nghĩ thay! Và khi việc phân chia Tam Giới, Lục Đạo thì người Việt Nam đã định danh cho nhóm chúng sinh này là vong linh, hương linh, oan hồn uổng tử. Tin rằng ở các quốc gia khác việc định danh nhóm chúng sinh này sẽ sai khác với cách định danh của người Việt Nam.
Nhóm chúng sinh oan hồn, uổng tử thường gặp ở chiến sĩ trận vong và những người chết bởi tai nạn bất ngờ cũng như ở những người cùng quẩn, bế tắc nơi cuộc sống dẫn đến việc tự tử. Sau khi chết do tai nạn, tử thương ký ức đau đớn cùng sự không chấp nhận đã chết thần thức những người chết đa phần sẽ quẩn quanh ngay nơi tử nạn để mong rằng loạt đạn hay mảnh bom không ghim thẳng nơi lồng ngực hoặc cú ngã xe không làm vỡ đầu…, họ quẩn quanh nơi đó với niềm hy vọng không có thật rằng họ vẫn còn sống. Và những chúng sinh không thân quanh đấy sẽ bắt được “tín hiệu” sẽ hiện thân ra, “bầu bạn” cùng, đôi khi việc tụ tập nhóm của những chúng sinh dạng này nảy sinh ra sự tinh quái, ranh mãnh “quấy phá” người sống để làm vui. Việc thành lệ thì nhóm chúng sinh này được ghép vào nhóm chúng sinh nẻo A tu la. Với những người chết vì tự sát hoặc mưu sát, nếu họ không kịp buông xả ký ức đau thương khi sống ở nẻo Người thì dễ thường họ sẽ trụ ở nẻo Địa ngục trước khi luân chuyển sang kiếp Ngạ quỷ.
Những người nghiện games, nghiện ma túy, nghiện tình dục,… những kẻ chìm đắm trong dục vọng, hoang tưởng – với những định lực tiêu cực đó rồi sẽ về đâu nơi 6 nẻo luân hồi? Nẻo A tu la sẽ là bến đỗ, nẻo Ngạ quỷ, nẻo Địa ngục là những bước chuyển tiếp theo, có không những chuỗi kiếp mang lông, đội vải? Và cả những kiếp người tật nguyền về tinh thần như tự kỷ, thiểu năng và cả sự rối loạn giới tính ở những kiếp liền kề. Đau thương vẫn là đau thương! Nếu biết, kịp thức tỉnh hồi đầu, về với những định tâm lành mạnh, tích cực thì hẳn là Không Bao Giờ Muộn Cho Việc Sửa Sai.
Những người nghiện games chiến đấu với định lực tham bắn giết, chém loạn thì định hình là A tu la chiến binh; Những người nghiện games Audition thì có phần là những vũ công A tu la; Những người nghiện ngập Heroin, ma túy đá, cần sa, cỏ Mỹ,… với cảm giác phê thuốc chìm đắm trong ảo giác mê mờ, đây là dấu hiệu báo trước cho một thần kinh không định tĩnh, lâu ngày dài tháng sự sẽ định hình – những con người này dễ dàng bị chúng sinh không thân mượn thân xác, cùng tâm thức mê mờ đó nơi hiện đời hoặc hiển lộ ở những kiếp liền kề, và tiếp tục sẽ là những kiếp sống nghiệt ngã ở những nẻo xấu hơn nơi 3 cõi; Những trai bao, gái gọi sa đọa nơi dục vọng hoang lạc dẫn đến tâm suy, hình bại, thần tán… Những tánh hạnh xấu cứ thế huân tập, nghiệp dữ dần thành hình, kiếp sau rồi sẽ ra sao?
Những người sống buông thả sẽ báo trước những kiếp sống đau thương ngay nơi hiện đời và cả những kiếp sống tiếp theo là lẽ hiển nhiên.
Vậy với những người được xem là người học Phật hành Bát chánh đạo liệu có lạc lầm nơi các nẻo xấu hay không?
Với những người học Phật không sáng được nhân quả luân hồi, chấp giữ Nhất Niệm Vô Ký thì lối đi nơi hậu kiếp cũng không hẳn đã rất lạc quan bởi Mê thì Chẳng Thể Sáng được.
Người học Phật ngày nay có thể chia ra là nhiều phân nhóm khác nhau. Tuy nhiên, gần như tất cả người học Phật có tâm chân chánh đều rơi vào cùng một hiện trạng chung đó là Chấp Giữ Nhất Niệm Vô Ký. Điển hình:
- Nhóm người học Phật Chấp Giữ Kiến Tạo Ốc Đảo Tự Thân, dạng người học Phật này thật sự là chưa chứng ngộ song lại có điều tự phụ - Hiểu Đúng, Biết Đủ - Ta chỉ cần nương tựa chính ta, không nương tựa một ai khác, chỉ cần kiến tạo ốc đảo an lạc cho tự thân, giữ thân tâm không vướng bụi trần, vương mùi tục lụy; Nhóm nhân sĩ Phật học này tự thân chưa ngộ song lại mơ hồ ngỡ rằng đã ngộ và họ ra sức kiến tạo một cái kén, một vỏ ốc rồi chui vào đấy ẩn thân, hữu duyên thì xui những người học Phật khác cùng xây Những Ốc Đảo – Những Lâu Đài Cát như thế. Thật ra những người học Phật này không hành theo Chánh Tông Tâm Pháp Của Phật Môn, pháp tu của họ kỳ thật là pháp Tu Tiên của Đạo Gia. Để mọi người dễ “chạm đến” Ngạo Thuyết sẽ kể một câu chuyện vài chục năm về trước, khi đó nếu các bạn là người ham thích đọc truyện cổ tích thì sẽ dễ dàng bắt gặp những ông Bụt, bà Tiên, cô Tiên với rất nhiều quyền phép thường hiện ra giúp đỡ những người hiền lành, tốt bụng nhưng khốn khó. Trong dân gian lưu truyền Ông Bụt của đạo Phật đã là ông Tiên của Đạo Lão, vì không “thấu hiểu” được Phật nên người xưa của Việt Nam đã phác họa ông Phật Toàn Giác của Ấn Độ thành Tiên ông đắc đạo ở Đạo Lão. Tôi muốn “khơi gợi” cho các bạn nhận ra điều gì? Đạo Phật đã bị Đạo Lão với cõi thế ngoại bồng lai tiêu dao của Trung Hoa đồng hóa và người học Phật ngộ nhận chánh tông Phật môn thành Ốc Đảo Tự Thân hay Hải Đảo Tự Thân, đây thực sự không phải là một pháp môn Đạo Phật đúng chuẩn. Ốc Đảo Tự Thân được kiến tạo trên Ngã Kiến, Chúng Sinh Kiến, Thọ Giả Kiến do Ngã Chấp mà thành hình, tạo lập bằng Định Tưởng của Thức nên chưa thật sự thoát khỏi Tam giới tức vẫn còn trong lưới mộng luân hồi. Đây chính là một dạng Nhất Niệm Vô Ký ở một nhóm người học Phật, gọi là Vô Ký vì chưa Tận Minh, chưa liễu thoát luân hồi.
- Nhóm người học Phật Chấp Giữ Cái Đang Là, thật ra Cái Đang Là cũng chính là Tưởng Tri. Bất kỳ một chúng sinh nào tồn tại nơi Tam Giới đều là Tưởng Tri, nẻo Người cũng chỉ là một dạng Tưởng Tri. Ngay cả Phật khi còn tại thế cũng là một Tưởng Tri, chỉ là Phật biết hiện tại đang là một Tưởng Tri nên không trụ chấp, tùy duyên hóa độ, rốt ráo thành tựu là một Chúng Sinh Đời Cuối. Thế nên người học Phật mà trụ chấp Cái Đang Là cho rằng đấy là Thực Tại Hiện Tiền, nào hay đấy cũng chỉ là một dạng Tưởng Tri, ôm giữ Nhất Niệm Vô Ký đó cho đến khi vô thường đến – Chết rồi mới hay mình vẫn hãy còn – Vẫn là Cái Đang Là không biết rồi sẽ đi đâu, về đâu. Về lập luận người học Phật hành pháp Cái Đang Là có vẻ khác với người học Phật Trụ Chấp Kiến Tạo Ốc Đảo Tự Thân nhưng chung cùng cũng chỉ là Chấp Ngã.
- Nhóm người học Chấp Giữ Cái Thấy Biết Thường Hằng, cũng tương tự như hai nhóm học Phật trên, nhóm người học Phật này cũng còn đó Ngã Chấp – Tưởng Tri, tức Ôm Giữ Nhất Niệm Vô Ký. Trụ nơi Định Cái Thấy Biết Thường Hằng chỉ là việc người học Phật tự Lấy Dây Trói Mình mà thôi. Sau khi chết, người học Phật này liệu sẽ có thể Trụ nơi Định Cái Thấy Biết Thường Hằng bao lâu trước khi Tương Tục Trôi Lăn Nơi 3 Cõi 6 Đường? Thần thức Trụ nơi Định Cái Thấy Biết Thường Hằng – Nhất Niệm Vô Ký càng lâu càng khó hòa nhập lại thế giới loài người hơn vì sự Không Còn Tương Thích, Không Còn Khế Hợp tri kiến xã hội.
- Nhóm người học Phật Chấp Giữ Tự Đầy Đủ như thể đã thông đạt Phật pháp, với Trụ Chấp Niệm Vô Ký này dễ thường khiến người học Phật tự mãn viên mãn, tự thành tựu song kỳ thực không sáng rõ cả Chúng Sinh lẫn Phật. Với lầm lỗi này dễ thường khiến người học Phật sau khi chết, thần thức xuất ra ở dạng Thân Trung Ấm Tập Định dò chúng sinh, dò Phật. Khỗ nỗi Chúng Sinh thì dễ tìm, Phật thì còn chưa rõ, thế nên 3 cõi 6 đường sẽ lại là lối đi về.
- Nhóm người học Phật Chấp Giữ Việc Học Đạo Là Một Chuỗi Tiến Hóa Tâm Linh Liên Tục, nhóm người này kỳ thực không phải là người học Phật mà chỉ là ngoại đạo bởi lẽ họ còn không hiểu được rằng Quy Luật Luân Hồi Nơi 3 Cõi 6 Đường luôn không vận hành một chiều mà những vòng tròn đan xen xuôi ngược đa biến. Thế nên, người Chấp Giữ Việc Học Đạo Là Một Chuỗi Tiến Hóa Tâm Linh Liên Tục là người để tự che mờ mắt huệ, tự chướng ngại với chánh pháp giải thoát hoàn.
Những điều Ngạo Thuyết trình bày các bạn hãy xem như là một tư liệu tham khảo và dùng trí tuệ bản thân soi rọi, tư duy lại. Các bạn cũng đừng vội sợ rằng lại “gói gém” thêm một mớ tri kiến vô minh về Phật học bởi lẽ với bề dày vô minh mà mỗi người đang chấp giữ thì thêm một nhúm tri kiến của Ngạo Thuyết hẳn cũng chẳng bỏ bèn gì. Vả lại nếu khi tham cứu mớ tri kiến Ngạo Thuyết trình bày mà các bạn không thấy chút ý vị gì thì sẽ nhanh thôi mớ tri kiến đó sẽ biến mất không tâm trí các bạn không lưu lại chút dấu tích. Cơ mà… ngộ nhỡ chút tri kiến đó dùng được thì mai hậu khi lìa đời các bạn sẽ dễ nhận diện hơn một điều rằng “Ta chết rồi sao ta vẫn còn đây” và những người học Phật mê lầm với Nhất Niệm Vô Ký sẽ không quá hoang mang, hoảng loạn, bẽ bàng với tri kiến Phật học của chính mình. Trân trọng!.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 6 Tháng 11 09, 2018 8:35 am

Đơn nghiệp - Cộng Nghiệp
Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2018


Mỗi một con người, mỗi một chúng sinh, mỗi một tâm ý sự sống đều mang nơi tâm thức vô số những nhân duyên, nghiệp quả vay trả - trả vay từ rất lâu xa và cứ thế trôi lăn mãi nơi lưới mộng luân hồi với vô vàn buồn vui, hơn thua, được mất.
Và trong khối tâm thức hỗn độn nơi mỗi tâm ý sự sống luôn tồn tại một niềm mong mỏi không khổ não, không tử sinh - việc giải thoát hoàn toàn. Song cuộc sống, sự sống với những ràng buộc, dính mắc cùng vô minh mà mỗi tâm ý sự sống thoạt nhớ, thoạt quên sự giải thoát hoàn toàn. Cùng với đơn nghiệp, cộng nghiệp những dòng tâm thức sự sống cứ trôi lăn vô định; một số tâm thức đối diện với khổ não, tử sinh cảm thấy sự nhàm mỏi, chán chường; Song đa số tâm thức khác do mãi mê hướng ngoại với những điều kỳ vọng huyễn hóa cơ hồ đã quên đi việc khổ não tử sinh nhưng rồi khi đối diện với vô thường thì nội tâm bấn loạn, hoang mang “Chết là hết” và “Ta sẽ chết, thật đáng sợ. Ta không muốn điều đó sẽ xảy ra với Ta, với người thân của Ta” nhưng làm sao có thể dừng được vòng quay sinh tử?
Vì lẽ đó trong nhân loại sẽ có, luôn có một dòng tâm thức tìm về sự giải thoát hoàn toàn. Đa số những tâm ý sự sống sẽ tìm đến các hệ thống tôn giáo nhằm lần về sự giải thoát hoàn toàn. Những người học Phật sẽ tìm đến đạo Phật nhưng vì bị lưới vô minh bủa vây họ hoang mang, bất định với đơn nghiệp và cộng nghiệp.
Đơn nghiệp là duyên nghiệp, quả nghiệp, nhân nghiệp nơi mỗi người. Khi đã mang thân người hay tồn tại ở một dạng chúng sinh bất kỳ nào đó thì ta sẽ dính mắc, ràng buộc bởi đơn nghiệp. Đơn nghiệp do mỗi tâm ý sự sống đã từng tạo ra từ rất nhiều kiếp sống lâu xa cùng với những nhân duyên kiến tạo ở kiếp hiện tại. Người học Phật vì muốn giải thoát hoàn toàn họ sẽ phải hóa giải những duyên nghiệp mà họ đang bị ràng buộc, cột trói.
Với những người học Phật một lòng tìm về sự giải thoát hoàn toàn song lại có định lực yếu kém khó thể đối mặt với Tham sân si mạn nghi, do rõ biết những người học Phật đó chẳng đủ khả năng thọ trì pháp môn đại thừa nên Phật Thích Ca bày ra phương tiện khéo - việc “Cắt ái, ly gia”. Vậy nên từ đó việc “Cắt ái ly gia” được phổ truyền cho giới xuất gia học Phật. Pháp phương tiện “Cắt ái ly gia” mà Phật Thích Ca áp dụng cho giới xuất gia có công năng đoạn dứt các duyên thường ràng buộc ở người học Phật căn cơ thấp, định lực mỏng, nội tâm yếu kém.
Vậy nên việc “Cắt ái ly gia” là trợ duyên giúp cho người học Phật tiến đến sự quyết liễu thoát sinh tử; Việc “Cắt ái ly gia” chưa từng là cứu cánh của sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
Khi Phật Thích Ca còn tại thế thì việc chấp nhận cho người học Phật xuất gia được thực hiện khi người đó ít nhiều rõ biết về giáo lý đạo giác ngộ giải thoát và người học Phật sẽ được xuất gia khi xác định rõ đích đến mà họ mong mỏi là sự giải thoát hoàn toàn. Người học Phật khi xác định rõ đích đến là sự giải thoát hoàn toàn và hội đủ duyên thì mới được nhận vào giáo đoàn khất sĩ. Việc “Cắt ái ly gia”, việc không lưu trú cố định ở một trú xứ chính là nhằm vào mục đích giảm trừ các duyên ràng buộc, đoạn lìa nghiệp tương tục và việc khất thực tuần tự thứ lớp, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn là nhằm vào việc phá ngã ở người học Phật theo lối Thanh văn.
Do việc “Cắt ái ly gia” không hề là cứu cánh của đạo giác ngộ giải thoát nên Phật không từng thiết chế giới luật “Cắt ái ly gia” cho người học Phật. Với những người học Phật có pháp khí đại thừa Phật Thích Ca không từng dùng việc “Cắt ái ly gia” để hạn cuộc họ, mọi sự tùy duyên.
Ngày nay, vì không rõ chánh pháp nên đã có ít nhiều sự hiểu lầm nơi định kiến nhân loại - người học Phật nhất thiết phải “Cắt ái ly gia”, một sự hiểu biết sai lạc đã từng khiến giá trị chánh pháp có nơi giáo lý đạo Phật mất đi tính thực tiễn và sự khả dụng.
Nguyên nhân của việc bày phương tiện khéo “Cắt ái ly gia” ở vị Giác giả Thích Ca là vì người học Phật căn cơ bậc hạ dễ bị trói nơi đơn nghiệp và cộng nghiệp. Việc dính mắc đơn ngiệp - cộng nghiệp sẽ khiến người học Phật thường rơi vào tâm thái khổ não, lo toan; Người học Phật mà tâm không định sẽ khó thể chứng ngộ việc liễu thoát sinh tử. Việc học Phật chỉ thành tựu pháp vô sanh khi người học Phật phá ngã thành công trong khi con người lại thường trói vào ngã - cái tôi, ngã sở - cái của tôi. Một số người học Phật có thể hành trì ngỡ như không dính mắc ngã - cái tôi nhưng lại bị trói nơi cái của tôi - ngã sở. Sau rốt tương tác với duyên nghiệp thì người học Phật sẽ lại dính mắc bản ngã, việc liễu thoát sinh tử ở người học Phật đó vì thế bị chặn đứng.
Với những người học Phật thượng căn có pháp khí đại thừa, hành bồ tát đạo một khi sáng rõ chánh pháp thì tùy duyên tiêu nghiệp cũ; Ái dục, tham luyến, quyến thuộc,… nơi hiện kiếp không là chướng ngại đủ sức trói buộc chí xuất thế của người đã chứng ngộ pháp vô sanh, thâm nhập tận cùng lý sự vô thường.

Cộng nghiệp là những tác động chung, cộng nghiệp có sự chi phối đến đơn nghiệp mỗi người. Ở tầm nhìn tổng thể, khách quan, sâu rộng tri thức nhân loại sẽ dễ dàng nhận ra “Trong cái một có cái tất cả, trong cái tất cả có cái một” do vậy cộng nghiệp của mỗi tâm ý chúng sinh cũng không đơn thuần dừng lại ở những mối quan hệ huyết thống gần gũi trong gia đình mà dính mắc đến mọi tổ chức, cộng đồng, đất nước, xã hội con người và đến cả nhân loại, mọi loài, mọi sự vật hiện tượng. Thực tế là tác động của mỗi người ít nhiều đều tương tác đến với tất cả và ngược lại.
Cụ thể là với những xung đột vũ trang ở khắp nơi trên thế giới hiện nay và đến một lúc nào đó sự xung đột vượt giới hạn, một vài quả bom hạt nhân được kích nổ phải chăng vấn đề ảnh hưởng sẽ không dừng lại ở một vài quốc gia lân cận?
Và phải chăng với những xáo trộn ở cuộc di dân Châu Âu đã ảnh hưởng lan rộng vượt ra ngoài phạm vi của một Châu lục và sẽ gây ra những tác động có tính hệ lụy lâu dài?
Chiến tranh, xung đột vũ tranh, xung đột tôn giáo, sắc tộc, thiên tai, dịch bệnh, ngành công nghiệp,… đang ảnh hưởng khắp mọi ngóc ngách nơi xã hội loài người. Băng tan, động đất, núi lửa, sóng thần, bão tố, biến đổi khí hậu, trái đất nóng lên,… đó là kết quả của cộng nghiệp nhân loại và cả loài người cùng muôn loài đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ sự hiểu biết sai lầm có tính kế thừa nơi tri thức, nhận thức nhân loại.
Nếu vẫn tiếp tục dấn thân xây dựng xã hội loài người dựa trên nền tảng sai lầm hiện nay thì nhân loại sẽ về đâu? Sự sống nơi hành tinh xanh này liệu sẽ có thể tồn tại được bao lâu nữa khi mà chủ nghĩa thực dụng đang nhấn chìm giá trị con người nơi mỗi con người?
Nếu trái đất nổ tung hay trở thành một hành tinh chết liệu còn có ai, có tâm ý sự sống nào còn lại nơi nấm mồ của cộng nghiệp nhân loại?
Nếu người học Phật không sáng rõ việc liễu thoát sinh tử sẽ tiếp tục trôi lăn và cùng với tâm ý những chúng sinh vô minh đi nhặt nhạnh, gom góp hình hài, thân xác trải qua hành tỷ, hành tỷ tỷ năm tương tục. Đó là cộng nghiệp nhân loại đã ảnh hưởng đến đơn nghiệp của mỗi người, mỗi loài.

Nếu tri thức nhân loại sớm nhận diện được sự hiểu biết đúng mực, khách quan, sáng rõ thì hẳn là việc duy trì sự sống nơi hành tinh xanh sẽ được kéo dài thêm. Tất nhiên là sẽ không có việc trái đất này không bao giờ tàn hoại nhưng nếu con người biết đến và sống đúng mực với chánh pháp thì xã hội loài người sẽ dần tiến đến sự hài hòa, tiến bộ, bác ái; Chiến tranh, thù hận, xung đột giết chóc đồng loại sẽ giảm thiểu nơi nhân loại, xã hội loài người sẽ an toàn, văn minh hơn.
Hành tinh xanh còn tồn tại thì việc liễu thoát sinh tử cho dòng tâm ý sự sống nhàm chán sinh tử sẽ có thêm nhiều cơ may. Và trên tất cả là xã hội con người sẽ giảm thiểu sự khốn cùng, hỗn độn, rối ren khi giá trị con người hiển lộ.
Do vậy… Nên chăng con người khi tìm đến đạo Phật và nhận ra chánh pháp thì hãy vì nhau ra sức nâng cao ngọn đuốc chánh pháp, trả tri thức đúng mực, khách quan về sự tồn tại dòng lưu chuyển tâm ý sự sống cho sự hiểu biết nhân loại, là việc làm có tính chất cứu cánh, sống còn đối với sự tồn tại hay tàn hoại của hành tinh xanh. Đây là đơn nghiệp ảnh hưởng, chi phối lại cộng nghiệp nhân loại.

Vô Ưu-Một thoáng phương đông.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 7 Tháng 11 10, 2018 11:54 am

Người già lẫn???

Những câu nói quen thuộc tôi vẫn thường nghe người chị hàng xóm dặn dò đứa con trai trông chừng bà nội già lẩn. Tôi thầm nghĩ “Rõ là khổ! Hơn nửa đời người sống minh mẫn, sáng suốt,…”. Rồi đến tuổi “xế chiều” lại trở nên si dại, đần ngốc, lú lẩn,… với sự hiểu biết không bằng đứa trẻ lên ba.
Có bao giờ bạn nhìn thấy một bà cụ dùng nước tiểu của chính mình để tắm rửa, uống ăn,…? Có bao giờ bạn bắt gặp một ông lão già khọm trần truồng bên cạnh đống phân gớm bẩn, ông lão dùng những ngón tay khô gầy nghịch đùa phân và nước tiểu, rồi ông lão lại dùng những ngón tay bẩn chà lên khuôn mặt nhăn nheo ngả màu thời gian, cả tấm thân gầy còm, run rẩy,…? Có phải họ là những người bị bệnh tâm thần? Không! Họ là những người cao tuổi già lẩn. Họ đã từng là những người làm trụ cột của gia đình nhưng giờ thì họ phải sống với chuỗi ngày vô tri, đần ngốc,…
Trên bước đường bôn ba, xuôi ngược, tôi đã không ít lần chứng kiến, nghe kể về những cảnh đời, những số phận bất hạnh, hẩm hiu,... Nhưng hình ảnh những người cao tuổi già lẩn là cảnh đời khiến tôi nhiều xót xa, nặng oằn tâm trí hơn cả. Sống mà rơi vào tình cảnh già lẩn, rõ thật là sống không bằng chết. Đã có lúc, tôi lo lắng nghĩ về bản thân ở độ tuổi “Gần đất xa trời”. Nếu chẳng may tuổi già mình lại như thế thì quả thật là rất đáng sợ! Thế là tôi nghĩ đến việc “Làm cách nào để thoát ra khỏi căn bệnh lú lẩn, si dại,… ở tuổi già?”.
Tôi đã tìm hiểu hoàn cảnh, tính cách sống, công việc, thân nhân của những người già lẩn và những vấn đề liên quan khác,… Sau khi tổng hợp và phân tích, dường như tôi tìm ra một vài điểm chung giữa những người già lẩn. Thời trẻ, họ là những người hay lo nghĩ, xét nét mọi việc, có phần cố chấp, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền,… Về già, tính tình họ không hề thay đổi. Thậm chí, tính cách còn có phần độc tài, chuyên quyền hơn. Họ thường áp đặt, răn đe, rầy dạy,… con cháu. Dù rằng không hẳn là mọi việc họ khuyên dạy con cháu là sai nhưng bối cảnh xã hội đã khác xưa. Thời đại ngày nay mà bảo con cháu dùng quạt nan thay cho quạt điện, dùng khói đuổi muỗi thay cho bình xịt, nhang trừ muỗi,… thì đã không còn hợp thời,... Không chỉ có vậy, một bà già 70 tuổi chờ đợi cậu con trai 30 tuổi về dùng cơm, một ông cụ 80 tuổi chờ cửa cô con gái 40 tuổi về nhà ngủ rồi thì mới yên tâm chợp mắt thì quả thật là sự lo lắng của người già đã rơi vào quá mức, ngược đời,...
Những người cao tuổi lại sợ sự cô độc, lẻ loi, sự im lặng và sợ mọi người quên mất sự hiện diện, vai trò của họ. Người cao tuổi cố níu giữ lại vai trò làm chủ gia đình bằng việc nhớ nghĩ lại những câu chuyện về thời thơ bé của con cháu nhằm khơi gợi, nhắc nhở con cháu biết vâng lời,… Nhưng sự minh mẫn không còn họ đã kể lặp đi, lặp lại những câu chuyện rời nát, chắp vá; Những lời khuyên dạy chán ngắt cùng với sự răn đe, dọa nạt cũ rích, vô ích. Hiển nhiên là những lời nói của người già sẽ không được thế hệ trẻ chú ý, lắng nghe và làm theo. Việc này khiến những người lớn tuổi thêm buồn bực, muộn phiền,… dẫn đến tâm trạng bị con cháu bỏ rơi, hắt hủi,... Tất cả những ức chế, dồn nén tinh thần càng làm cho người già cáu gắt, khó chịu,… Con cái lại bận rộn việc mưu sinh, không có nhiều thời gian quan tâm chăm sóc cha mẹ già. Sự buồn bực, lo nghĩ khiến những người già nhớ trước, quên sau, lầm lộn mọi việc là khởi đầu cho căn bệnh lú lẩn quái ác. Người lớn tuổi cho rằng mình đã từng trải trên đường đời và cố ý thể hiện quyền lực là người chủ gia đình qua việc ra sức áp đặt, trói buộc con cái phải làm theo những quyết định, yêu cầu của họ. Cụ thể, họ bức ép con cháu bỏ công ăn, việc làm về nhà chăm lo vườn tược, ruộng đồng,... Nhưng những người con vốn đang là một doanh nghiệp thành đạt, một bác sĩ, kỹ sư,… Thế nên họ chưa thể quay về theo ý muốn của cha mẹ già. Người lớn tuổi đã thể hiện sự độc đoán, chuyên quyền, tính gia trưởng bằng việc bán đất đai, ruộng vườn. Những người con sẽ ra sức ngăn lại, mâu thuẫn giữa hai thế hệ hình thành và làm cho cả hai thế hệ chuốc lấy đau khổ, hờn oán,… Việc lo nghĩ, muộn phiền, tính gia trưởng, việc cố thể hiện quyền làm chủ gia đình, sự oán hờn, giận dỗi,… đan xen trong trí não của người già. Tất cả các vấn đề trên càng làm cho suy kiệt thêm tinh thần và thể chất của người già vốn đã rệu rã, hao mòn theo dấu thời gian. Dần dần, người già trở nên si dại, đần ngốc, lú lẩn,…
Tại sao bà cụ dùng nước tiểu của chính mình để tắm rửa, uống ăn,…? Những lo nghĩ, muộn phiền đan xen đã khiến trí nhớ của bà cụ lầm lộn, quên lẫn. Ngay khi bà cụ tiểu tiện thì bà lại nhớ đến việc tắm rửa, ăn uống. Sự xáo trộn, lẫn lộn của trí óc khiến bà cụ dùng nước tiểu của chính mình như là một thứ nước uống hay là nước dùng cho tắm rửa. Tính hay quên và đôi mắt không còn tinh tường khiến người già lẩn không còn nhận ra đường về nhà. Không chỉ vậy, sâu thẳm trong tâm trí của bà cụ đã từng có ý định bỏ nhà đi vì bà cụ nhận ra “Trong mắt con cháu, bà chỉ là một bà già vô tích sự”. Sự buồn bã, hờn tủi, nuối tiếc,… đã nuôi lớn ý định rời bỏ lũ con cháu vô ơn, bất hiếu ở bà cụ.
Tại sao ông lão già khọm lại trần truồng bên cạnh đống phân gớm bẩn, ông lão dùng những ngón tay khô gầy nghịch đùa phân và nước tiểu, rồi ông lão lại dùng những ngón tay bẩn chà lên khuôn mặt nhăn nheo ngả màu thời gian, cả tấm thân gầy còm, run rẩy,…? Ông lão đã nhớ nghĩ, chất giữ hình ảnh đứa con thời thơ ấu, vô tri. Ký ức đứa bé trần truồng nghịch đùa phân và nước tiểu, ông đã ngăn đứa con chà xát những thứ bẩn dơ lên thân người ra sao? Nhưng đáng tiếc! Ông lão đã quên mất “Ông là ai?” Ông lầm lẫn, ngộ nhận “Bản thân ông là đứa bé thơ dại”. Không chỉ có vậy, ở ngay hành động nghịch đùa phân, chi trét những thứ bẩn dơ lên tấm thân trần trụi của ông lão có chứa đựng sự trả thù cho những oán hờn được chất giữ, nuôi lớn trong lòng. Mối oán hận này có từ đâu? Từ những khoảng thời gian trước khi ông già lẩn hoàn toàn. Từ những việc ông lão trói buộc con cháu mà chúng không thuận theo. Lúc đó, ông lão nhận biết mình đã già, không làm ra tiền nên cháu con không nghe lời. Ông lão nghĩ thầm “Đúng là có tiền mua tiên cũng được”. Ông lão tiếc rẻ “Giá như mình còn số tiền kha khá thì làm gì có đứa con ngỗ nghịch nào không chịu vâng lời”. Rồi thì ông lão nhận biết “Bản thân còn có đất đai, ruộng vườn”. Một ý nghĩ lóe lên “À, mình bán đất đai, ruộng vườn thì sẽ có tiền. Có tiền rồi thì con cháu sẽ nghe theo, đứa nào không nghe thì đói khổ mặc xác”. Nhưng những người con đã không cho ông lão làm việc đó. Dù rằng những người con đã phân bua, giải bày: Hiện tại, gia đình cũng đủ ăn, đủ mặc. Đất đai, ruộng vườn hãy nên để lại cho con cháu hoặc là làm “Của để dành” phòng ngừa khi có bệnh ngặt nghèo thì dùng đến. Tuy nhiên, ông lão nghĩ rằng “Mình là người từng trải, hiểu chuyện và chỉ khi có tiền trong tay thì mình mới khôi phục được quyền hành, là người chủ gia đình”. Thế nên ông đã cố chấp giữ ý riêng “Những người con không cho bán đất là muốn sang đoạt tài sản của ông. Chúng là những đứa con bất hiếu đã bức bách, dồn ép ông”. Mối hận trong lòng được nuôi lớn dần, ông lão oán hận chính những người con mà ông đã thương yêu, nuôi dạy cho khôn lớn. Mối oán hờn đã làm rạn nứt tình phụ tử cao quý, thiêng liêng. Ông lão nghĩ đến việc làm mất mặt, bêu xấu tội bất hiếu của con cháu trước xóm làng, dòng họ. Ban đầu là việc “Chửi chó, mắng mèo” và ông bà, tổ tiên. Tiếp theo, ông lão uống rượu, giả vờ say rồi khóc kể tội lỗi của con cái cho mọi người cùng biết; Ông lão lăn lê “đầu đường xó chợ”, mặc quần áo tanh hôi, rách bẩn nhằm bêu xấu con cháu. Con cháu ra sức khuyên ngăn còn mọi người thì dường như thờ ơ, chẳng quan tâm. Sự phẫn uất, căm giận và việc sa đà bia rượu mau chóng biến ông lão thành một người già lẩn si dại, đần ngốc, vô tri.
...
Tóm lại, tất cả những đè nén tinh thần - Việc nhớ nghĩ chất chứa, việc chấp giữ phiền muộn, lo toan, bực dọc,… sẽ khiến những người cao tuổi trở nên phẫn uất, già lẩn,… tạo ra những cảnh đời bi thương, thảm não. Những hình ảnh mà ở nơi đó sẽ khơi dậy sự thương cảm, chua xót,… trong lòng của bất kỳ một ai được một lần tận mắt chứng kiến. Đó là sự xót thương trĩu nặng lòng người.
Phải chăng tất cả những người cao tuổi đều bị căn bệnh già lẩn quái ác hành hạ, giày vò?
Không hẳn là tất cả người già đều trở nên si dại, lú lẩn, đần ngốc,... Tôi lại đi tìm hiểu nguyên do dẫn đến sự khác biệt giữa những người già lẩn và những người cao tuổi có đầu óc sáng suốt, tinh tường. Một sự khác biệt rõ nét về lối sống giữa hai nhóm người cao tuổi. Trong khi những người cao tuổi già lẩn có lối sống luôn chứa giữ lấy muộn phiền, lo nghĩ, thường xét nét can thiệp vào mọi việc; Thậm chí họ can thiệp cả vào những công việc mà gần như họ không hề biết chỉ với mục đích chứng tỏ sự từng trải, nhiều hiểu biết của bản thân,… thì những người già có tinh thần minh mẫn lại có lối sống bình thản, an nhàn. Qua tìm hiểu, tôi nhận biết “Những người cao tuổi ở nhóm người già có trí óc sáng suốt là những người học được cách sống biết dừng lại, biết buông bỏ những lo nghĩ”.

Vô Ưu- Một thoáng phương đông
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 11 11, 2018 7:03 am

tiếp theo.
--------------

Nhìn những người cao tuổi già lẩn khiến lòng tôi nặng trĩu. Tôi thật lòng muốn giúp họ thoát ra căn bệnh già lẩn quái ác nhưng biết làm sao khi đó chính là chọn lựa của những người cao tuổi khó tính, không mở lòng ra để sống tốt hơn. Tôi lại nhận biết được một phương pháp giúp người cao tuổi nâng cao trí nhớ, sự tập trung, giữ được sự cân bằng về tinh thần, giảm trừ bệnh tật, sức khỏe ổn định. Phương pháp ngồi thiền là trợ pháp hữu hiệu giúp người cao tuổi có được sự minh mẫn, sáng suốt,…
Những lúc rảnh rỗi, ít việc bạn hãy rèn luyện việc ngồi thiền. Việc ngồi thiền sẽ giúp thần trí bạn được ngơi nghỉ, cân bằng lại; Bạn có khoảng thời gian thoát ra khỏi những lo lắng, chộn rộn,… trong cuộc sống hàng ngày.
Phương pháp ngồi thiền căn bản gồm có 3 giai đoạn: Nhập, trụ, xuất.
1. Nhập thiền:
Bạn hãy chọn một nơi bằng phẳng, sạch sẽ, thoáng mát, kín gió. Đối với người cao tuổi thì hãy nên dùng một chiếc gối mềm đặt ở nơi ngồi. Ngồi lên chiếc gối, điều chỉnh thân hình ngay ngắn, giữ xương sống thẳng. Đầu hơi cúi về trước, mắt nhắm hờ, nét mặt bình thản, tự nhiên.
Có hai cách ngồi:
- Ngồi bán già: Nâng chân trái để lên phần đùi của chân phải hoặc ngược lại.
- Ngồi kiết già: Nâng chân trái để lên đùi chân phải, nâng chân phải để lên đùi chân trái, kéo gót bàn chân áp sát vào thân.
Đặt bàn tay phải nằm trên lòng bàn tay trái. Những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái vừa chạm nhau, đặt hai bàn tay nằm giữa lòng hai bàn chân.
Nếu lòng bàn chân bên nào trũng nên dùng khăn chêm vào cho bằng.
Dùng mũi hít không khí vào cơ thể và tập trung mường tượng “Không khí trong lành, sạch sẽ tràn khắp cơ thể làm cơ thể trở nên tươi mới, tràn đầy sức sống”. Sau khi nghĩ tưởng như vậy rồi thì thở ra bằng miệng, ngay khi thở ra lại tập trung mường tượng “Tất cả khổ đau, phiền muộn, bệnh tật đều được đẩy ra ngoài qua luồng khí được thở ra”. Thở như thế vài lần từ mạnh rồi đến nhẹ dần. Thở xong ngậm miệng lại, về sau cả việc hít và thở được thực hiện bằng mũi đều đều, nhè nhẹ.
2. Trụ
Có 3 bước căn bản mà người ngồi thiền phải rèn luyện thuần thục thì mới phát huy được hiệu quả tốt nhất của việc ngồi thiền.
Bước 1: Tập trung đếm hơi thở. Sau khi hít không khí vào rồi thở không khí ra bằng mũi bạn hãy dùng ý đếm 1; lại hít vào, thở ra bạn đếm 2; cứ tiếp tục như thế,… bạn đếm đến 10 thì đếm lại từ đầu với con số 1.
Trong quá trình đếm, bạn có thể bị nhầm lẫn số đếm thì đếm lại vòng đếm với con số 1. Sau một thời gian rèn luyện thuần thục thì bạn không đếm số nữa. Bạn hãy chuyển qua bước 2.
Bước 2: Sau khi điều hòa, ổn định hơi thở, bạn hãy tập trung chú ý, theo dõi luồng khí di chuyển trong cơ thể. Khi hít vào, luồng khí lưu chuyển đến đâu bạn hãy chú tâm nhận biết. Khi thở ra bạn cũng cảm nhận luồng không khí lưu chuyển ra sao?





Lưu ý: Bạn hãy giữ hơi thở nhẹ, đều, ổn định trong suốt quá trình ngồi thiền. Ở bước 1 và 2, bạn hãy dừng lại hết mọi suy tư, lo nghĩ,… để giữ sự tập trung đếm cùng việc theo dõi hơi thở một cách thuần thục. Việc làm chuyên tâm này sẽ giúp tinh thần bạn có được sự tập trung có chủ định, trí não khỏe mạnh, tinh tường, minh mẫn. Sau khi nhuần nhuyễn bước 1, 2 bạn hãy chuyển qua bước 3.
Bước 3: Bạn vẫn bắt đầu với việc đếm và theo dõi hơi thở. Sau khi điều hòa, ổn định hơi thở. Bạn hãy dừng lặng việc đếm và theo dõi hơi thở, buông bỏ hết tất cả mọi thứ chạy lăng xăng trong đầu. Bạn hãy giữ tâm an tịnh, bình thản. Lúc bấy giờ, bạn sẽ thấy nội tâm bạn luôn bị xáo trộn, trí não bạn luôn chạy theo mọi thứ điên đảo diễn ra hàng ngày. Chuyện vui buồn, được mất, hơn thua,… Việc đã qua - thời thơ ấu, lỗi lầm ngày trước,… Việc hiện tại - chuyện cơm áo gạo tiền,… Việc chưa đến - ngày mai đám cưới thằng Tí, ngày kia là ngày kị cơm của ông nội con Tèo,… cứ đan xen, nhảy loạn trong đầu. Bạn hãy tỉnh táo, bình thản nhìn những tấn tuồng bi hài của trò đời. Bạn sẽ nhận ra “Ngay thời điểm hiện tại bạn sẽ chẳng thể cùng lúc giải quyết tất cả mọi việc. Mọi việc rồi sẽ qua đi dù có hay không có sự sắp xếp của bạn”. Tôi nói “Mọi việc rồi sẽ qua đi dù có hay không có sự sắp xếp của bạn”, lời nói này có hợp lý không? Tôi sẽ đưa ra một ví dụ rất thực tế. Giả như bạn có dự định “Ngày kia bạn sẽ đi dự đám kị cơm ông nội của con Tèo thì về đêm trời trở lạnh, bạn không may bị tai biến và được nhập viện điều trị”. Dù rằng không có sự hiện diện của bạn thì ngày kị cơm của ông bạn hàng xóm vẫn tổ chức bình thường, điều này có thể xảy ra không? Do đó, bạn đừng quá coi trọng vai trò, sự hiện diện của bản thân vì bạn thật sự không là gì cả. Mạng sống của chính bạn, bạn còn không làm chủ được thì việc sắp đặt, làm chủ mọi việc có giá trị gì? Thế nên bạn đừng tìm về quá khứ vì quá khứ thì đã qua; Bạn cũng đừng tìm đến tương lai vì tương lai thì chưa đến và không một ai dám chắc rằng “Tại thời điểm tương lai đó, bạn còn sống hay đã chết”. Hãy sống tốt và trân quý cuộc sống ở hiện tại. Chấp nhận sự thật đó bạn sẽ bình thản đối mặt với những lo nghĩ, toan tính vẩn vơ. Bạn đừng chạy rong theo những ý nghĩ, những suy tư vì ngay tại thời điểm ngồi thiền bạn sẽ không thể giải quyết được bất kỳ một việc nào cả. Bạn cũng đừng cố xóa những ý nghĩ đó vì ngay khi ý nghĩ này mất đi thì sẽ phát sinh ý nghĩ khác. Tâm trí bạn luôn chộn rộn, đan xen mọi chuyện như thế. Từ trước đến nay, do mãi chạy theo cuộc mưu sinh mà bạn không nhận ra điều đó. Lúc bấy giờ bạn lại nhận ra “Bạn không thật sự làm chủ trí não của chính mình”. Nhận thức rõ như thế bạn sẽ bật ra câu hỏi “Vậy những nghĩ tưởng lăng xăng, những hình ảnh đã qua, những lo toan,… là gì? Tại sao bạn muốn dừng lặng lo toan, giữ đầu óc thảnh thơi mà chúng cứ chạy càn loạn làm cho tinh thần bạn mệt nhoài, rối trí?”. Những suy tư, lo nghĩ, tưởng nhớ,… chính thật là những kẻ trộm. Những tên trộm này sẽ trộm sức khỏe tinh thần của bạn, làm bạn mệt mỏi, chán chường, mất đi sự tỉnh táo, sáng suốt, minh mẫn. Bất kỳ ai khi làm việc trong điều kiện thiếu sáng suốt, mất tập trung,… sẽ dễ gây ra những việc không đúng, tạo nhiều lỗi lầm. Hiểu rõ như thế bạn sẽ phải khắc chế những tên trộm. Bạn không thể bắt hết lũ trộm này và cũng không cần bắt chúng. Vì khi bạn bắt một tên trộm thì đồng nghĩa với việc bạn phải giữ lấy tên trộm đó; Rồi lại có tên trộm khác lẻn vào, bạn đuổi bắt, giữ lại thì tiếp tục có thêm nhiều tên trộm khác vây quanh bạn. Bạn sẽ mệt nhoài với việc đuổi bắt, giữ mà tâm trí không dừng lặng được. Bạn không nên làm vậy. Bạn cứ bình thản, tỉnh táo, tập trung nhìn tên trộm; tên trộm sẽ tự biến mất. Việc này giống như là việc tên trộm muốn trộm của nhà người nhưng người chủ đã tỉnh táo canh giữ thì tên trộm sẽ phải rời đi và những tên trộm theo sau nhìn thấy ông chủ tỉnh táo cũng không dám bén mảng, dòm ngó nhà người nữa. Rèn luyện như thế lâu ngày dài tháng bạn sẽ có khoảng thời gian giữ tâm trí dừng lặng dài lâu thêm. Điều này đồng nghĩa với việc trí não bạn tỉnh táo, sáng suốt và có sự tập trung cao. Tuy nhiên, bạn cũng không thể giữ mãi tâm trí dừng lặng, những tên trộm vẫn quẩn quanh ngôi nhà của bạn. Vì thế bạn sẽ dùng sự tập trung tinh thần để khiến chúng biến mất hoàn toàn. Qua quá trình rèn luyện ít nhiều gì bạn cũng đã có thể kiểm soát được tâm trí, bạn hãy bắt đầu nhớ nghĩ có sự tập trung về những chuyện đã qua với những kí ức, hình ảnh, nghĩ tưởng,… tốt, hay, đẹp. Điều này giúp trí não bạn thư thái, thoải mái, an ổn. Khi kiểm soát tốt tâm trí, bạn hãy nhớ nghĩ về những chuyện không vui, những việc “Trái ý nghịch lòng” mà con cháu đã gây ra,… nhưng bạn đừng chìm vào trong sự buồn lo, sầu khổ. Bạn hãy đi tìm và bắt lấy những khía cạnh tốt dù là nhỏ nhặt trong những việc xấu xa đó để mà cảm thông, tha thứ, bỏ qua những lỗi lầm. Làm được như thế là bạn hoàn toàn thanh thản, thoát ra khỏi mọi ưu tư, phiền muộn. Làm thế nào để tìm ra mặt tốt trong lỗi lầm của con cái? Giả như trong một cuộc tranh cãi người con đã nặng lời xúc phạm, không nghe theo ý kiến của bạn. Điều này khiến bạn rất buồn, bây giờ bạn hãy xét lại vấn đề này ở góc đánh giá khác, tốt hơn. Thực tế là trước đó con bạn vẫn là người con biết vâng lời có lẽ việc tranh cãi khiến con bạn tức giận, đánh mất khả năng kiểm soát nên đã nói lời sai quấy, cay độc. Con cái làm theo ý riêng thể hiện việc chúng đã có ý thức tự lập, khôn lớn. Dù rằng theo đánh giá của bạn thì việc con bạn cố làm chắc rằng chuốc lấy thất bại nhưng những vấp ngã bước đầu sẽ giúp con bạn trưởng thành, mạnh mẽ hơn. Vì bạn rõ biết sự từng trải mà bạn có được cũng chính là kinh nghiệm của những lần thất bại trước đó và học được ở trường đời,… Hoặc là con cái từ bỏ, xua đuổi bạn. Hiển nhiên bạn sẽ rất tức giận, đau lòng và oán hận những đứa con bất hiếu, vô ơn. Nếu bạn vẫn chấp giữ những ý nghĩ đó thì bạn khổ đau hơn và tinh thần bạn sẽ suy sụp. Sự căng thẳng thần kinh sẽ kéo theo nguy cơ tai biến, nhồi máu, đột quỵ,… tìm đến bạn. Bạn hãy chuyển dịch ý nghĩ sang hướng tốt hơn. Việc con bạn ruồng bỏ bạn rõ thật là việc làm sai nhưng tại sao con cái lại hành xử tệ bạc? Bạn hãy xét lại “Phải chăng bản thân bạn cáu gắt, khó ăn khó ở, trái tính trái nết,… khiến con cháu phải xa lánh?”. Nếu thật sự bạn đã sai thì bạn hãy sửa đổi, không bao giờ là muộn cho việc sửa sai lỗi lầm; Nếu con bạn sai thì bạn hãy tha thứ cho con trẻ, sống bình thản. Nếu có thể bạn hãy chân thành nghĩ về những việc hay, hãy nói những điều tốt của con bạn, đừng bêu xấu tội bất hiếu của con cháu. Bởi lẽ chúng là con cháu bạn, chúng không phải là kẻ thù của bạn. Có lẽ con bạn hãy còn trẻ dại, thời gian chúng sẽ lớn lên và việc nuôi dạy con góp phần giúp chúng hiểu rõ tấm lòng của bạn,… Bạn phải rõ biết “Bạn tìm cách hóa giải những chuyện buồn đau không phải chỉ vì con bạn mà vì chính bản thân bạn”. Sự bao dung, tha thứ, vị tha,… sẽ nuôi dưỡng sức khỏe tinh thần của bạn. Khi tất cả những gút mắc, vướng bận, chuyện vui buồn,… trong lòng tan biến thì bạn mới thật sự làm chủ được nội tâm, tâm hồn của bạn. Bạn sẽ có được tâm trạng an lạc, thanh thản.
3. Xả thiền:
Trước khi dừng việc ngồi thiền, bạn dùng mũi hít vào và thở ra bằng miệng vài ba lần (hơi thở từ nhẹ đến mạnh dần). Sau đó, bạn cần làm những động tác xoay chuyển giúp cơ thể giảm những tê mỏi, căng cứng và khí huyết lưu thông bình thường trở lại. Ban đầu thả lỏng thân, xoay người, xoay hông, cổ qua lại. Tiếp theo dùng hai tay chà xát lẫn nhau, dùng tay chà xát vào vùng hông, vùng cổ, mặt, đầu, vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau tạo ra hơi nóng rồi áp hai bàn tay lên đôi mắt. Thao tác này giúp tinh thần tỉnh táo, mắt sáng tỏ hơn và trị được một số bệnh thông thường ở mắt nếu được thực hiện thường xuyên. Duỗi thẳng chân và dùng hai tay xoa bóp hai chân giúp chân không còn tê mỏi. Kết thúc việc ngồi thiền.
Việc xả thiền tùy thuộc vào thời gian ngồi thiền. Nếu chỉ ngồi trong khoảng thời gian ngắn mà có việc gấp cần làm thì bạn chỉ xoay chuyển thân người, hông, cổ, co duỗi chân vài lần là có thể đi lại bình thường. Nhưng khi thời gian ngồi thiền lâu bạn nên chú ý làm tốt, thực hiện kỹ các thao tác xả thiền thì việc ngồi thiền mới đạt hiệu quả cao nhất. Bạn không nên làm thao tác xả thiền qua loa, đại khái rồi đứng lên, bước đi ngay bạn sẽ bị té ngã vì hai chân tê buốt. Thao tác dùng tay chà xát cơ thể cần mạnh nhưng không gấp, cứ thong thả trong từng thao tác.

Nếu có thể bạn hãy sắp xếp việc ngồi thiền hai buổi mỗi ngày với những thời điểm cố định nhằm nâng cao khả năng tập trung tinh thần, làm chủ được các trạng thái tâm lý, cảm giác của bản thân,… Ban đầu, bạn sẽ không thể ngồi lâu vì thế bạn hãy bắt đầu làm quen dần với 20 phút cho một buổi ngồi thiền. Sau đó tăng dần thời gian ngồi thiền lên nhưng cũng đừng cố gắng, gò ép bản thân quá mức. Cốt yếu cho buổi ngồi thiền thành công là ở việc bạn dừng lặng mọi suy tư, lo nghĩ. Ngồi thiền là phương pháp tốt giúp bạn hàm dưỡng nội tâm, nuôi dưỡng sức khỏe thể chất và trí não,… Trạng thái tĩnh tại, dừng lặng của thiền định sẽ giúp bạn khai mở, nâng cao sự hiểu biết về cuộc sống; Sự hiểu biết này ẩn chứa và sẵn có trong tâm hồn bạn, bạn sẽ không học được sự hiểu biết lợi lạc này từ bên ngoài. Tôi vốn là người vụng về, kém trí, ít hiểu biết về cuộc sống. Vì không hiểu biết nhiều nên tôi chập choạng bước trên đường đời. Việc thiền định đã giúp tôi khai mở sự hiểu biết, giúp tôi vững tin đối mặt lòng người đa đoan, muôn lối với một nụ cười bình thản nở trên môi.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 12 23, 2018 9:21 am

KHÔNG MỞ LỜI, NGƯỜI BẢO "ĐỒ CÂM"

Cù Huy Hà Vũ, Bloger Trương Duy Nhất, Nguyên Kha, Phương Uyên,… và còn ai, còn ai nữa,… đã được đưa đi tạm giam, chờ xét xử hoặc đã khép lại một phần đời nơi song sắt chốn lao tù.
Có những lời ong, tiếng ve cho những con người bị coi như những kẻ lầm đường, lỡ bước. Tội chống phá nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nghe chừng là tội trọng. Nếu không có sự chi phối của cộng đồng quốc tế thì những tội nhân chính trị dễ thường phải gánh chịu những đòn trừng phạt nặng nề. Thậm chí một cái chết đớn đau để răn đe và được gọi là cái giá đền trả cho những tội lỗi đã gieo.
Nhưng thực ra họ đã phạm tội gì?
Cù Huy Hà Vũ, Trương Duy Nhất, Nguyên Kha, Phương Uyên,… vốn không phải là thành phần thất học, ngu dốt, họ là thành phần trí thức có hiểu biết. Và… có lẽ ở đâu đó vang lên câu nói “Họ là trí sĩ yêu nước”. Nghe chừng có vẻ khôi hài “Trí sĩ yêu nước” mà sao lại phải nhận lấy bản án của tù nhân chính trị trong một đất nước độc lập, tự do và ở thời bình.
Tội chống phá nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tội danh được thành lập cho những việc mà Cù Huy Hà Vũ, Nguyên Kha, Phương Uyên,… đã làm.
Tại sao những người trí thức, có nhiều hiểu biết lại hiến dâng đời mình cho hành động được cáo buộc là phản bội đất nước, phản bội dân tộc?
Lẽ nào sự hiểu biết mà họ được học hỏi qua trường lớp, xã hội không đủ để họ nhận thức được “Thế nào là đúng? Điều gì là sai?”…
Phải chăng nhận định họ phục vụ cho mục tiêu phản bội dân tộc, đất nước là một nhận định có ít nhiều khiếm khuyết, mang tính cục bộ, chủ quan…?
Tại sao họ - những người mang trên mình cáo trạng “Tội chống phá nhà nước chủ nghĩa” lại hành động cục bộ, đơn lẻ, thiếu liên kết,… dễ dàng bị “thộp cổ” và không có nhiều khả năng kháng cự?
Lẽ nào sự hiểu biết của họ không giúp họ nhận thức được rằng “Trong bối cảnh xã hội hiện tại của Việt Nam thì việc tiến hành hoạt động đấu tranh chống phá Đảng cộng sản, lật đổ chính quyền nhà nước Việt Nam là một việc làm gần như bất khả thi; Việc làm đó còn khó hơn việc hái sao trên trời. Vì lẽ hệ thống chính trị - công quyền Việt Nam là khá vững chắc, lực lượng an ninh được tổ chức chặt chẽ, chính quy, bài bản từ trung ương đến địa phương và điều đặt biệt là bản chất cố hữu của người Việt vốn không “máu me” chính trị; đã từ lâu người Việt chỉ sống an phận không ham tranh đấu cho mục tiêu, đường lối phát triển, xây dựng xã hội, đất nước,… Thế nên ý tưởng lật đổ chính quyền là một ý tưởng tồi trong bối cảnh xã hội Việt Nam hiện tại.
Vì thế, nếu bảo những người đang mang cáo trạng chống phá nhà nước Việt Nam sẽ là điều khiên cưỡng, gượng ép. Có thể trong số họ có những người hãy còn trẻ người, non dạ và bị lôi kéo, xúi giục bởi một thành phần phản động thật sự, có thể họ đã bị thao túng, giật dây bởi một tổ chức chống phá chính quyền đảng cộng sản Việt Nam nhưng không thể là tất cả.
Và … (Nếu có một số người bị thao túng, lôi kéo) thì tại sao họ không thành khẩn công khai lực lượng, tổ chức xúi giục, chống lưng cho họ để thoát khỏi hoặc giảm nhẹ án tù? Phải chăng họ đang sống và làm việc theo lý tưởng? Vậy lý tưởng đó là gì? Là đúng hay sai? Vì cá nhân họ hay vì ai?... Đó là những câu hỏi cần được đặt ra và giải quyết rốt ráo nhằm ngăn chặn hoặc chấm dứt những tòa án xét xử những người sống cho lý tưởng về sau.
Những người trí thức, có hiểu biết ít nhiều gì họ cũng có lập trường, cách nhìn nhận vấn đề bằng chính tư duy của họ. Không có lý nào tất cả họ đều bị xỏ mũi cũng như không nhận thức được vấn đề “Lật đổ chính quyền hiện tại là nhiệm vụ bất khả thi”. Thế nên, hãy xét xem họ đang làm vì điều gì?
Tôi đã từng nghe về Cù Huy Hà Vũ, Trương Duy Nhất, Nguyên Kha, Phương Uyên,… với một thái độ dửng dưng, vô cảm. Tôi và họ là những người xa lạ; họ bị bắt giữ vì can tội chống phá nhà nước Việt Nam. Đã có một luồng suy nghĩ thoáng trong tôi, họ chỉ là những con người làm việc duy ý chí, chủ quan, hoạt động manh múng, cục bộ, đơn lẻ mà không có một tổ chức vững mạnh, chính quy; họ thật chẳng đủ mạnh để chống phá, lật đổ chính quyền như tội danh mà họ “mang vác” trên người.
Trương Duy Nhất là một bloger, một người viết blog cũng can tội phá hoại nhà nước Việt Nam và không chỉ có một bloger Duy Nhất đã từng bị quản thúc. Có lẽ sẽ có một ngày vì viết blog mà tôi sẽ bị bắt. Thế nên, tôi sẽ xét lại điều gì đã xảy ra với Cù Huy Hà Vũ, Trương Duy Nhất, Nguyên Kha, Phương Uyên,… kẻo một mai tôi cũng đứng sau song sắt và ngu ngơ không hiểu “Vì sao và vì sao?”.
Tuy nhiên, tôi vốn là một kẻ lười biếng. Nếu truy nguyên tất cả mọi việc thì biết đến bao giờ. Thêm nữa, thâm nhập vào blog Trương Duy Nhất thì nguy cơ bị vi rus, sâu computer Trương Duy Nhất tấn công máy tính thì khổ. Được biết Trương Duy Nhất là bloger viết về chính trị thì trên mạng trang blog dạng này không thiếu. Tìm hiểu sơ bộ thì nhận diện được những bài viết về chính trị, phân tích đường lối chính sách nhà nước có phần rát, cực đoan và quá khích. Phần lớn nội dung bài viết phân tích chính trị chỉ ra những điểm sai có phần chủ quan, thiếu tầm mà không có sự cảm thông, chia sẻ, góp ý. Chỉ ra những sai lầm mà không có sự góp ý sửa sai đúng mực thì chỉ làm rối việc, gây nhiễu loạn lòng người và xã hội. Đôi khi những bài viết lại rơi vào cực đoan, quá khích, lối thoát cho vấn đề đặt ra không có thì bươi móc vấn đề ra để được gì? Có chắc rằng khi đặt bạn vào vai trò, vị trí đó bạn sẽ làm tốt, hiệu quả hơn không hay lại khiến cho sự việc trở nên tồi tệ hơn… Và những nhận định, đánh giá, phân tích vấn đề của bạn phải chăng đã thật sự khách quan, tổng thể và đúng mực? Về sự hiểu biết mỗi người sẽ có những giới hạn nhất định thế nên người viết blog cần nên không tự ý đánh giá bằng thiên kiến cá nhân. Thế nên những câu hỏi mở, những lối thoát cần được vạch ra để số đông người đọc nhận định thì có lẽ sẽ hợp lý hơn. Hơn nữa, vấn đề đặt ra nơi bài viết là những chia sẻ, đóng góp chứ không chỉ tập trung vào việc chỉ trích, xuyên tạc,... hay tô hồng vấn đề thì hẳn bài viết sẽ hợp lý, có giá trị hơn. May ra với nội dung như thế thì bloger mới tránh khỏi việc bị khoác chiếc áo phản động, chống phá nhà nước lên người và không phải ngồi bóc lịch nơi chốn lao tù.

Còn nhớ ngày tôi nghe trên tivi nói việc Nguyên Kha, Phương Uyên bị bắt do việc viết, rải truyền đơn thì tôi cũng chỉ nghĩ rằng “Khi đem họ ra xét xử thì phiên tòa có công khai minh bạch nội dung những tờ truyền đơn mà họ đã viết và đồng ý việc phản biện khách quan trước bàn dân thiên hạ hay không?” và rồi cười nhạt. Rồi thì cũng qua, bẵng đi ít lâu vụ Nguyên Kha, Phương Uyên được đem ra xét xử mà tôi chẳng buồn để ý đến. Tình cờ vào mạng tôi lại thấy bài viết “Yêu nước, phạm tội gì?” nên lấy làm hiếu kỳ, tò mò. Vào xem thì mới hay là vấn đề liên quan đến Phương Uyên, Nguyên Kha. Hay cho cái tiêu đề “Yêu Nước, Phạm Tội Gì?”. Và người viết đã đưa ra những luận chứng thể hiện việc bảo vệ Phương Uyên, cũng hay những trí thức trẻ sống cống hiến đã có người đồng cảm. Trong nội dung bài viết còn trích dẫn lời phát biểu đanh thép của Phương Uyên có nội dung đại loại là “Tôi sống vì tình yêu đất nước, tôi đã làm gì sai, tôi đã phạm tội gì?”. Thế là tôi nghĩ Phương Uyên có tội do cống hiến tình yêu đất nước.
Rồi thì … tìm hiểu thêm được biết Phương Uyên có sở hữu một hình vẽ là cờ vàng có 3 sọc đỏ, 2 mảnh giấy viết bằng chẳng rõ máu hay màu; (Nếu là máu) thì máu gà hay máu cá,… với những lời lẽ không hay về nhà nước Việt Nam và Đảng cộng sản Trung Quốc (Chỉ biết thế thôi, không hay chỗ nào không được nói rõ. Thế nên khó đánh giá đúng sai); người viết sau khi phân tích chủ quan đã đưa ra nhận định “Chẳng Cấu Thành Tội Phạm”. Nếu chỉ nhìn nhận cách phân tích của người viết thì dễ nhận thấy thiếu hẳn tính khách quan, có phần bao biện, bào chữa vụng về. Bởi lẽ người biết đến lá cờ vàng 3 sọc đỏ ở độ tuổi của Phương Uyên vào thời điểm hiện tại là gần như không có.
Tôi đã 35 tuổi đời mà rất hiếm khi nhìn thấy một lá cờ vàng 3 sọc đỏ và gần như không mấy chú tâm về một dĩ vãng đã xa. Thế nên để vẽ và giữ lá cờ đó hẳn là không thể là tư duy nông nổi hay việc chấp giữ ký ức về một thời đã qua,… ở những người trẻ tuổi. Người viết đã bao biện việc sở hữu hình vẽ một lá cờ 3 sọc đỏ không thể cấu thành tội danh. Nghe có vẻ cũng đúng bởi lẽ trong trang sách lớp 1 có cả lá cờ Trung Quốc, sử sách đâu thiếu gì là cờ Mỹ, cờ Pháp,…
Tuy nhiên, nếu lá cờ đó được sở hữu bởi một người nhiều tuổi thì có thể khiêng cưỡng nhìn nhận họ đang hồi tưởng về miền ký ức. Đằng này, những người trẻ tuổi đang gìn giữ lá cờ đó thì hẳn là họ đang ôm ấp một lý tưởng, mục tiêu nào đó.
Và đơn giản nhất để rõ biết vấn đề là hãy hỏi họ “Tại sao họ giữ lá cờ 3 sọc đỏ? Họ biết gì về lá cờ đó? Phải chăng họ đang ôm ấp hy vọng “đổi mới” lá cờ hiện nay bằng việc sử dụng lại hình ảnh lá cờ cũ? Họ được gì khi theo đuổi lá cờ 3 sọc đỏ? Đó là lý tưởng của họ hay do họ bị lôi kéo bởi một thành phần nào đó?... Có rất nhiều câu hỏi được đặt ra và nếu sống hiểu biết, chân thành người hỏi sẽ rõ biết tất cả những điều gì mà họ muốn biết.
Tôi muốn nói điều gì?
Phương Uyên tự mình không thể làm những điều đã làm.
Có lẽ đã có một tổ chức đứng sau giật dây và nếu không kéo Phương Uyên trở lại thì khó có thể biết kẻ chủ mưu là ai?
Xét xử Phương Uyên vào tội trọng sẽ khiến lòng người không phục và kéo theo những phản kháng bất lợi, ngoài ý muốn. Ở một mức độ nào đó, có thể nói Phương Uyên chỉ là một con cờ và người chơi cờ sẵn sàng vứt quân cờ khi giá trị quân cờ bị mất. Trên thực tế giá trị quân cờ Phương Uyên tạm không còn hữu dụng trên bàn cờ nhưng ở ngoài bàn cờ thì vẫn còn giá trị lợi dụng thể hiện qua việc “Yêu Nước, Phạm Tội Gì?”.
Nếu không nắm bắt được gốc thì mai này sẽ có thêm rất nhiều Nguyên Kha, Phương Uyên,… và nhà tù không thể mãi tiếp tục dựng lên để giam giữ những người trẻ tuổi, đầy nhiệt huyết, sức sống.
(Còn tiếp)

Vô Ưu - Một thoáng phương đông.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về Linh Tinh

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến0 khách

cron