Hành trình khám phá bản thân

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 2 Tháng 1 16, 2017 10:42 am

Những câu hỏi thường gặp về Thôi miên.

CÂU HỎI 01:

Thôi miên thực sự là gì?

TRẢ LỜI:

Từ “thôi miên” bắt nguồn từ chữ “Hypnos” dịch từ nghĩa tiếng Hy Lạp sang tiếng Việt là “ngủ”. Tuy nhiên, trạng thái thôi miên không thật sự liên quan đến giấc ngủ, mà giống như một trạng thái nằm giữa trạng thái ngủ và thức.

Trong khi cơ thể của chúng ta đi vào trạng thái thôi miên, thì tinh thần được giải toả, cơ thể thư giãn, cảm giác thanh thản, bình tĩnh, không còn sợ hãi hay lo âu, buồn phiền. Trạng thái thôi miên rất quan trọng và cần thiết để phát triển trí tưởng tưởng, tính sáng tạo.

Nếu chúng ta đã biết cách làm chủ được trạng thái thôi miên, thì sự tự nhận thức lúc đó sẽ thay đổi theo chiều hướng tích cực, có chủ đích trước. Đồng thời, các hình ảnh trong quá khứ thường xuyên xuất hiện, cũng giống như các hình ảnh mơ ước, các ý tưởng, ý nghĩ mà người được thôi miên vào thời điểm đó đang đặc biệt quan tâm… cũng sẽ xuất hiện.

Trong quá trình cơ thể ở trạng thái thôi miên, người ta vẫn có cảm nhận rõ rệt về địa điểm, không gian và thời gian, cũng như những sự việc đang diễn ra bên cạnh họ lúc đó. Nhưng dưới tác động và sức mạnh của ám thị, họ không để cho những tác động bên ngoài có thể gây ảnh hưởng hoặc tác động vào những suy nghĩ và tinh thần của họ lúc đó (hoàn toàn tỉnh táo). Khi con người ở trạng thái ý thức bình thường, thì lúc nào chúng ta cũng có thể cùng lúc nhận thức, và cảm nhận những tác động và các kích thích khác nhau của môi trường xung quanh. Còn khi ở trạng thái được thôi miên, thì ý thức chỉ nhắm vào một loại hoặc một ý tưởng nhất định, do đó người ta ít nhiều được tách ra và không còn bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh nữa. Những kích thích bên ngoài lúc đó đối với chúng ta dần dần trở nên không quan trọng.

Trạng thái thôi miên gắn liền với sự yên bình, hài hoà trong nhịp điệu nội tâm. Tạo nhịp thở nhẹ nhàng, đều đặn, chậm rãi, hoạt động tim mạch và hệ tuần hoàn được cân bằng (nhịp tim, huyết áp). Việc căng thẳng cơ bắp trên toàn bộ cơ thể được giảm tới mức tối đa, các mạch máu giãn ra, khí huyết lưu thông, khả năng tạo một số phản ứng tiêu cực trên cơ thể giảm xuống, kết quả xét nghiệm máu thay đổi, hàm lượng hóc môn stress giảm xuống rõ rệt.

*****

CÂU HỎI 02 :

Tại sao tự thôi miên lại có thể chữa được bệnh?

TRẢ LỜI:

Trạng thái tự thôi miên chính là trạng thái cơ thể ổn định nhất. Trong trạng thái này mọi suy nghĩ (tự ám thị) của con người sẽ tác động đến cơ thể nhiều nhất và mạnh nhất. Trong trạng thái thôi miên, cơ thể và tinh thần của chúng ta thư giãn và thanh thản, khí huyết và kinh lạc điều hòa, lưu thông, năng lượng sinh học của cơ thể cũng tự động điều hòa, mọi hệ thống chức năng trong cơ thể hoạt động ổn định và đúng nhịp… Cũng chính bởi vậy mà ngay cả khi chúng ta chỉ có tự thôi miên để ổn định cơ thể, thì nhiều chứng bệnh đã có thể tự khỏi. Và khi biết dùng những ám thị trị liệu, thì chúng ta còn có thể dùng ý nghĩ để tự trị liệu cho mình trong trạng thái tự thôi miên như làm tan khối u, hay cắt đau…

Phương pháp tự thôi miên, không chỉ được dùng để tự chữa bệnh một cách rất hiệu quả, mà còn là một phương pháp phòng bệnh hiệu quả nhất.

*****

CÂU HỎI 03:

Thôi miên có thể chữa được những bệnh gì?

TRẢ LỜI:

Tại Đức, thôi miên được phép sử dụng để trị liệu cho tất cả các loại bệnh. Tất nhiên, vẫn cần các liệu pháp điều trị khác kết hợp để tối đa khả năng tự điều chỉnh và phục hồi của cơ thể. Điều mà chúng ta đã biết đó chính là tất cả các loại thuốc, các loại thực phẩm chức năng, các liệu pháp điều trị khác đều không trực tiếp chữa lành bệnh, mà chỉ là gián tiếp tạo điều kiện thuận lợi cần thiết cho cơ thể, để cơ thể (và các tế bào) tự điều chỉnh, phục hồi và tự chữa lành bệnh. Cơ thể của chúng ta mới chính là thầy thuốc thực sự.

*****

CÂU HỎI 04:

Tại sao tôi cần phải hiểu và ứng dụng được trạng thái thôi miên?

TRẢ LỜI:

Với mỗi con người, trạng thái thôi miên diễn ra nhiều lần mỗi ngày, nhưng chúng ta không biết đó là trạng thái thôi miên, và không biết những tác động tích cực- hoặc tiêu cực mà suy nghĩ (ám thị) có thể gây ra trong trạng thái đó. Chính trong trạng thái thôi miên, bộ não của chúng ta mới có thể sáng tạo được, và những suy nghĩ tác động đến chúng ta nhiều nhất.

Khi chúng ta đang trong trạng thái thôi miên, nếu như may mắn đúng lúc đó chúng ta suy nghĩ tích cực, thì sẽ tác động vào bộ não và cơ thể của chúng ta, làm cho chúng ta khỏe mạnh và hạnh phúc. Nhưng nếu chẳng may chúng ta lại đang có những suy nghĩ tiêu cực (tạp niệm, phiền muộn, giận hờn,…) thì cả tinh thần và cơ thể chúng ta đều bị ảnh hưởng. Trong nhiều trường hợp thì sự ảnh hưởng đó không chỉ có đơn thuần là tác động vào sức khoẻ mà thậm chí còn gây nguy hại tới cả tính mạng (còn gọi là “tẩu hỏa nhập ma”).

Khi tham gia khóa “Khơi nguồn sức sống mới” hoặc bất kỳ một khoá nào của Trung tâm, học viên đều được học và nhận biết trạng thái thôi miên, được học phương pháp tự thôi miên. Bởi vậy các học viên đều hiểu được trạng thái thôi miên là gì, lúc nào cơ thể chúng ta trong trạng thái thôi miên, những ám thị nào là ám thị tích cực (suy nghĩ), những ám thị nào là ám thị tiêu cực…

Khi chúng ta đã làm chủ được trạng thái thôi miên thì chúng ta sẽ biết trong lúc đó cần phải nghĩ như thế nào, để không những không có tác động tiêu cực xảy ra với chúng ta, mà ngược lại còn sử dụng trạng thái này để lập trình ngôn ngữ thần kinh (NLP), cài đặt tư duy tích cực, để cho chúng ta có thể hạnh phúc, khỏe mạnh và thành đạt như mong muốn.

*****

CÂU HỎI 05:

Tự luyện thôi miên bằng cách ngồi thiền và đọc thần chú được không?

Tôi có học được Phương pháp Thôi miên ở trên mạng Internet, theo như tôi biết thì đây là một Phương pháp cổ, bí truyền đã có từ lâu đời , nhưng tại sao tôi luyện mãi mà không được, cứ mỗi khi ngồi thiền để luyện thôi miên, tôi đã đều tìm những nơi yên tĩnh và đọc đúng câu Thần chú mà tôi đã được học, nhưng tôi vẫn thấy mình hoàn toàn tỉnh táo và không vào được trạng thái Thôi miên, tôi có làm thiếu, hoặc sai điều gì không?

TRẢ LỜI:

BẠN ĐANG LÀM KHÔNG CHỈ THIẾU MÀ CÒN SAI !

Thiếu, là thiếu cách nhìn đúng đắn và chưa hiểu Thôi miên là gì? Học cách Tự thôi miên, là học cách để dành toàn bộ sự tập trung vào bên trong và học cách để tự kiểm soát cơ thể của mình(có nghĩa là đi vào bên trong). Học cách ngắt không để những tác động xung quanh ảnh hưởng tới sự tập trung của mình.

Học cách tĩnh tâm và dùng cảm xúc để kiểm soát và làm chủ mọi hoạt động của cơ thể. Học cách lập trình Vô thức và kích hoạt các giác quan trong cơ thể. Học cách biết ngắt bỏ cảm xúc tiêu cực và học cách để thư giãn cơ thể và ổn định tinh thần bất cứ lúc nào… Chứ Thôi miên không phải là một Phép thuật để chúng ta ngồi đọc Thần Chú.

Phép thôi miên hay là năng lượng thôi miên, đã từng có một thời, người ta những tưởng như vậy. Người ta đã từng phải luyện chú, luyện mắt, ngồi để thu năng lượng của Đại vũ trụ…Nhưng vào Năm 1780 thì Hoàng Đế Nước Pháp: Ludwig XVI, đã lập ra một Ủy ban đặc trách để kiểm tra Năng lượng và Phép thuật Thôi miên của ông Mersmer… Cũng từ ngày đó người ta đã tìm ra và biết rằng chính ông Mersmer đã hoàn toàn bị lầm tưởng. Bởi, Thôi miên tuyệt đối không phải là Phép thuật, và cũng không phải là một năng lượng siêu nhiên, đặc biệt nào được phát ra từ các Chuyên gia.

Cũng từ ngày đó thì người ta, và ngay kể cả ông Mersmer cũng đã biết rằng, chính ông Mersmer đã chỉ có sử dụng Ám thị để chữa bệnh…(Sau này khi nghiên cứu thì các nhà khoa học còn tìm ra rằng, những bệnh nhân của ông Mersmer đã khỏi bệnh, không chỉ do ám thị, mà còn do sức mạnh của hiệu ứng Placebo).

Sai, là sai ở quan điểm học! Thôi miên thật ra có lẽ đã có từ ngày có loài người tới nay, nhưng tùy theo từng Tôn giáo và tùy theo từng Tín ngưỡng để người ta gọi, và đặt tên cho nó như thế nào, cũng như sử dụng nó vào việc gì… Những phát minh sơ khởi, cơ bản của ông cha ta ngày ấy, đã là những tiền đề cho việc nghiên cứu của các nhà khoa học ngày nay.

Điều đáng quý của những phát mình sơ khởi, của ông- cha chúng ta là ở chỗ, nó đã trở thành tiền đề, để cho chúng ta ngày nay nghiên cứu và mở rộng, chứ nó không đồng nghĩa với việc là , những kiến thức “Rất cổ” ấy tốt hơn những phương pháp đã được nghiên cứu, giải mã và mở rộng ngày nay…

Dựa vào những phát minh căn bản, sơ khởi, như con người chúng ta đã bắt đầu nghiên cứu từ “Khẩu súng Thần Công“ ngày nào, để cho ngày hôm nay chúng ta đã có những Quả tên lửa bay xuyên lục địa…

Quy luật phát triển của khoa học và loài người nói chung đã được đúc kết là như vậy! Không phải cứ phương pháp bí truyền cổ đại nào, cũng là đúng, là tốt và có thể vượt qua được những khám phá và nghiên cứu khoa học ngày nay…

Riêng về thôi miên, ngày nay tại Châu Âu, những sách viết về chuyên nghành Thôi miên rất nhiều, nhưng phần lớn là viết sách để kinh doanh… Sách và những thông tin trên mạng Internet viết về thôi miên, thật ra chỉ là những tài liệu tham khảo, chứ dựa vào sách như những cuốn sách giáo khoa để học thì không dễ.

Thôi miên, là dùng chính những sức mạnh của cảm xúc, của sự hình dung, của đức tin của chính mình để làm cho mình thay đổi. Nhưng thay đổi về đâu? Về hướng tiêu cực, hay tích cực?

Ngày xưa, khi mà người ta nghĩ thôi miên là một phép thuật, thì người ta cần phải tìm đến một Thầy pháp sư tài ba, nổi tiếng và xin làm Đệ tử…Ngày nay, khi chúng ta đã biết là thôi miên không phải là phép thuật. Chúng ta đã biết rằng, sức mạnh của thôi miên chính là sử dụng trạng thái Thiền, để phát huy khả năng và sức mạnh của chính mình, thì chúng ta lại cần phải tìm và được học ở một nơi, hoặc ít nhất cũng là của một người thực sự hiểu biết và làm chủ được thôi miên.

Dùng ý nghĩ để tự làm cho mình khỏe được, thì cũng có thể dùng ý nghĩ để làm cho mình yếu, mình thất bại… và thậm chí đến cái chết được. Tự thôi miên mình theo chiều hướng tiêu cực, đã một thời người ta gọi là: Tẩu hỏa nhập ma (Trong trạng thái thôi miên, tức là trạng thái thiền, nếu ta nghĩ là: chúng ta cần phải để cho đầu óc trống rỗng, và không được nghĩ gì, chính là chúng ta đang ám thị cho trí nhớ của chúng ta kém đi, thậm chí xóa cả bộ nhớ…).

Riêng tôi, tôi không bao giờ tư vấn, hoặc ủng hộ cho bất cứ ai, tự học thôi miên trên mạng Internet hay tự học qua những quyển sách dịch (mà phần lớn người dịch cũng không hiểu rõ từ ngữ đó nhằm chỉ trạng thái gì)!

*****

CÂU HỎI 06:

Nếu đúng là thôi miên có hiệu quả chữa bệnh cao thì tại sao liệu pháp này lại chưa được khoa học công nhận?

TRẢ LỜI:

Liệu pháp Thôi miên, đã được khoa học công nhận từ lâu (Hiệp hội Y tế Anh Quốc từ năm 1955, Hiệp hội Y tế Hoa Kỳ từ Năm 1958, Hiệp hội Y tế CHLB Đức từ năm2006,.v.v.. Điều này nếu muốn, thì Quý vị có thể viết mail để tham khảo tại Đại Sứ Quán của các nước này, tại VN), mà nó còn được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực Y tế.

Sử dụng “Thuốc trung tính”- giả dược trong điều trị, chính là sử dụng hiệu ứng và tác dụng của Thôi miên (Thuốc Placebo). Trước khi bất kỳ một loại Thuốc Tây nào được cấp giấy phép để đưa ra thị trường, thì nó đều phải được đem ra thí điểm và so sánh với “Hiệu ứng Thôi miên”, tức là so sánh với Hiệu ứng Placebo. Như vậy có nghĩa là Hiệu ứng Thôi miên không những đang sử dụng rộng rãi, mà từ lâu nó đã là CÁN CÂN để quyết định cho một loại thuốc mới, có được phép lưu hành hay không! Cũng chính vì điểm này mà mới có việc làm sai kết quả so sánh, nhằm mục đích trục lợi cho ngành công nghiệp sản xuất thuốc tây (Pharma Industrie).

Mới đây tại CHLB Đức, Tổng công ty Bảo hiểm sức khỏe AOK và Hiệp hội Bác sỹ và các nhà trị liệu, còn yêu cầu nghành Y tế nước này phải đưa vào sử dụng 2/3 thuốc Placebo, nhằm bảo vệ sức khỏe và tránh những tác dụng phụ của Hóa chất cho cơ thể người bệnh.

Trình độ sơ cấp của Thôi miên liệu pháp, cũng là chương trình bắt buộc phải được đào tạo tại các Trường Đại học Y tại Hoa Kỳ từ lâu (Biết sử dụng Ám thị Trị liệu). Tại CHLB Đức từ lâu đã có các Bệnh viện chuyên Trị liệu bằng Liệu pháp thôi miên, đây là những Bệnh viện dành cho người giàu, vì trị liệu bằng thôi miên rất đắt tiền, vì vậy nếu tự chọn Phương pháp đắt tiền để trị liệu, thì người bệnh phải tự trả tiền, chứ bảo hiểm y tế không trả thay (ngoại trừ một số bệnh không đừng được như trầm cảm, ám ảnh cưỡng chế, sợ hãi, mất ngủ mãn tính, bị bệnh béo phì, đau mãn tính… khi đã được trị liệu bằng các phương pháp khác nhưng sau đó lại bị tăng cân trở lại, hoặc không khỏi, hoặc dành để trị liệu cho một số người phản ứng với thuốc giảm đau..).

Không những vậy, tại CHLB Đức ngày nay, trong các Bệnh viện lớn như tại München, Stuttgart…đã sử dụng Thôi miên liệu pháp để điều trị Vô sinh và Thụ Tinh Nhân Tạo…Viện Điều trị Ung bướu Nünberg, đã từ lâu dùng Thôi miên liệu pháp để kết hợp trị liệu. Cũng tại Viện nghiên cứu và trị liệu Ung bướu này, Thôi miên liệu pháp, đã cứu sống anh Thomas Schüzt, đây là một hiện tượng mà không một ai có thể tin được, vì vậy nó vẫn đang là một trong những đề tài bí ẩn và cần một lời giải thích thỏa đáng của các nhà khoa học nước này…

Các Nghiên cứu khoa học của các Trường Đại học tại Mỹ và Châu Âu về Liệu pháp Thôi miên tính cho đến nay đã nhiều tới mức vượt quá xa so với những đề tài khác, chứ không phải là khoa học không biết đến thôi miên, hoặc không công nhận.. (xem thêm chi tiết này tại mục Thôi miên với Khoa học hiện đại và đoạn Phim phóng sự khoa học của Đài Truyền hình RTL CHLB Đức… Chỉ qua một đoạn phóng sự khoa học ngắn, ta sẽ được nghe rất nhiều các Giáo sư về thần kinh và Giáo sư tâm lý của một số các Trường Đại học đã từng tổ chức và tham gia Nghiên cứu về Thôi miên, và qua đó chắc chắn ta sẽ hiểu được bản chất và giá trị đích thực của Thôi miên…).

*****

CÂU HỎI 07:

Nhiều người nghi ngờ việc học thôi miên để tự chữa bệnh. Đó có phải là phép thuật không?

Nhiều người nghe tôi nói đi học thôi miên để tự chữa bệnh đều nghi ngờ, họ đều nghĩ như một phép thuật nào đó. Mặc dù tôi đã đi học và hiểu được tầm quan trọng và giá trị của thôi miên, nhưng không thể giải thích tường tận cho họ hiểu được. Tôi cần làm thế nào để có thể thuyết phục được người thân quen và bạn bè tôi cũng hiểu và tham gia khóa học?

TRẢ LỜI:

Bạn không cần phải cố gắng để làm điều này, bởi chúng ta không thể khiến người khác thay đổi khi chính họ không muốn. Theo kết quả của các nghiên cứu thì chỉ có khoảng 20% trong số chúng ta là tư duy mở, có nghĩ là khách quan để tiếp cận cuộc sống. Còn lại khoảng 80% trong số chúng ta là tư duy đóng (Đây cũng là nguyên tắc của 20-80).

Những người trong số 80% này họ không tiếp nhận cái mới, trong họ phần lớn là những kiến thức phổ thông mà họ đã có từ trước, nếu tất cả những gì họ nghe mà không giống những kiến thức đó của họ là họ thấy vô lý và không chấp nhận. Đối với họ nếu những điều gì nổi bật hoặc đặc biệt diễn ra thì họ đều nhận xét theo kiểu như “Tài thế” hay “không biết tại sao mà…”.

Họ luôn nghĩ và khẳng định rằng phải là những người rất đặc biệt thì mới làm nổi những việc mà họ cho là đặc biệt đó, họ hay tin và đổ lỗi đồng thời chấp nhận số phận, họ chỉ có hành động theo đám đông, họ đợi cho người khác làm có kết quả rồi họ mới làm theo… Nếu bạn thực sự muốn giúp họ thì điều duy nhất mà bạn có thể làm lúc này đó là: hãy ứng dụng những phương pháp mà bạn đã học được cho chính bạn. Chúng ta chỉ có thể thay đổi được chính chúng ta chứ chúng ta không thể cố gắng ép người khác phải thay đổi giống ta.

Mọi người thân của bạn sẽ tự động nghĩ và nhìn mọi hiện tượng khác đi, nhưng chúng ta phải cần cho họ một khoảng thời gian bạn ạ!

NTG
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 1 25, 2017 9:48 am

Tết cổ truyền

Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng “Tết cổ truyền là cái nhìn tâm linh huyền thoại mang tính biểu trưng, với nhiều biểu tượng và pha mầu Đạo giáo”. Bẩy ngày trước ngày đầu năm mới, tức 23 tháng Chạp là ngày chết tạm thời của vũ trụ, theo ước lệ. Bẩy (7) là con số thiêng biểu tượng của vũ trụ, chỉ cái Toàn thể, như 3 hồn ở Tim; 7 vía ở Rốn trong toàn thể hồn vía một người đàn ông: như Đức Phật sơ sinh bên Ấn Độ bước đi 7 bước, tức khắp vùng thế giới.

Một ước lệ khác: Hôm ấy ông Công, ông Táo - vị thần tuy 3 mà 1 trong “Tam vị nhất thể” Thổ công - Thổ địa - Thổ kỳ của Đạo giáo được Việt Nam hóa thành huyền tích “2 ông 1 bà”- vị thần Đất, vị thần Nhà, vị thần Bếp - bản nguyên của Nhà từ khi có lửa trong lịch sử loài người, “tách hẳn khỏi giới động vật” - cưỡi Cá Chép bay lên Trời để lại dưới hạ giới một cảnh tượng vô chủ về mặt tâm linh.

Ngày 23 Tết được gọi là Tết Ông Công Ông Táo. Người ta làm cỗ cũng tiến “ông Táo chầu Giời”, người ta mua cá chép sống rồi thả phóng sinh xuống ao hồ sông lạch. Nét biện chứng: Từ trong cái chết đã gieo mầm sự sống.

Một nét biện chứng khác: Ngày 23 tháng Chạp, người ta dựng Cây Nêu. Cây nêu mang ý nghĩa phổ quát của Cây Vũ Trụ; còn gọi là cây Mặt Trời. Để xã hội hài hoà và tương thích với vũ trụ thì từ ngày 23 Tết mọi công việc làm ăn đồng áng - buôn bán - cũng tạm dừng; từ đây không ai được vào rừng khai thác, thu lượm cái gì nữa. Xưa các công thư huyện - tỉnh - trấn xứ và triều đình đều đóng cửa nghỉ việc từ hôm đó, sau khi đã làm lễ “hạp ấn” (niêm phong mọi con dấu, ấn triện...). Đến nhà tù - nói chung - cũng không tiếp nhận tù nhân mới.

Tóm lại đó là sự dừng nghỉ hoàn toàn, để hợp với cái chết tạm thời của vũ trụ.

Nghi thức quan trọng thứ hai của Tết sau Tết Ông Công là giây phút Giao thừa, điểm thời gian chuyển tiết giữa năm Cũ - năm Mới, được huyền thoại quan niệm như sự giao hoà Âm - Dương, phối ngẫu Đất Trời, để từ trong cái Chết - Cũ nảy sinh sự Sống - Mới... Giao hoà, giao hợp là triết lý Phồn Thực.

Một ông Táo mới - hay cũ mà đổi mới - lại xuống trần thế làm chủ nhà - bếp - đất một năm mới. Người ta bầy một mâm cỗ cúng ở ngoài sân để đón ông, mừng ông. Người ta còn thay những Ông Đầu Rau cũ bằng những Ông mới.

Tháng 12 lịch cổ truyền là tháng Lạp - Chạp, người ta đi chạp mả, sửa sang, thắp hương trên các mộ phần, khấn khứa mời ông bà ông vải tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu...

Cùng với mâm cỗ cúng Ông Táo cũ 23 tết là cỗ cúng tổ tiên. Cùng với mâm cỗ cúng đón Ông Táo mới phút giao thừa ngoài sân là mâm cỗ cúng Tổ Tiên trên bàn thờ trong Nhà, gian giữa.

Và 3 hay 5 ngày đầu năm mới là 3 - 5 ngày thường xuyên sửa cỗ cúng Tổ Tiên hưởng “hương hoa”; còn con cháu thụ lộc trong tinh thần Cộng Cảm gia đình - thân quyến.

Tình cảm gia đình của người Việt Nam xưa rất nặng: Tháng Giêng ăn Tết ở nhà.

Dù đi làm ăn buôn bán nơi đâu quanh năm suốt tháng, gần ngày Tết người ta cũng tìm mọi cách trở về quê, về nhà để cúng Tổ tiên, sum họp gia đình, cộng cảm cùng thân quyến nội ngoại.

Như trên đã nói lối sống, thế ứng xử Việt 3 ngày Tết cổ truyền là:

Mồng Một thì ở nhà Cha

Mồng Hai nhà Mẹ, mồng Ba nhà thầy.

Vì Tết là đổi mới, là sức sống mới nên gam màu chủ đạo của việc trang trí Tết là màu Đỏ - tượng trưng mầu Máu, màu của sự Sống và sự Tái Sinh, theo quan niệm nguyên thuỷ và được bảo lưu tại văn hoá phương Đông: Pháo đỏ, câu đối đỏ, tranh Tết đều có mầu đỏ.

Tết là sự trình diễn những món ăn dân tộc: Giò, chả, vây bóng, thịt mỡ dưa hành.

Như bất cứ lễ hội nào Tết cũng có những thủ tục và những điều kiêng kị. Thủ tục tắm gội tất niên, mặc quần áo mới, nói lời hay ý đẹp, chúc tụng nhau năm mới, hái lộc, xuất hành, khai bút.v.v... Đời Lý Trần có tục lệ rất hay: Trai gái nhà nghèo tự ý ăn ở lấy nhau lúc Giao thừa. Kiêng kị ăn nói thô tục rất thường xảy ra trong dân dã đời thường, kiêng quét nhà đổ rác ngày đầu năm mới (sợ mất lộc), người có tang kiêng đến nhà người khác đầu năm mới v.v...

Sau 3 ngày hay 5 ngày, người ta làm lễ và cỗ cúng hoá vàng, đốt tiền giấy và tiễn tổ tiên về lại thế giới của người đã khuất. Từ dương phần người đang sống, tổ tiên trở lại chốn âm phần.

Từ phút Giao thừa, sự sống hồi sinh tới ngày 7 thì được coi là hoàn toàn hồi phục.

Mồng 7 tết là ngày Khai hạ, hạ nêu coi như mừng kết thúc Tết. Người ta lại làm lễ mở cửa rừng nơi rừng núi để dân đi lại vào rừng tự do. Người ta lại làm lễ khai ấn ở các công thự quan lại và triều đình.

Mọi sinh hoạt đời thường được xem là tiếp tục và sau đó lại là một mùa làm ăn mới.

Tết thời nay

Dương lịch được chính thức áp dụng trong các công sở Đông Dương từ thời thuộc Pháp. Nhưng người dân nông thôn, tiểu nông, tiểu thương thì vẫn sinh hoạt theo lịch truyền thống, từ các lễ hội cho đến các phiên chợ quê...

Sau đó, Dương lịch không chỉ dừng ở công sở, nhà máy, trường học - nay đã tăng lên rất nhiều - mà bắt đầu xâm nhập vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, qui định thời vụ mới...

Hệ văn hoá dân gian với cái Tết và các tết, với các lễ hội truyền thống tới những năm cuối của thập kỷ 50 thì vẫn vậy. Nhưng từ đó thì Lễ hội gần như đứt đoạn và gần như bị cấm đoán ngăn trở một cách không chính thức. Nhiều cái tết con nhạt nhoà dần. Riêng Tết Cả, Tết Nguyên Đán thì vẫn tỏ rõ sức sống mãnh liệt hơn.

Trong thời gian trước sau Tết Cả thì tập tục vẫn còn khá mạnh; nhịp điệu làm việc của Quý I hàng năm theo Dương lịch vẫn không thật khẩn trương. Giêng ngày xưa là tháng ăn chơi. Tháng Giêng ngày nay càng là tháng ăn chơi và chơi ăn. Người ta chú trọng chơi hơn là ăn và có ăn cũng đi xa, đến nnhững miền đất lạ để ăn những của lạ. Người giầu đi du lịch nước ngoài; đại gia đi canavan; giới trẻ thời nay chọn đi phượt. Thôi thì đủ kiểu ...
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 2 01, 2017 2:25 am

Quan điểm của Phật giáo
về vấn đề xem tử vi bói toán
(Tâm Diệu)


Có lẽ ai cũng biết rằng tử vi bói toán là một khoa giải đoán tương lai đời người về vận mạng, tình duyên, gia đạo, học hành thi cử, thời vận thịnh suy, tốt xấu và chọn hướng nhà đất thích hợp, bao gồm cả việc so đôi tuổi và hóa giải sự xung khắc vợ chồng, chọn ngày giờ tốt để khai trương, cưới hỏi, cùng là giải hạn xấu, dựa theo một vài yếu tố như ngày, giờ, tháng, năm sinh của người xin coi bói toán.

Trong thời đại ngày nay, vì lo lắng cho tương lai nhiều bất trắc, rất nhiều người muốn biết hậu vận nên việc xem tử vi bói toán ngày càng phổ biến. Giới làm ăn buôn bán cũng dựa vào chiêm tinh để quyết định công việc đầu tư và làm ăn. Những người khác từ việc mua nhà, đi xa, dựng vợ, gả chồng, cho đến việc tang ma...đều tìm đến những người coi bói toán để tham vấn, hầu dựa vào những lời khuyên đó mà làm theo. Tử vi, bói toán, đồng cốt đang lan rộng ra nhiều người, nhiều giới và nhiều nơi.

Khoa tâm lý học cho rằng, những người này thường là những người có “vấn đề” hoặc là về gia đạo, hay công danh sự nghiệp không như ý, hay cũng có thể đang lo toan một điều gì không rõ nét. Họ cũng có thể là những người thường có tâm mong cầu và tâm sợ hãi, cùng là thiếu niềm tin nơi chính mình và lại hay tin vào việc bói toán hoặc tin vào một đấng thần linh, tin vào một định mệnh hay số mệnh đã an bài, và nếu là một Phật tử thì họ xem ông Phật như một vị thần linh tối cao có thể ban vui giáng họa.

Có nhiều hình thức bói toán, nhưng có ba loại phổ thông đối với người Á Đông chúng ta. Đó là bói bài, xem lá số tử vi và lên đồng nhập cốt. Việc coi lá số tử vi là dựa trên sự tương tác của các ngôi sao vào lúc người đó chào đời, những ngôi sao này mang một số đặc tính nhất định do con người đặt ra, xem như là thần linh hoặc là các thần linh trấn giữ các ngôi sao đó. Bói bài là dựa vào việc giải đoán những dấu hiệu cũng do con người vẽ ra nơi những con bài. Còn bói qua việc lên đồng là để một vong linh người chết nào đó nhập vào và làm trung gian truyền thông ban bảo các lời khuyên hoặc hướng dẫn những ai đang cần giúp đỡ.

Ngày nay ở Việt Nam cũng như ở các nước phương Tây, sách báo về khoa bói toán nhiều vô số. Hầu hết những lời tiên đoán đều có tính chất chung chung, vô thưởng vô phạt, nhưng những người tin thường có tâm lý suy đoán và áp dụng cho trường hợp riêng mình, cho nên đôi khi họ cảm thấy đúng.

Vấn đề cần nói là chính việc xem bói toán, tử vi hoặc trực tiếp đến với các nhà coi bói hoặc gián tiếp qua sách báo, thì người tham dự cũng đều trực tiếp và tự nguyện tham gia vào những sinh hoạt thuộc lĩnh vực tâm thần, và đó là một lời mời rõ ràng, một cách mở cửa cho những tư tưởng vui buồn lo sợ xâm nhập, dễ sinh ra các áp lực trong tâm trí và trong đời sống, khiến cho một ngày kia người đó có thể rơi vào tình trạng xáo trộn tâm lý như có những nỗi sợ hãi ám ảnh trong cuộc sống và những nỗi buồn kinh niên. Ngay cả việc coi ngày tốt xấu cho việc quan hôn tang tế cũng có những hậu quả tiêu cực. Việc định ngày tốt xấu ghi trên lịch sách hoàn toàn không có cơ sở. Vì lợi ích kinh doanh, các nhà làm lịch sách đặt thêm phần coi ngày tốt xấu vào. Họ tự đặt ra ngày này nên làm việc này, ngày kia không nên làm việc nọ, rồi những người dễ tin tin theo. Việc tốt xấu là do nơi con người tạo tác. Một bằng chứng cụ thể là đa số người Tây phương không cần coi ngày tốt xấu khai trương cửa hàng, nhưng họ vẫn thịnh vượng phát đạt. Họ không có thờ thần tài, thờ ông địa, nhưng họ vẫn làm ăn buôn bán, phát tài như thường. Họ chỉ tính toán ngày giờ theo dự án, theo kế hoạch làm việc, theo khả năng chuyên môn nghề nghiệp.

Có thể khởi đầu chỉ là một chút tò mò muốn biết hậu vận mai này ra sao nhưng sau đó người đó sẽ bị tác động không chỉ về phương diện tâm lý mà bị chính quyền lực của sự u tối, của tà linh, của mê tín điều khiển, khiến cho người đó tưởng như không thể thoát ra khỏi số phận đã tiên đoán cho đời mình, rồi có thể hành động một cách vô ý thức, dẫn đến một kết thúc bi thảm. Như trường hợp một bà mẹ đã bắn chết đứa con của mình, vì ông thầy coi lá số tử vi của bà tiên đoán đứa con đang bị bệnh tâm thần của bà, sẽ không bao giờ lành mạnh, vì thế bà đã hạ sát con để cho nó khỏi khổ! Người đàn bà này đã bị bắt, bị kết án, trong khi nhà coi bói tiên đoán cho bà vẫn được tự do hành nghề.

Cũng có thể do sự tin tưởng mù quáng, khiến con người mất hết sức phán đoán và trí thông minh mà người ta thường gọi là mê tín. Mê tín đem lại những tai hại không thể lường trước được. Nó có thể làm hại cuộc đời con người, có thể làm tan nát cả gia đình, có thể làm suy sụp chuyện quốc gia đại sự. Như trường hợp một người vợ ghen bóng ghen gió, đi xem bói tử vi. Thầy bói nói chồng có nhân tình, trong lá số có sao đào hoa chiếu mệnh bèn tin ngay, không cần suy xét, không chịu tìm hiểu hư thực thế nào, thế là bà tức giận, ghen bóng ghen gió với người tình không có thực của chồng. Thế là hai vợ chồng cãi vã nhau, đưa đến hậu quả là gia đình tan nát do việc mê tín coi bói của người vợ. Hoặc có trường hợp đôi trai gái yêu nhau thắm thiết song chỉ vì một lời của thầy mà hai gia đình kiên quyết không cho lấy bởi “Có lấy được thì cũng sớm tan vỡ thôi” cho nên ca dao Việt Nam có câu:

Tay cầm tiền của bo bo

Đi coi thầy bói mang lo vào người.

Vậy quan điểm của Phật giáo đối với các vấn đề bói toán tử vi như thế nào?

Xin trả lời là đạo Phật là đạo giác ngộ giải thoát. Việc coi bói toán tử vi, lên đồng nhập cốt không có mặt trong giáo lý nhà Phật. Cái mà mọi người thường gọi là số mạng tức là nghiệp lực trong Phật giáo. Nếu chúng ta tin có nghiệp lực thì tự nhiên là phải có số mạng, nhưng đức Phật dạy mọi sự đều do tâm tạo. Chỉ cần tâm an ổn thì chỗ nào cũng yên.

Trong kinh Chuyển Pháp Luân ngay sau khi Phật giác ngộ và kinh Di Giáo ngay trước khi Phật Niết-bàn, Ngài khuyên các đệ tử của Ngài là không nên xem bói toán, xem quẻ, xem sao và xem tướng số. Trong năm môn học được giảng dạy ở các trường đại học Phật giáo trước đây ở Ấn Độ không có môn tướng số và bói toán tử vi, tuy có dạy các môn thế học như là Ngôn Ngữ học, Thủ Công Nghệ học, Y học và Luận Lý học.

Theo quan điểm Phật giáo thì vấn đề tai họa hay sung sướng, khổ đau hay bất hạnh, giàu có hay nghèo khổ đều do nhân thiện ác mà chúng ta gieo trồng từ nhiều đời sống trước rồi đời này hay đời sau chịu quả báo. Lại cộng thêm sự nỗ lực hay lười biếng trong đời sống hiện tại mà có thể thay đổi hoặc ảnh hưởng đến vận mạng của đời này hay đời sau. Do việc gieo nhân khác nhau trong đời trước mà tiếp nhận hoàn cảnh khác nhau trong đời này. Cái gọi là hoàn cảnh cũng bao gồm cả di truyền của cha mẹ, bối cảnh văn hóa, văn minh, nuôi dưỡng và giáo dục, anh em, họ hàng, thầy bạn và đồng nghiệp. Tất cả đều ảnh hưởng đến vận mạng của cả một cuộc đời. Dù cho nhân tạo ra ở đời trước là xấu, dẫn tới hoàn cảnh hiện tại nhưng nếu có sự tu tập về mặt nội tâm và luyện tập thân thể tốt, trau dồi thêm ý thức mở mang trí tuệ thì vận mạng cũng sẽ biến đổi theo chiều hướng tốt.

Phật giáo quan niệm, con người không phải do một đấng nào đó tạo ra, có thể bị sai sử, bị thưởng phạt, cho sống hay cho chết. Người Phật giáo không tin vào cái gọi là "định mệnh" an bài. Phật giáo cho rằng, sự vận hành biến hóa của vũ trụ và sự lưu chuyển của sinh mạng, là do nghiệp lực của chúng sinh tạo nên. Tiến trình nhân và quả không do một nhân vật toàn năng nào điều khiển và định đoạt mà do hành động qua thân, khẩu và ý của chúng ta hằng ngày. Đó là một định luật tự nhiên. Chúng ta trách nhiệm về những hành động chúng ta làm, thì chúng ta cũng phải gánh trách nhiệm về hậu quả của những hành động ấy. Việc chấp nhận ở đây không có nghĩa là tự mãn hay cam chịu với cái gọi là "Số mệnh" an bài, bởi vì chúng ta có tự do làm thay đổi và khắc phục những sự việc hay kết quả mà chúng ta không ưa thích. Như chúng ta thi rớt, chúng ta phải cố gắng luyện thi lại, thế nào cũng đạt được. Chúng ta làm chủ tạo nhân, chính chúng ta làm chủ thọ quả. Chỉ cần sáng suốt khi tạo nhân, chịu khó chăm sóc tốt cho nhân tăng trưởng, thì quả chín ngon ngọt sẽ đến tay chúng ta một cách dễ dàng. Đó là lý nhân quả, nếu chúng ta tin sâu và tin chắc lý này, chắc chắn sẽ không còn mê tín mà đi coi bói toán tử vi hay đi xin xăm cầu đảo.

Một nhà sư người Trung Hoa là Trí Khải Đại sư, trong bài tựa cuốn "Đồng Mông Chỉ Quán", kể trường hợp chú Sa-di trẻ đệ tử của vị trụ trì đã chứng quả A-la-hán. Vị trụ trì biết trong vòng một tuần nữa đệ tử mình sẽ chết, không thể tránh khỏi, bèn lẳng lặng cho đệ tử mình về thăm nhà. Chú Sa di trên đường về nhà thấy một ổ kiến trên bờ đê đang bị một dòng nước xoáy đe dọa cuốn trôi đi. Chú Sa-di trẻ động lòng thương lũ kiến đang nháo nhác, bèn cởi quần áo nhảy xuống sông, ra sức đắp lại chỗ đê có thể bị vỡ để cứu ổ kiến. Cứu được ổ kiến, chú Sa-di tiếp tục lên đường về thăm nhà và sau một tuần trở lại chùa. Vị thầy trụ trì thấy đệ tử trở lại chùa bình an, khí sắc lại còn hồng hào hơn xưa, rất lấy làm lạ, bèn hỏi chú Sa di, tuần lễ vừa qua đã làm những gì. Sau một hồi nhớ lại chú Sa di đã tường thuật cặn kẽ đầu đuôi chuyện cứu ổ kiến thoát chết. Vị trụ trì kết luận là do chú Sa-di phát tâm từ bi rộng lớn cứu ổ kiến cho nên đã chuyển nghiệp, đáng lẽ phải chết trong vòng một tuần lại vẫn sống an toàn và còn tiếp tục sống thọ trong nhiều năm nữa.

Do câu chuyện trên, chúng ta thấy rằng không có một cái gì là cố định, không có một cái gì là định pháp hay định mệnh, tâm thức chúng ta biến chuyển từng sát na và do đó nghiệp thức lẫn nghiệp quả cũng thay đổi từng sát na. Nếu các ông thầy bói toán tử vi tướng số nói những gì xảy ra trong tương lai mà chúng ta tin, tức là chúng ta tin rằng muôn sự muộn việc là thường chứ không phải là vô thường và là định pháp chứ không phải là bất định pháp, tức là chúng ta mù quáng mà phủ nhận định luật nhân quả và giáo pháp vô thường của Phật dạy.

Tóm lại, đối với việc coi tử vi bói toán, cũng như việc xin xăm cầu đảo là những việc làm có tính cách mê tín, không có chỗ đứng trong Phật giáo. Người Phật tử được khuyên bảo cẩn trọng đừng để rơi vào hố sâu mê tín dị đoan khiến tâm bị rối loạn bởi sự sợ hãi không cần thiết. Một thời tọa thiền hay niệm Phật hằng ngày giúp ích rất nhiều để tự thanh lọc tư tưởng bất thiện trong tâm. Tâm được thanh lọc tự động dẫn đến một thân thể trong sạch và khỏe mạnh. Pháp Phật là liều thuốc chữa khỏi các loại tâm bệnh này. Một phút giây tâm được tịnh là ngưng tạo bao nhiêu nghiệp, ngưng gieo bao nhiêu nhân và xa bao nhiêu dặm khổ ải.

Trong kinh Pháp Cú, đức Phật có dạy:

“Không trên trời, giữa biển,
Không lánh vào động núi,
Không chỗ nào trên đời,
Trốn được quả ác nghiệp.”

Nếu như con người hàng ngày không làm các việc lành thiện, chỉ lo tạo tội, tạo nghiệp, trong cuộc sống đấu tranh giành giựt, khi quả báo đến, không ai có thể tránh được, dù cho có lên non xuống biển hay trốn vào hang núi.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 6 Tháng 2 03, 2017 7:38 am

Đỗ Đức Ngọc – nhịn ăn 12 ngày để chữa bệnh

Phương pháp này các vị đạo gia gọi là phương pháp Thanh lọc bản thể, còn theo khoa học dựa vào kết quả thực tế trong chữa bệnh gọi là Phương pháp thanh lọc độc trong cơ thể.

Lần đầu tiên cách đây 30 năm khi còn ở Việt Nam, tôi theo các sư huynh y sĩ áp dụng phương pháp nhịn ăn, tôi hơi sợ sức khỏe của mình không đủ sức chịu đựng trong thời gian nhịn ăn lâu đến 12 ngày, (vì tôi bị bệnh phổi), nhưng nhìn vào các sư huynh vẫn thường dùng phương pháp này mỗi năm 2 lần, lần thứ nhất bắt đầu từ ngày nhập hạ rằm tháng 4, lần thứ hai bắt đầu vào ngày mãn hạ rằm tháng 7, kết quả là các vị sư huynh càng trẻ và khỏe mạnh hồng hào so với tuổi và không bao giờ bị bệnh tật, nên tôi cũng bớt sợ và tin vào kết quả của phương pháp này.

Tôi nghĩ chắc khi theo phương pháp nhịn ăn cần phải nghỉ ngơi tĩnh dưỡng để khỏi mất calories, nhưng ngược lại, các sư huynh khuyên tôi vẫn tiếp tục đi làm, đi chữa bệnh bình thường như mọi ngày, chỉ khác một điểm khi đến giờ ăn thì mình uống nước, và khi khát mình cũng uống nước, khi thèm ăn mình cũng uống nước. Một loại nước pha chế đặc biệt không phải là nước lạnh như phương pháp của Thầy Phạm Văn Chính trong lúc nhập thất, không làm việc.

Phương pháp nhập thất nhịn ăn của thầy Phạm Văn Chính bên California, ngắn hạn là theo thầy 3-7 ngày, đến giờ ăn sáng, ăn trưa, ăn chiều, thầy mời chúng ta cùng ăn với thầy bằng các bài tập các động tác dưỡng sinh, sau đó ai khát muốn uống nước thì cứ uống tự nhiên, và uống ít, rồi ngồi lại với nhau, giảng giải về phương pháp, rồi tập hít thở, rồi cân trọng lượng cơ thể, đo áp huyết…. rồi đến giờ ăn thầy lại mời chúng ta ăn bằng các bài tập.

Sau một ngày có người cân sụt mất 1-2 kg, bạn tôi là một dược sĩ, bị bệnh phong thấp đau nhức, mập phì, cao áp huyết, sau 2 ngày xuống 3 kg, Những người chịu đựng nổi 1 tuần sẽ thấy kết qủa khả quan, nhưng cơ thể mất nhiều calories không đủ sức làm việc, nên khi ra khỏi nhập thất, cơ thể đói hơn ăn nhiều hơn, sau 1 tháng trọng lượng gia tăng, chính những thức ăn đem vào cơ thể lại là mầm gây ra bệnh trở lại, đường, áp huyết, cholesterol lại cao như cũ .Cho nên phương pháp này Thầy Chính khuyên thỉnh thoảng phải áp dụng để cơ thể có thời giờ nghỉ ngơi và giải độc.

Còn phương pháp nhịn ăn 12 ngày của chúng tôi, vẫn đi làm bình thường, chỉ uống nước pha chế uống thay bữa cơm, mỗi ngày uống từ 4-6 lít.

Thành phần pha chế của 1 lít nước như sau:

1 lít nước nấu chín pha vào 3-6 quả chanh với đường ngọt vừa đủ, công thức pha chế thế nào cho hợp với mình để đừng chua qúa đừng ngọt qúa. Cứ thế áp dụng cho 4 lần hay 6 lần trong ngày. Những người bị loét bao tử cho bớt chua tăng ngọt hơn để khi uống thử, bao tử không có phản ứng khó chịu, hoặc những người có bệnh tiểu đường pha bớt ngọt nhưng khi uống không có cảm tưởng bị ê răng, là những dung dịch pha chế hợp với cơ thể mình.

Cách uống:

Khi đến giờ ăn cơm, uống 1 ly 250cc, nửa giờ sau 1 ly, nửa giờ sau nữa 1 ly.

4 bữa ăn sàng, trưa, chiều, tối mất 12 ly là 3 lít, còn 1-3 lít để uống vào khi cảm thấy khát, mỗi lần ½ ly. Như vậy mỗi ngày tiêu thụ 4-6 lít.

Chanh và đường tiêu thụ mỗi ngày với tiêu chuẩn 4 lít một ngày là từ 12-16 qủa chanh.

Đường giúp cơ thể giữ năng lượng và thân nhiệt, không làm suy tim hay cơ bắp bị mệt mỏi khi làn việc, chanh để tẩy độc hạ áp huyết, cholesterol, tan mỡ, lọc máu.

Đối với kinh nghiệm của tôi, trước khi nhịn ăn, tôi sợ đói, hôm trước tôi ăn thật nhiều gấp 2 lần bình thường, rồi mới dám nhập cuộc với các sư huynh vào ngày hôm sau.

Mỗi ngày tôi vẫn đi chữa bệnh cho các bệnh nhân ở các phòng mạch từ thiện từ chùa này sang chùa khác bằng xe đạp, thỉnh thoảng lại lấy nước ra uống, đến những bữa cơm, thấy người ta ăn cơm mình lại thèm, lại uống 3 ly nước nước thay 3 chén cơm, rồi cũng qua 1 ngày, đi tiểu nhiều hơn, đi đại tiện phân vẫn có lọn cục bình thường.

Ngày thứ hai đi phân vẫn có lọn cục mềm hơn, đi tiểu nhiều hơn.
Ngày thứ ba bắt đầu đi phân loãng 50% nước 50% phân.
Ngày thứ tư phân ra như tiêu chảy 70% nước 30% phân.
Ngày thứ năm, buồn đi cầu là đi ngay tiêu ra nước ồ ạt nhiều nước hơn phân.
Ngày thứ sáu mỗi lần đi đại tiện giống như mở một túi nước đổ ra 1 lần chảy ào ào là xong.

Từ ngày thứ 6 đến ngày thứ 8 đi tiểu nhiều hơn, đi đại tiện toàn ra nước trong, không có phân, tôi nghĩ có lẽ xin mấy sư huynh cho nghỉ, cơ thể sạch lắm rồi, uống nước vào là đi ra nước ngay, cơ thể không mệt mỏi, vẫn đi làm bình thường vui vẻ, nhưng cảm thấy thèm ăn. Các sư huynh khuyên cố lên 4 ngày nữa.

Quả nhiên có điều kỳ lạ xảy ra. Ngày thứ 9 tự nhiên hơi đau lâm râm trong bụng và mắc đi đại tiện liền, chảy ra nước xối xả toàn là mầu đen như nước ống cống.

Ngày thứ mười, tiêu chảy ra nước đen hơi lợn cợn.

Ngày thứ mười một đi đại tiện 2-3 lần ra rất nhiều khoảng 2 kg phân lầy nhầy, lung bùng, mầu đen có lẫn mỡ, bùi nhùi, giẻ rách, có xơ sợi, tôi nghĩ đây chắc là mấy sợi rau muống ăn từ ngoài Bắc hồi di cư hay dưa giá khi mới vào miền Nam, nó dính vào thành ruột bị chất chanh làm tróc ra.

Ngày thứ mười hai, uống vào một ly nước, là đi ngay ra một ly nước trong không có tí phân nào. Uống vào ly nào là ra ngay ly ấy. Trong bụng bao tử và ruột thật sạch, vách thành bao tử và ruột mỏng đi .

Ngày thứ nhất đến ngày thứ tư lên cân 2 kg, từ ngày thứ năm đến hết 12 ngày xuống mất 2 kg., trong bụng hơi bào bọt muốn đòi ăn là vừa đúng hết hạn kỳ chấm dứt vào lúc 7 giờ tối. Tất cả tụ tập lại nhà đại sư huynh để ăn một món ăn do đại sư tỷ nấu để phục hồi lại chức năng trường vị.

Món ăn đặc biệt là món cháo huyết heo với nhiều gừng xắt chỉ, mỗi người được quyền ăn 1 tô nhỏ, ăn xong, chất bột cháo lót lại vách thành bao tử và ruột, chất gừng làm ấm trường vị giúp các cơ co thắt lại, trong thời gian uống nhiều nước cơ co bóp của trường vị chứa nhiều nước đã bị giãn nở, còn huyết heo theo đông y là đội quân dùng để lấy độc tố còn sót lại trong máu theo đường phân ra ngoài. Ai nấy ăn xong, lấy thêm một tô lớn đem về nhà để dành cho bữa điểm tâm sáng hôm sau là ngày thứ mười ba. Lúc đó mới xong một giai đoạn thanh lọc độc trong cơ thể, trưa ngày hôm thứ mười ba, chỉ được quyền ăn 1 chén cơm với thức ăn nhẹ là canh, chiều ăn 2 chén. Ngày thứ mười bốn ăn trở lại bình thường 3 chén cơm với canh, thịt, cá, sau đó ăn uống như thường lệ. Cơ thể lại phục hồi trọng lượng như cũ, nhưng thần sắc hồng hào khỏe mạnh, nhiều năng lượng vô cùng. Ăn rất ngon miệng, dễ ăn không kén ăn, các lục phủ ngũ tạng đều được thanh lọc độc thay cũ đổi mới, không còn những bướu mỡ, hay máu cặn bẩn hóa vôi trong cơ thể, trong xương khớp, không còn đau đớn, hay đau bệnh vặt, áp huyết, đường cholesterol ổn định.

So sánh với các phương pháp nhịn ăn khác, có chỗ khác biệt ở chỗ chưa lấy ra ra được hết phân đen bùi nhùi giẻ rách xơ bướu trong cơ thể ra hết được bằng phương pháp thanh lọc độc trong cơ thể.

Những người bị bệnh cao áp huyết, tiểu đường, cholesterol, đau thấp khớp, huyết hóa vôi, bệnh bao tử, đường ruột, gan thận, ung thư, nếu áp huyết không bị qúa thấp, có thể áp dụng phương pháp này. Nhịn ăn trong 12 ngày chính là cho các tế bào ung thư bị bỏ đói, thêm vào phương pháp hít thở (ăn không khí) làm tăng hồng cầu và giúp khí huyết tuần hoàn khắp cơ thể phục hồi lại các tế bào khỏe, tăng khả năng miễn nhiễm phòng chống bệnh tật, giúp phục hồi các cơ co bóp tống độc ra ngoài bằng đường tiêu tiểu, thì dấu hiệu ung thư sẽ từ từ biến mất.

Phương pháp này không áp dụng được cho người áp huyết thấp và bệnh thiếu máu.

Còn những người mập phì, muốn giảm mập nên theo phương pháp Nhập Thất của Thầy Phạm Văn Chính.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 2 05, 2017 6:18 am

Nhịn ăn - thử thách bản thân hay cuộc chơi nhiều cảm giác.

Nhịn ăn có rất nhiều hiệu quả? Theo các nhà khoa học thì nhịn ăn để chữa bệnh có từ thời cổ ở Ấn Độ, Ai Cập, sau lan truyền sang Hi Lạp, La Mã và các nước phương Tây. Đó là một phép trị liệu và dưỡng sinh (Díetétique). Còn ở châu Á thì y học phương Đông cũng đề cập thành một nguyên lý chữa bệnh "dùng thuốc không bằng giảm ăn" đã được nhiều danh y ứng dụng… Về tuyệt thực trong tôn giáo cũng đã được thực hiện từ rất xa xưa. Các tôn giáo lớn như Ấn Độ giáo, Hồi giáo, Thiên Chúa giáo cũng rất chú trọng đến phép nhịn ăn và sự cầu nguyện. Chẳng hạn như các đạo sĩ Yoga Ấn Độ có chế độ mauna (gồm có nhịn ăn và tịnh khẩu - im lặng, không nói) vào hai ngày: mồng một và rằm âm lịch, nhằm mục đích để thanh lọc cơ thể. Sau này người ta chú ý nhiều đến sự tuyệt thực khi thánh Gandhi nhịn ăn để tranh đấu bất bạo động giành độc lập cho Ấn Độ… Cho đến nay chữa một số bệnh bằng phương pháp nhịn ăn đang được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới như ở Pháp, Đức, Nga, Mỹ… Còn ở Việt Nam, hiện cũng chưa ai trả lời rõ ràng việc tuyệt thực và tiết thực du nhập vào trong nước xuất phát từ đâu. Có người cho rằng khái niệm "tiết thực" bắt đầu được người Việt Nam biết đến thông qua cuốn "Tuyệt thực đi về đâu" của tác giả Thái Khắc Lễ. Cũng có người bảo rằng "tiết thực" bắt nguồn từ phương pháp thực dưỡng Ohsawa (xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 2000) vốn là một phương pháp ăn uống theo thuyết cân bằng âm dương để điều hòa khí huyết, giúp thanh lọc độc tố trong cơ thể. Cuốn sách "Tuyệt thực đi về đâu" của tác giả Thái Khắc Lễ chỉ dẫn phương pháp nhịn ăn để tăng cường sức khỏe được nhiều người tìm đọc. Chuyện nhịn ăn chữa bệnh hiện đang được khá nhiều người quan tâm, thực hiện theo, bằng chứng là chỉ cần vào Google, gõ từ khóa "nhịn ăn chữa bệnh", trong vòng 0,05 giây đã cho khoảng 163.000 kết quả. Theo BS. Huỳnh Nguyễn Liên, Viện Y dược học dân tộc TP.Hồ Chí Minh, có thể hiểu nôm na tuyệt thực là nhịn ăn và chỉ uống ít nước lọc, còn tiết thực là nhịn ăn và uống nước một hai loại trái cây với đường..., giống như một loại nước sinh tố. Hai phương pháp này khác nhau nhưng các đối tượng tìm hiểu và thực hiện thường nhằm mục đích chữa bệnh, thanh lọc cơ thể và giảm béo. Như chúng ta đã biết, trong mỗi tế bào, mỗi cơ quan trong cơ thể người đều có phần dự trữ để sử dụng khi đói. Việc thường xuyên tiếp thêm thức ăn, năng lượng cho các tế bào trong khi chúng không thể sử dụng hết sẽ tạo ra những độc tố có hại và sinh ra bệnh tật. Chính vì điều này, nhiều người cho rằng khi nhịn ăn, bên ngoài cơ thể sẽ gầy dần đi, còn bên trong cơ thể sẽ "đốt" những thức ăn thừa thãi, vô bổ, thậm chí có hại ấy để nuôi các cơ quan trọng yếu và tích cực bài thải cặn bã ra ngoài. Ở Việt Nam hiện tại cũng đã có một vài cơ sở điều trị và nhiều người trong nước đã áp dụng nhịn ăn để chữa được một số bệnh. Anh Châu Quang Phước, phụ trách truyền thông Công ty BHD, người có hơn 5 năm nay theo đuổi phương pháp tiết thực - nhịn ăn và uống nước chanh đường để chữa bệnh và thanh lọc cơ thể. Trước khi thực hành phương pháp này, anh Phước đã từng tiếp cận, nghiên cứu nhiều tài liệu khoa học, y học về các cách nhịn ăn khác nhau. "Chuyện nhịn ăn từng bước, từng cấp một thời gian trước chính là những lần anh thử nhịn ăn để xây dựng lòng tin vào việc này. Và trong những lần thực hiện nhịn ăn, anh thấy có những hiệu quả nhất định, như lần đầu tiên anh nhịn ăn trong bảy ngày. Lúc đầu anh cũng chưa nghĩ tới hiệu quả chữa bệnh của nó nhưng qua việc khi ấy chân anh có một vết trầy xước rồi tiến triển thành vết loét có cả mủ, anh đã rắc thuốc ambi như nhiều người vẫn thường làm, song có thể do đi giày và đi lại nhiều nên vết loét mãi không lành. Khi nhịn ăn đến ngày thứ tư, tình cờ anh nhìn lại thì vết loét lúc đó gần như khô, ráo, vết thương liền miệng. Thấy hiệu quả như vậy, anh cảm thấy rất phấn khởi và có lý do "trợ lực" để có lòng tin hơn", anh Phước kể lại. Trên cơ sở lòng tin này, anh Phước tiếp tục thực hiện hai lần nhịn ăn nữa - một lần 14 ngày để trị vết thương bệnh giời leo ở trên trán lan xuống cả tới mắt trái; lần gần đây nhất năm 2010 là nhịn ăn 21 ngày để chữa mắt bị đỏ, xung huyết. Hỗn hợp nước chanh đường anh Phước dùng để uống được pha theo cách là pha thật nhiều chanh so với lượng nước dùng để pha và lượng đường tương ứng. Bên cạnh đó, trong thời gian nhịn ăn, anh Phước cũng có những giải pháp hỗ trợ những lúc mệt mỏi, hoa mắt chóng mặt như ngồi thiền tĩnh tâm, tập dưỡng sinh, hít thở sâu… "Với anh, ngoài việc chữa bệnh thì anh còn xem đó là việc làm để thử thách, khám phá bản thân, thử tính kiên nhẫn và ý chí của mình. Kể cả những giai đoạn bị áp lực công việc nhiều quá, bị stress nhiều, việc nhịn ăn sẽ giúp anh đằm tính trở lại, học được tính kiên nhẫn, không nóng nảy…", anh Phước vui vẻ bộc bạch. Một trường hợp thực hiện phương pháp tiết thực khá đặc biệt nữa, đó là đạo diễn, nhiếp ảnh gia Đoàn Minh Tuấn. Từ ba, bốn năm nay, anh Tuấn thường nhịn ăn một tháng một lần, từ một ngày nhịn một hai bữa ăn rồi khi cơ thể quen dần, anh tăng nhịp độ lên một ngày không ăn gì chỉ uống nước lọc. Sau đó, khi tiếp xúc, trao đổi với một vài người bạn uy tín, có hiểu biết từng thực hiện việc nhịn ăn và cả qua những thông tin khoa học anh tiếp cận được về việc này, anh Tuấn có thêm sự tự tin với phương pháp tiết thực mỗi năm một lần hơn 10 ngày - nhịn ăn và uống hỗn hợp nước gồm nước mía, chanh vàng của Mỹ và ớt bột của Ấn Độ. Anh Tuấn cho hay: "Liều lượng của hỗn hợp nước uống này là cứ bốn ly nước mía là một ly nước chanh vàng, sau đó tiếp tục cho ớt bột Ấn Độ vào. Hỗn hợp nước này tựa như một dạng cocktail uống rất ngon, dễ chịu". Hỗn hợp nước này được anh Tuấn uống một ngày ba lần vào sáng, trưa, tối giống như ba bữa ăn hàng ngày. Ngoài ra, trong kỳ nhịn ăn 12 ngày vừa rồi, thì trong ngày thứ năm và thứ chín của kỳ nhịn ăn, anh Tuấn còn uống một ly nước muối pha độ mặn vừa phải. Với anh Tuấn thì uống hỗn hợp nước này mang lại nhiều hiệu quả khác nhau, không đơn thuần chỉ nhằm giảm cân, hỗn hợp này còn dùng để thanh lọc cơ thể bằng cách sát trùng, thanh lọc, rửa sạch những chất cặn bã trong mọi bộ phận. Cuộc chơi để thử thách bản thân BS. Huỳnh Nguyễn Liên là người đã có thời gian nghiên cứu về vấn đề này và cũng đã thử nghiệm khá thành công trên một số bệnh nhân bị rối loạn chuyển hóa lipid, cao huyết áp, thừa cân… Đồng thời bản thân bác sĩ Liên cũng thực hiện việc tiết thực kết hợp với tập dưỡng sinh để thanh lọc cơ thể. BS. Liên cho biết, khi nhịn ăn thì cơ thể như một vị "bác sĩ" hay một bộ máy biết gạn lọc những cái thừa, cặn dư, tự thanh lọc, qua đó có thể phòng và trị một số bệnh. Một cuốn sách về phương pháp Ohsawa. Tuy nhiên, bà cũng khuyến cáo người nhịn ăn phải có nhận thức rõ ràng với những kiến thức và hiểu biết về vấn đề này. Đặc biệt cần có những công trình khoa học nghiêm túc nghiên cứu để cung cấp những kiến thức cơ bản về lợi ích và những điều cần lưu ý về những phương pháp đặc biệt này. "Điều quan trọng là khi nhịn ăn xong phải chú ý việc ăn lại, nếu ăn ào ào sẽ nguy hiểm cho cơ thể, cho nên khi tiết thực 7 ngày thì sau kỳ này cũng phải có thời gian chuyển tiếp 7 ngày để cơ thể quen dần. Và phải nhớ rằng sau khi nhịn ăn thanh lọc cơ thể thì phải giữ chế độ ăn thanh đạm để duy trì kết quả giảm cân", BS. Liên lưu ý. Cùng ý kiến với BS. Liên, BS. Đào Thị Yến Thủy, Trung tâm Dinh dưỡng TP HCM, cho biết: "Tôi cũng biết hiện nay có một số người nhịn ăn một vài ngày chỉ uống nước để "nhịn ăn rửa ruột" với niềm tin là muốn rửa sạch đường ruột để tạo sự thông thương dễ dàng, thải hết phần bẩn và độc chất, giống như lâu lâu phải súc rửa ống nước. Ngoài ra cũng có một số người thực hiện phương thức "ngồi thiền và tuyệt thực" 1 tuần, 2 tuần… để giết các tế bào ung thư nếu có nảy sinh trong cơ thể (giúp phòng ngừa ung thư). Tuy nhiên, đây là những lý luận và niềm tin chưa có cơ sở khoa học tin cậy vì hiện chưa thấy công bố các nghiên cứu khoa học nào chứng minh các hiệu quả này. Nhịn ăn chỉ có thể chữa được bệnh ăn không tiêu (trúng thực) hay béo phì nhưng chỉ là nhịn ăn ngắn hạn. Điều trị béo phì thì không phải nhịn ăn mà là giảm năng lượng ăn vào bằng cách ăn ít thực phẩm giàu năng lượng và ăn nhiều thực phẩm ít năng lượng". Như vậy, đúng như những lời chia sẻ của anh Phước và anh Tuấn thì việc có thực hiện phương pháp nhịn ăn hay không phụ thuộc vào quan niệm hay mục đích của người thực hành. Và trên hết hãy coi việc này như một cuộc chơi, như niềm vui để thử thách bản thân. Hơn nữa, nhịn ăn theo phương pháp nào, lâu hay mau cũng phải tùy theo cơ địa của từng người, nhất là biết lượng sức mình, không nên phải nhất nhất phải theo một phương pháp nào đó. Đặc biệt trước khi thực hiện, cần tìm hiểu thật kỹ càng mọi điều xung quanh phương pháp ấy, nếu không sẽ gây những hậu quả không tốt cho bản thân. Theo anh Phước và anh Tuấn thì người nhịn ăn là người phải thực sự lắng nghe và hiểu được cơ thể của mình...
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 3 Tháng 3 21, 2017 11:33 pm

Nói thêm về việc chia tông, rẽ giáo làm cho chánh pháp bị mai một, đánh mất chân giá trị.

Tịnh độ tông:

Tịnh độ tông ra đời dựa vào bộ kinh A Di Đà, kinh Vô Lượng Thọ và Quán Vô Lượng Thọ. Người học Phật hành trì theo pháp môn Tịnh độ tin sâu lời nguyện của Phật A Di Đà, nương cầu tha lực. Lâu ngày thành tánh, người tu Tịnh độ không còn tin nơi tự tâm, tự tánh vội nhận căn tánh ngu độn, trí tuệ cạn cợt, phước mỏng,… Hành trì tu học chỉ cầu Phật A Di Đà tiếp dẫn Tây Phương Cực Lạc khi nhắm mắt lìa đời.
Người học Phật theo Tịnh độ tông phần nhiều không chú trọng học hỏi pháp Phật nhằm nhận biết sáng rõ con đường liễu thoát sinh tử và tự chủ bước đi vượt qua luân hồi. Sự không tự tin vào tự tâm mỗi người đều có Phật tánh thể hiện rõ ở nơi người học Phật theo pháp môn Tịnh độ.
Cụ thể là có không ít vị cao Tăng danh tiếng học theo pháp tu Tịnh độ trải qua thời gian rất lâu xa. Vậy mà khi được Phật tử đến lễ bái lòng e dè không muốn nhận vì sợ hóa thân Bồ tát tham bái sẽ bị tổn hại phước lực. Nếu gắng gượng cho rằng vì là người học Phật nên thể hiện phép khiêm cung, kham nhẫn. Nhưng đến việc dặn dò Phật tử vào ngày họ viên tịch hãy cùng hộ niệm, trợ duyên giúp họ tiến nhập Tây Phương thì không thể là sự khiêm cung. Bởi lẽ khi người học Phật đạt pháp sẽ tự biết chọn đường để đi nếu vì sự khiêm cung mà nói lời hư vọng là dối truyền pháp Phật, không là người học Phật chân chính.
Quả thật, khi trình bày vấn đề này dù vô tình hay cố ý thì tôi cũng đã phạm vào lỗi “Đại ngã mạn”, tôi sẽ sám hối nơi tự tâm.
Đây thật là việc bất đắc dĩ tôi phải làm chứ không vì danh lợi phù vân. Nếu tôi có lòng hư dối “Khinh Sư, diệt Tổ” nguyện đọa địa ngục Vô gián muôn ngàn kiếp không thể siêu sinh.
Lý do tôi trình bày vấn đề trên là vì chỉ ra điểm sai then chốt của người học Phật khi hành trì pháp môn Tịnh độ mà thiếu sự hiểu biết sáng rõ. Tôi sẽ kể 1 câu chuyện được nghe từ một người học Phật khác. Chuyện kể rằng:

Một hôm, người học Phật đó gặp các cô, các bác Phật tử đi từ trong chùa ra sau một thời kinh. Vốn có quen biết, người học Phật buộc miệng hỏi:
- Hôm nay các bác đi chùa trì kinh gì?
Người Phật tử trả lời:
- Tụng kinh Quán Vô Lượng Thọ.
Người học Phật lại hỏi:
- Trong kinh viết gì?
Người Phật tử đáp:
- Trong đó viết “tùm lum, tùm la”, đọc không hiểu gì hết.
Đến đây, người học Phật chẳng còn lời nào để hỏi.

Xét lại vấn đề này, câu trả lời cuối cùng của người Phật tử cho thấy họ là người rất chân chất, tri thức không rộng nhưng đến chùa học Phật mà như thế thì “Tham, sân, si, mạn, nghi” có dứt trừ được không?
Nếu không thể dứt trừ “Tham, sân, si, mạn, nghi” thì sao có thể có “cửu phẩm liên hoa” chờ sẵn nơi Tây Phương cực lạc. Nếu không có cái nhìn sáng rõ để tự tiến tu thì Phật đâu thể tiếp dẫn đặng.
Phật Thích Ca đã từng thuyết “Bất kỳ chúng sinh nào trong 6 đường đều có Phật tánh”.
Hiển nhiên chỉ có chúng sinh nẻo Người là có thể hiểu được câu nói đó.
Vậy bạn có tin nơi bạn có Phật tánh không?
Nếu không tin nhận thì bạn học Phật mà làm gì?
Nếu đã tin nhận sao lại còn u mê vướng vào tà kiến căn tánh ngu độn, chậm lụt, phước mỏng, cần tu học Phật rất nhiều đời?
Nếu thật tin nhận “Phật tánh có nơi tự tâm” thì hãy lấy Phật tánh ra chuyển thành Tánh Phật. Ngay đây chính là nơi người học Phật không bị kinh chuyển mà đã chuyển được kinh. Nếu hành trì tinh tấn, miên mật chuyển Phật tánh thành Tánh Phật thì sẽ mau chóng giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Tánh Phật là gì?
Nơi Tánh Phật không có “Tham sân si mạn nghi”, trợ pháp hiển lộ Tánh Phật là 6 pháp ba la mật - Bố thí, trì giới, nhẫn nhịn, tinh tấn, thiền định và trí tuệ.
Hiển nhiên là nơi bạn luôn sẵn có. Nếu bạn phát tâm bồ tát dũng mãnh, hành trì tùy thuận 6 pháp ba la mật bạn hoàn toàn có thể thành Phật, Bồ tát cũng như quả vị của những bậc bất thối chuyển ngay trong hiện đời. Đây là lời nói không hư dối, đúng thật.

Thiền tông:
Dựa vào pháp Tâm truyền tâm được cho là “của riêng” Sơ Tổ Trung Hoa, ngài Bồ Đề Đạt Ma. Trói người học Phật vào pháp với việc thiền hành, thiền tọa, xa rời ngôn thuyết, giáo lý kinh điển. Mục tiêu của người học Phật theo pháp tu Thiền tông là chứng đắc 1 trong 4 quả vị Thánh, cầu A la hán, tham học pháp xuất thế gian.
Do việc hạn chế tham khảo giáo lý, kinh điển, không học hỏi sự hiểu biết và ít va chạm nơi pháp thế gian nên sự chứng ngộ đạo lý giác ngộ, giải thoát ở người tu Thiền tông có phần giới hạn.
Tuy nhiên, người tu Thiền Tông quả thật có chứng, có đắc và vì có sự “đột ngột” khai mở trí tuệ nên người học Phật dễ sinh tâm ngã mạn, nuôi lớn bản ngã.
Có không ít người tu thiền đã “Coi trời bằng vung”, “Dưới mắt không người”, “Khinh Sư, diệt Phật”.
Cụ thể là có không ít người tu học một thời gian được khai mở sự hiểu biết đã lập ra tông giáo mới, phân biệt ra Như Lai thiền, Tổ Sư thiền, thêm nhiều pháp thiền khác nhau và cả Tối thượng thừa thiền.
Không chỉ vậy, có một vài Tông phái thiền dõng dạc tuyên bố “Pháp môn tu cao hơn pháp Phật, hoặc là nếu y pháp môn của Tông phái đó thì sẽ đảm bảo đắc A la hán,…”.
Những người học Phật này nếu không rơi vào lợi dưỡng, lợi danh thì hẳn là đã dừng nơi Đại ngã. Đành rằng: Vạn pháp đồng tánh không nhưng cũng đừng quên cụm từ “chẳng thật không”.
Với trí tuệ của Đại ngã nơi tự thân mà dám tự thị “Pháp môn tu cao hơn pháp Phật” thì không phải là quá ngông cuồng sao?
Hãy nên nhìn nhận lại cội nguồn nơi đâu mà đạt pháp, phát khởi trí tuệ lớn. Dù rằng là vì người học Phật đời sau nói lời hư vọng nhưng không thể “một sớm, một chiều” “tắm máu” Như Lai.
Rõ thật là việc làm cuồng ngông đó chỉ ở nơi Đại ngã chưa thực chứng Vô ngã. Nếu dừng lại nơi Đại ngã thì người học Phật chưa thật sự sống với Chánh vị. Nếu nhận biết phạm lỗi Đại ngã mạn thì người học Phật nên tự tâm sám hối chí thành nhằm phục hồi giới thể, tự tìm về bản tâm thanh tịnh, không dính mắc.
Tôi lại kể một câu chuyện về sự hành trì sai chánh pháp của một người học Phật rơi vào đại ngã. Đây là một câu chuyện có thật.

Trước đây, có một người học Phật chuyên tâm thiền định. Sau một thời gian hành trì, người đó khai mở được sự hiểu biết trở nên thông tuệ. Do chưa phá bỏ hoàn toàn bản ngã và do dục tính huân tập sâu dày chưa được điều phục rốt ráo, người đó đã hướng sự phát triển tông giáo theo hướng mới nhằm thỏa mãn tính dục bản thân mà về sau nhân loại tạm gọi tông giáo đó là tà giáo. Người đứng đầu tông giáo đó được gọi là nhà truyền giáo tình dục. Nguyên do tông giáo đó hướng con người đến sự tự do tình dục, tổ chức những buổi quan hệ tình dục nam nữ tập thể, quần hôn,… Kết quả nhà truyền giáo đó đã chết không minh bạch. Cái chết không minh bạch đó có thể xét đến khía cạnh việc truyền bá tư tưởng của nhà truyền giáo trên không đúng với lòng người, trái đạo. Trái đạo tất sẽ mạng vong.

Xét lại vấn đề này, ta sẽ thấy việc làm của người truyền giáo trên là sai trái, không đúng với chánh pháp Phật Thích Ca. Nếu chưa sống được chánh vị thì hẳn là người truyền giáo đó sẽ phải luân hồi trở lại.
Đáng buồn hơn là những tín đồ của Tông phái tà quái trên sẽ bị dìm sâu hơn trong những nẻo tối tăm, xấu ác.
Ở đây sẽ có sự khác biệt giữa pháp thế gian và pháp xuất thế gian. Với pháp thế gian thì người “biết luật phạm luật” sẽ bị trừng phạt nặng hơn còn ở pháp xuất thế gian thì ngược lại, người “biết luật phạm luật” sẽ nhận nghiệp quả nhẹ hơn.
Bởi do mọi việc đều lưu xuất ngay nơi tâm ý, người học Phật đúng pháp rõ biết nghiệp quả nên việc làm e dè, thận trọng, không ngừng sửa sai vì thế sẽ dễ dàng hơn trong việc “Cầm lên được thì buông xuống được” đồng nghĩa với việc không dính mắc, buông bỏ được việc đã làm.
Tuy nhiên để làm được điều này đòi hỏi người học Phật có sự hiểu biết sáng rõ và thường sống nơi pháp Phật, sống với tâm không dính mắc, sáng rõ.
Để rõ hơn về việc trừng phạt nơi pháp xuất gian giữa người học Phật và người không học Phật tôi sẽ đưa ra một câu chuyện có trong giáo lý nhà Phật:

Ví như 2 người phạm tội và nhận cùng một hình phạt là chạm tay vào thanh sắt cực nóng. Người không học Phật, không biết đến pháp xuất thế gian sẽ không rõ biết thanh sắt cực nóng nên dùng bàn tay nắm cả vào thanh sắt, còn người học Phật dù vừa mới tiếp xúc đến pháp xuất thế gian nhưng do nhận biết thanh sắt nóng nên chỉ chạm nhẹ vào thanh sắt và rút tay về.

Hậu quả của việc trừng phạt ở 2 người, bạn hãy tự nhìn nhận lấy.
Liên quan đến việc làm trái đạo của nhà truyền giáo trên tôi phải trình bày lại sáng rõ một vấn đề nhằm tránh tạo ra sự ngộ nhận đáng tiếc và cũng là giải một mối nghi trong tri thức nhân loại.
Từ lâu, người học Phật và phần lớn nhân loại lầm lạc tin rằng “Việc học Phật cần phải “cắt ái, ly gia” vì vậy mà nhân loại đã tạo ra khoảng trống là sự xa rời pháp Phật”.
Nay tôi trình bày việc xiển dương “tự do tình dục” là việc làm không đúng với chánh pháp của nhà truyền giáo cũng lại là vấn đề liên quan đến tình dục.
Nếu tôi không trình bày rõ ràng thì nhân loại lại mặc nhiên tin rằng “Người học Phật phải lìa bỏ tình yêu, hôn nhân, gia đình”. Nhận thức như thế thì con người sẽ khó thể đồng thuận dẫn đến việc xa rời pháp Phật và không thể tùy thuận sống theo chánh pháp.
Thực tế là giáo lý Phật Thích Ca chưa bao giờ khuyên con người từ bỏ yêu thương.
Vậy sao có thể thừa nhận người học Phật là nên lấy “cắt ái, ly gia” làm sự chuẩn mực và là thước đo của việc học Phật?
Người học Phật học gì nơi Phật?
Việc học đó không gì khác hơn ngoài việc học hỏi, hành trì theo chánh pháp.
Chánh pháp là gì?
Chánh pháp có ở nơi đâu?
Chánh pháp có nơi lòng người, lòng người chứa đựng chánh pháp. Thật vậy, sâu thẳm nơi lòng người chính thật là việc cầu giải thoát khỏi mọi khổ đau và sinh tử. Chánh pháp là các pháp giúp con người thực hiện việc thoát ra mọi khổ đau, thoát khỏi sinh tử.
Để rõ hơn vấn đề này tôi sẽ xét lại việc ngài A Nan trúng mê dược của cô Ma Đăng Già suýt phạm giới thể. Phật đã cho người đến nhà cô Ma Đăng Già đưa cả A Nan và cô Ma Đăng Già về gặp Phật.
Việc làm đó nhằm “giải cứu” ai?
Từ lâu, người học Phật cho rằng “Việc làm đó nhằm giải cứu ngài A Nan.
Đây là một sự ngộ nhận đáng tiếc. Thật ra Phật đã giải cứu cô Ma Đăng Già giúp cô không rơi vào tận cùng đau khổ và tuyệt vọng.
Lúc bấy giờ, ngài A Nan đã đạt quả Dự lưu bất thối chuyển. Vạn nhất ngài A Nan phạm sắc giới thì sinh lòng hổ thẹn, sám hối nơi tự tâm và trước đại chúng nhằm phục hồi giới thể.
Việc này hoàn toàn phù hợp với chánh pháp bởi lẽ ngài A Nan không “Tham dâm, túng dục” mà do trúng phải mê dược và gian kế của mẹ cô Ma Đăng Già.
Hơn nữa, ngài A Nan đã đạt bậc bất thối chuyển thì sẽ “Cầm lên được và buông xuống được” nên đối với ngài A Nan mà nói thì đây không phải là kiếp nạn ghê gớm.
Với cô Ma Đăng Già thì lại khác, vừa nhìn thấy ngài A Nan cô đã đem lòng yêu say đắm. Hiển nhiên là ngài A Nan từ chối. Nàng Ma Đăng Già “ngày nhớ, đêm mong” dung mạo đẹp đẽ, khôi ngô của ngài A Nan. Việc yêu đơn phương khiến cô Ma Đăng Già lâm bệnh nặng, thân hình tàn tạ, đến chẳng còn thiết sống. Mẹ cô vì quá thương con nên đã dùng mê dược nhằm giữ ngài A Nan làm “của riêng” cho con.
Nếu Phật không kịp đến giải cứu thì hẳn là trinh tiết của cô Ma Đăng Già không còn.
Nhưng việc đó có giữ được ngài A Nan ở mãi bên cô Ma Đăng Già không?
Nếu ngài A Nan rời đi thì cô ta vạn phần đau khổ.
Còn khi ngài A Nan ở lại và sống trong cảnh “Đồng sàng dị mộng” liệu cô Ma Đăng Già có được mấy ngày vui?
Rõ thật là ngài A Nan không hề yêu cô Ma Đăng Già. Khi đi theo Phật ngài A Nan một lòng cầu giải thoát hoàn toàn, mong chứng quả vị thánh.
Việc hôn nhân của A Nan hiển nhiên là Phật không thể tùy tiện xen vào. Nếu như ngài A Nan cũng yêu thương cô Ma Đăng Già bằng tình yêu nam nữ và muốn cưới cô Ma Đăng Già làm vợ thì hẳn là Phật tác thành mối nhân duyên đó vì thực tế ngài A Nan đã vào bậc bất thối chuyển cho nên việc giải thoát hoàn toàn về cơ bản sẽ không gặp nhiều trở ngại. Đây là lý lẽ đúng thật, không hề trái với chánh pháp Phật Thích Ca.
Có một điều rõ thật là Phật Thích Ca chưa bao giờ khuyên vua cha Tịnh Phạn, vua Tần Bà Sa La, A Xà Thế, Thái tử Kỳ Đà, vị trưởng giả Cấp Cô Độc, ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, y sĩ Kỳ Bà (Jivaka),… “cắt ái, ly gia”.
Nếu việc “cắt ái, ly gia” là “cứu cánh” của đạo giải thoát thì Phật Thích Ca đã nhất mực khuyên vua cha Tịnh Phạn xuất gia, cầu pháp. Người học Phật đừng hiểu sai về chánh pháp của Phật Thích Ca.
Thêm nữa, chánh pháp của Phật Thích Ca khuyên người học Phật không nên tham Dục. Chữ Dục mà Phật đề cập đến không chỉ là tình dục - giới Dâm mà gồm rất nhiều thứ khác như tiền bạc, của báu, địa vị, danh lợi, sắc đẹp,… Vì là khi con người tham đắm dục họ sẽ không từ bất cứ thủ đoạn nào để chiếm hữu, giành giật, cướp về,… làm những việc gây ra hàng loạt đau khổ cho con người và chính cả bản thân.
Nếu con người sống với hành vi chân chính thì không có gì là trái với chánh pháp cả. Đối với giới Dâm có hai vấn đề người học Phật cần rõ biết. Trong đó, chánh dâm là hoàn toàn đúng với chánh pháp vì việc này đảm bảo sự tồn vong của nhân loại, là việc quan hệ tình dục giữa những đôi vợ chồng hợp pháp.
Còn tà dâm là việc làm sai với chánh pháp, nó thể hiện sự “túng dục, khát ái”, buông thả tà tâm, vụng trộm, việc làm không đúng chánh pháp này sẽ khiến con người thân hình suy hoại, héo khô, tâm trí loạn động, chẳng an,… và nơi hành dâm là những nơi được xem là “vũng lầy xã hội” hoặc là những nơi hoang vắng, tối tăm mà người đời thường gọi là “mèo mả, gà đồng”. Khi người tham dâm tạo thành thói quen thì đến lúc chết đi sẽ lai vãng, thọ sinh ở những nơi xấu tối. Cứ thế mà những người “tham dâm, khát ái” sẽ từng bước rơi vào những nẻo xấu trong 6 đường.
…(Còn nữa)
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 2 Tháng 7 17, 2017 3:57 am

(tiếp theo)

Mật tông:
Người học Phật theo pháp tu Mật tông thường xuyên hành trì bùa chú, độ vong,... Việc làm này thường chạm đến cõi vô hình, xen vào nhân quả nghiệp báo. Pháp tu Mật tông có nét giống như Pháp tu của đạo Bà la môn. Pháp tu Mật tông hiện nay chân sư khó gặp, phần lớn người tu pháp môn này dùng phương tiện độ người cõi dưới nhằm thọ nhận vật phẩm cúng dường, tạo ra sự an tâm tu học, dẫn đến việc giải đãi tu hành chờ ngày Phật Di Lặc hạ sinh. Nếu người tu học theo pháp môn Mật tông mà tâm không minh, trí không sáng dễ rơi vào ma đạo. Người tu Mật tông đòi hỏi phải giữ giới nghiêm cẩn. Nhất là dâm giới, khá nên “cắt ái, ly gia” vì việc luyện bùa chú khiến không ít chúng sinh nẻo không thân bên mình phò trợ, cũng như học pháp. Vạn nhất người tu học Mật tông cũng như người thân hành dâm sẽ dễ tạo ra những hình nhân không hoàn chỉnh về thể xác và tinh thần. Nguyên do là có không ít chúng sinh nẻo không thân theo bên mình người tu Mật tông dù chưa kịp xóa đi tâm thức tàn hoại ở tiền kiếp nhưng lại ham thân, vội vàng nhập thai khi có đủ duyên. Đó là điều mà người học Phật cần nên rõ biết.

Trước đây có vị đệ tử của Phật sau khi trì một thời kinh cho một gia đình giàu có. Sau thời kinh, vị đệ tử đó được cúng dường “3 đấu 3 thăng vàng”, vị đệ tử đó trong lòng mừng rỡ về trình với Phật. Phật đã bảo: Trì một thời kinh mà nhận 3 đấu 3 thăng vàng thì con cháu sau này lấy gì mà dùng.

Tôi lại xét câu chuyện này, 3 đấu 3 thăng vàng cho một thời kinh mà sao Phật lại nhận định là ít bởi vì pháp Phật là vô giá. Nếu dùng pháp Phật để mang về lợi dưỡng mà sinh lòng mừng rỡ là đồng nghĩa với vị đệ tử này không cầu pháp xuất thế gian. Hiển nhiên là việc học Phật theo phương cách đó thì khó thoát ra khỏi 3 cõi luân hồi. Con cháu mà Phật dùng nói với người học Phật là ám thị chính người học Phật ở những kiếp về sau chứ không đơn thuần là con cháu của người học Phật vì lẽ con người nếu sống tốt và không có biến cố lớn lao xảy đến trong cuộc sống thì về cơ bản con người sẽ luân chuyển ở kiếp người tại những nơi quen thuộc. Cụ thể là sự luân chuyển chỉ diễn ra trong gia đình, dòng tộc hoặc vùng miền, quốc gia cư trú,... Thế nên vị đệ tử đó sẽ lại là con cháu của chính mình và nhận lấy phần phước báo đã tạo ra. Nhưng quy luật của gia đình, dòng tộc là “Con nước ròng, con nước lớn”, dù cho tiền của có chất cao thành núi thì cũng sẽ có ngày đói nghèo. Bạn hãy cố tìm xem có gia đình, dòng tộc nào giàu có, hưng thịnh mãi không? Đến như trữ lượng khoáng sản dầu mỏ, than đá, các mỏ kim loại,… trong lòng trái đất vô cùng dồi dào, phong phú mà theo năm tháng cứ vơi dần, cạn kiệt dưới sức tiêu thụ của con người. Vậy tài sản của gia đình, dòng tộc lấy gì đảm bảo cho tính bền vững, còn mãi?
Quay lại vấn đề “Khi nào Phật Di Lặc ra đời?”. Ngay trong Hiện kiếp của trái đất sẽ chẳng có Phật Di Lặc ra đời, chỉ có hóa thân Phật Di Lặc khắp mọi nơi. Nhưng hóa thân Phật Di Lặc nếu có thì cũng chỉ do nhân loại nhìn nhận chứ không ở nơi người học Phật vọng ngữ tự nhận mà thành tựu hóa thân Phật. Phật Di Lặc chỉ thật sự ra đời khi trái đất bị nổ tung. Đến mãi hàng ngàn tỷ năm sau, một sự sống mới lại thành hình trên khối vật chất của trái đất được tái cấu trúc. Sự sống tiến hóa dần từ thấp lên cao và đến một lúc nào đó theo tâm ý của chúng sinh nơi trái đất mới mà Phật Di Lặc sẽ hạ sinh. Bạn hãy tự chọn lựa nên giải thoát trong hiện đời hay chờ Phật Di Lặc thọ ký đạo quả.
Hiện nay, người học Phật về cơ bản được chia làm hai dòng tu chính:
Dòng tu tiểu thừa còn gọi Nam Tông, cội nguồn dòng tu là do những vị đệ tử Phật xuôi về phía nam sông Hằng lập nên. Điểm đặc trưng của dòng tu này là người học Phật hành trì dựa theo lối tu của đạo Phật nguyên thủy sơ khai, lối tu này thường mỗi ngày chỉ ăn 1 bữa, được phép ăn mặn. Bởi do những vị đệ tử này sau khi học hỏi pháp Phật đạt bậc bất thối chuyển thì rời Phật xuôi về phương Nam hành đạo, truyền pháp nên về sau không tiếp nhận được thêm giáo lý đại thừa nơi Phật Thích Ca. Nguyên ủy của việc ăn mặn như tôi đã nói từ trước là do việc đi khất thực nên người tại gia cúng dường món gì đành phải thọ thực món đó, khó thể chọn lựa. Song ngày nay, dòng tu này cũng đã hành pháp ở trong các chùa, tự viện.
Khi đã tự túc được việc nấu ăn nên chăng người học Phật chuyển sang dùng thức an chay tịnh?
Việc làm đó nhằm giúp cho thân tâm người học Phật an lạc, nuôi dưỡng lòng từ bi, đức hiếu sinh theo mong mỏi của Phật Thích Ca.
Hơn nữa, việc thường xuyên dùng thức ăn mặn, “món ngon, vật lạ” dễ khiến người học Phật sơ cơ rơi vào lợi dưỡng, lui sụt chí bồ đề.
Lời góp ý vụng về, nếu không hợp lẽ mong người tu Nam Tông độ lượng, bao dung, “Người xuất gia nên mở không nên trói”, việc làm tùy tâm, từ bi hỷ xả.
Dòng tu đại thừa còn gọi Bắc Tông, nguồn gốc dòng tu phát khởi ở những vị đệ tử Phật phát triển, truyền pháp hướng lên phía bắc sông Hằng. Những vị đệ tử này sau khi đạt bậc bất thối chuyển vẫn theo Phật hoằng pháp nên được tiếp nhận thêm phần giáo lý, kinh điển đại thừa. Người tu học theo dòng tu đại thừa việc hành trì dựa vào giáo lý, kinh Phật sau khi chánh pháp được lưu bố rộng ở Ấn Độ. Lúc bấy giờ, người dân các nước quanh lưu vực sông Hằng đã biết đến giáo đoàn khất sĩ, những vị cư sĩ tại gia dựng lên những giảng đường cho khất sĩ có nơi tá túc, trú ngụ. Trong thời gian này, giới luật của đạo Phật đã được thiết lập chặt chẽ gồm khoảng 250 giới đối với sư và 350 giới đối với ni sư. Người học Phật theo lối tu đại thừa về sau thường luôn dùng thức ăn chay tịnh.
Trước khi Phật nhập diệt, Người có phó chúc lại “Giới luật tùy thời có thể bỏ bớt hoặc thêm vào”.
Đây là cái thấy cùng tột của Như Lai. Bởi lẽ khi con người có sự hiểu biết nhất định tìm đến học Phật thì họ sẽ cầu Vô thượng bồ đề mà đến.
Khi đó, họ tự biết hành trì, chuẩn mực đúng với chánh pháp, việc làm hẳn là không phạm vào giới cấm, sẽ có những giới luật bị vô hiệu (Do không có người phạm giới) và những giới vô hiệu thời không cần giữ lại. Đó là cái nhìn thông suốt sáng rõ của người đạt pháp xuất thế gian, chứng trí Như Lai.
Đến nay, giới luật vẫn được giữ nguyên phải chăng người học Phật đã không thật sự sống được trong chánh pháp, vẫn còn sai phạm giới luật?
Có không ít vị Tăng bảo cao niên đã không giữ đúng giới vì cho rằng giới luật chỉ áp dụng cho người sơ cơ học Phật. Việc này khiến cho người học Phật sơ cơ chẳng nhận rõ chân ngụy nơi chánh pháp và “Thượng bất minh, hạ tất loạn”. Những điều tiếng này khiến người tại gia có hiểu biết chẳng thể tin nhận giáo lý nhà Phật.
Tội phá hoại Tam bảo liệu những vị Tăng bảo lầm lạc, nông nổi có thể kham lãnh chăng?
Vì những chỗ không minh bạch đó mà giới cư sĩ tại gia phân người xuất gia ra làm 2 hạng:
- Hạng thứ nhất là người tâm xuất gia, thân xuất gia. Người học Phật thân tâm xuất gia hành trì chuẩn mực theo chánh pháp, giữ gìn phạm hạnh thân, khẩu, ý. Thật đáng tham bái, kính cẩn cúng dường.
- Hạng thứ hai là người thân xuất gia mà tâm tại gia. Người học Phật thân xuất gia mà tâm tại gia thể hiện “Lý sự chẳng đồng, tâm hành sai biệt”, dối truyền nối pháp Phật, phụng sự Tam bảo chỉ mong gồm thâu tài vật, lợi dưỡng, lợi danh,… Thật luống uổng việc tham học giáo lý, kinh điển, mê mờ lý sự, chỉ mong “Chùa to, Phật lớn”, thừa sự cúng dường,… Người học Phật này lầm lạc đường tu bởi do học pháp xuất thế gian mà lầm tưởng pháp thế gian nên bị lưới vô minh che lấp thần trí.
Đối với pháp thế gian, người sống nơi vựa lúa thường chẳng bao giờ sợ thiếu gạo nhưng điều này không đồng nghĩa với việc họ sẽ không rơi vào nạn đói. Người học Phật này cũng lại như vậy ở nơi Tam tạng kinh điển và lại thừa hành phụng sự việc Tam bảo, tạo nhiều phước đức nên cả nghĩ sớm muộn gì cũng được Phật Di Lặc thọ ký đạo quả nên khó thể tiến tu, Phật A Di Đà chẳng thể tiếp dẫn, lại luân hồi trong 3 cõi.
Vạn nhất trái đất nổ tung việc tìm lại “Gương mặt mình lúc cha mẹ chưa sinh ra” phải chăng khó càng thêm khó?
Người học Phật nên chăng sớm mau quay đầu, tìm về bờ giác ngộ.
Khác với cách phân định đại thừa - tiểu thừa như trên, ở những phần trình bày sau tôi sẽ giả lập phân định lại:
- Người tu tiểu thừa là người học Phật theo Thanh văn thừa, chỉ cầu 1 trong 4 quả vị thánh, mọi việc làm Phật sự chỉ mong giải thoát hoàn toàn nơi bản thân ra khỏi 3 cõi và cả những người học Phật giải đãi tu hành, chỉ mong lợi dưỡng,…
- Người tu đại thừa là người học Phật phát tâm bồ tát dũng mãnh, học Phật cầu cả pháp thế gian và pháp xuất thế gian, thường hay tùy nghi dùng pháp, giúp người thoát khổ, chỉ bày chánh pháp chân thật. Tâm bồ tát của người học Phật hiển lộ nơi người sống chứ không phải ở nơi người chết và cõi giới vô hình vì những nơi đó không người nhận biết.
Cả pháp tu đại thừa và tiểu thừa đều là chánh pháp chân truyền của Phật Thích Ca nhưng sao lại có sự sai khác?
Sau khi Phật thành đạo nhận biết chúng sinh trong 6 đường mong cầu dứt khổ, giải thoát hoàn toàn nên Phật đã dấn thân vào con đường truyền đạo.
Lúc bấy giờ, con người chưa biết đến giáo lý, kinh điển chánh pháp nên việc làm có phần tùy tiện, buông lung tánh ý, sống với tâm phân biệt, dính mắc “tham sân si mạn nghi” vì thế cái thấy nghe hay biết bị lưới vô minh che lấp, mê mờ tâm tánh, sự hiểu biết vì thế cũng không còn sáng rõ, khách quan. Phật đã phương tiện giải giảng về luân hồi, nghiệp quả, sự giải thoát hoàn toàn,… Con người qua lời Phật thuyết mơ hồ tin nhận nhưng vẫn không thể rõ biết vì thế Phật lại dùng phương tiện chỉ bày cho người học Phật việc giữ gìn thân, khẩu, ý nhằm thu thúc thân tâm. Việc dừng lặng đó giúp người học Phật chuyển cái hiểu của chánh pháp thành việc hành trì, sống đúng theo chánh pháp. Việc thiền định và quán chiếu giúp người học Phật nhận rõ tự tâm, tường tận chân tánh, thoát ra khỏi tham sân si mạn nghi, dứt trừ khổ đau, đạt được sự tự tại, đắc quả vị thánh.
Rồi khi người học Phật đã sáng rõ chánh pháp, đạt sự tự tại giải thoát thì Phật khuyến khích họ phát tâm đại thừa, lập hạnh bồ tát, cứu độ chúng sinh 3 cõi, làm việc lợi ích cho xã hội chứ không nên giữ riêng sự an lạc cá nhân. Bởi do nếu chỉ biết đến sự giải thoát tự thân thì người học Phật sẽ nuôi lớn bản ngã, chấp giữ đại ngã người học Phật thật sự chưa thể giải thoát hoàn toàn vì còn tâm phân biệt vi tế, nhỏ nhẹm.
Xét lại việc “Trước, Phật phương tiện chỉ bày pháp tiểu thừa. Sau, đúng thời Phật chỉ bày pháp đại thừa”, ta sẽ thấy Phật vì giúp con người nhận rõ tự tâm, vạn pháp đã khuyên người tu học buông bỏ tham sân si qua việc quán chiếu mà nhận biết “vô thường, khổ, không, vô ngã” cùng với việc nhốt thân tâm vào pháp. Đến khi người học Phật không còn tham sân si,… thì Phật hướng họ đến việc mở lòng ra hòa vào cuộc sống, nhằm buông bỏ pháp tiểu thừa, hành trì pháp tu đại thừa, sống tự tại, không dính mắc mọi thứ ở cuộc sống, giúp người sống tốt cũng là giúp mình phá bỏ hoàn toàn bản ngã, đạt sự giải thoát hoàn toàn thật sự.
Vì người học Phật hành pháp đại thừa nơi pháp thế gian mà buông bỏ được bản ngã và tất cả các pháp nên theo cách nói của “Pháp môn không hai” là hành mà không hành, đắc mà không để đắc, không có người để đắc.
Thế nên, việc làm đó là tương ưng, khế hợp với lời Phật đã thuyết “Chánh pháp còn bỏ huống hồ là phi pháp”.
Qua đó, người học Phật sẽ rõ biết “Cứu cánh của đạo Phật không chỉ là sự giải thoát hoàn toàn cho tự thân mà là việc giúp người thoát khổ, chỉ bày và cùng người hành trì đạt sự giải thoát hoàn toàn”.
Tất cả những vấn đề được trình bày ở trên cho thấy tri thức người học Phật và nhân loại đang bị trói trong tấm lưới vô minh, nhị nguyên dày đặc.

Việc các tôn giáo trên thế giới chia rẽ dẫn đến sự phân biệt, giết hại lẫn nhau qua rất nhiều cuộc thánh chiến, tòa án xử dị giáo,… hẳn những việc làm đó không là chủ trương của nhà tiên tri Mohamet, Chúa Jesu,… những vị đó thật sự vốn là những người yêu dân tộc, yêu đất nước. Họ ra đời vì niềm mong mỏi của con người về một cuộc sống ấm no, bình yên, hạnh phúc của đất nước, dân tộc và bây giờ là cho cả nhân loại.

(Vô Ưu- Một thoáng phương đông)
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 7 20, 2017 8:26 am

Những vì sao sáng trên bầu trời Phật giáo Việt Nam lịm tắt...
(VO UU)

Tôi tìm đến đạo Phật chỉ nhằm vào mục đích thoát khổ rồi dần dần liễu ngộ chánh pháp. Và sau rốt tôi thông suốt hoàn toàn con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn khỏi luân hồi sinh tử.
Trên đường tìm đạo tôi được biết đến 4 vị tôn sư danh tiếng, đáng kính.
Sư ông Thích Trí Tịnh, là đại biểu duy nhất của Tịnh Độ tông mà tôi có sự chú tâm. Sư ông là người xiển dương pháp môn niệm A di đà phật, nguyện cầu vãng sanh cực lạc. Sư ông đã viên tịch với niềm tin cõi Tây phương là một nơi thật có. Sư ông là người học Phật rất lâu năm, đóng góp của sư ông cho đạo Phật là rất lớn thông qua công trình dịch giải kinh sách đồ sộ. Dù vậy sư ông không hề liễu ngộ Tam Tạng kinh. Cụ thể là khi còn tại thế ông không sáng rõ được lối đi nơi hậu kiếp, di ngôn của sư ông mong mỏi Phật tử cùng bạn đạo hợp lực hộ niệm lúc ông lâm chung đặng sư ông có thể đến được cõi Tây phương. Thêm nữa, việc không muốn nhận sự lễ bái của người Phật tử vì e ngại là hóa thân Bồ tát tham bái sẽ tổn hại phước lực, công đức cá nhân.
Vị thầy thứ hai tôi biết đến là sư ông Thích Thanh Từ, sư ông là đại biểu ưu tú của Thiền tông Việt Nam, là người giúp dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử khôi phục hưng thịnh. Và rồi sự vô thường đã làm sư ông ngã quỵ, sư ông đã bị tai biến dẫn đến bán thân bất toại. Đây thật sự là điều rất đáng tiếc cho một vị tôn sư khả kính.
Vị thầy thứ ba có công rất lớn, là người giúp tôi nhận diện được sự gần gũi, sáng rõ con đường mà Phật Thích Ca đã dấn thân, Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Tác phẩm Đường xưa mây trắng đã có sự ảnh hưởng rất lớn đến tôi. Tôi rất biết ơn sư ông về điều đó. Tuy nhiên, khi điểm qua bộ kinh Dấu chân voi và vài bộ kinh sách khác do sư ông dịch giải tôi đã sớm nhận ra mức chứng ngộ giới hạn của sư ông. Đã từng có lúc tôi hy vọng được cùng sư ông đàm đạo về chánh pháp, song duyên gặp mặt của tôi cùng sư ông có lẽ đã không còn. Vừa qua tôi được biết sư ông bị xuất huyết não và đã vượt qua cơn nguy kịch.
Điều đáng tiếc đã xảy ra khi tôi được biết các vị đệ tử của sư ông đã lập đạo tràng ra sức hộ niệm nhằm trợ lực cho sư ông, một việc làm chứa đựng điều mê tín, hoàn toàn không đúng với chánh pháp.
Có vẻ như những người đệ tử và người học Phật quy thuận sư ông đã không sáng rõ chánh pháp hay chính sư ông cũng đồng thuận việc hộ niệm "tiếp hơi".
Là những người học Phật theo pháp môn thiền sao lại u mê chánh pháp đến vậy? Cớ sao lại lấy vọng làm chân, cả tin việc hợp nhất trì tụng sẽ giúp sư ông có thể khỏe lại và sống dài lâu?
Người học Phật sao lại đi làm việc tuyên truyền mê tín dị đoan?
Sự chín chắn của chánh pháp và danh tiếng của sư ông Thích Nhất Hạnh lại bị chính những người yêu thương, kính trọng hủy hoại.
Nếu rõ biết lý sự vô thường thì người học Phật hãy nên để sư ông nghỉ ngơi sau ngần ấy năm cống hiến cho chánh pháp, cho đạo Phật.
Hơn nữa, dù có tín thành hộ niệm đến mấy thì không có một ai có thể cưỡng lại quy luật vô thường. Thế nên buông là việc nên làm. Việc yêu kính sư ông nên gìn giữ ở trong tim.
Người Tăng bảo thứ tư tôi biết đến là sư ông Thích Thông Lạc. Sư ông là người ra sức khôi phục dòng Thiền nguyên thủy theo cách nghĩ của riêng mình. Có những việc sư ông làm đúng nhưng cũng có rất nhiều việc sư ông làm không thật đúng. Tính cực đoan, chủ quan được thể hiện rõ nét qua những bộ kinh sách mà sư ông dịch thuật và diễn giải. Sư ông gần như là phủ định sạch trơn hệ thống kinh điển đại thừa và những dòng tu học Phật sai khác với cái nghĩ của cá nhân sư ông. Song có một điều chắc chắn rằng chánh pháp không thể do cá nhân của sư ông mà có được. Và cũng chính do tính cực đoan, chủ quan, cứng nhắc của sư ông đã ảnh hưởng rất nhiều đến những người học Phật quy thuận theo pháp môn thiền của sư ông.
Cụ thể là sự cực đoan, chủ quan, phiến diện,... việc bộc lộ bản ngã tự phụ luôn luôn đúng thường được người học Phật theo pháp môn của sư ông thể hiện. Dù rằng cá nhân họ chưa sáng rõ con đường chánh pháp cũng như cách thức thoát khỏi lưới mộng luân hồi nhưng sự bảo thủ, cứng nhắc thường được thể hiện qua ngôn từ, lời nói của những người học Phật chịu sự ảnh hưởng từ sư ông. Một mặt họ lập ngôn "Y pháp bất y nhân", "Tự thắp đuốc mà đi" nhưng đi lối nào thì gần như không có một ai rõ cả. Lại nói lời khẳng định là nương vào giới định tuệ nhưng dường như những người nói ra những điều đó thường không giữ đúng giới mà sư ông hiệu đính và cũng không có người học Phật nào quy thuận sư ông đạt được sự chứng ngộ hoàn toàn cả.
Sư ông Thích Thông Lạc đã viên tịch và có một tấm màn bí ẩn được dựng lên. Đã có những thông tin không thật liên quan đến việc chọn ngày tịch của sư ông, việc lập danh sách và công bố những người tu chứng theo pháp môn sư ông chứa điều trá nguỵ. Sự thật là sư ông mất mà chưa tìm được người kế thừa tông phái. Kết quả của việc không tìm được người kế thừa là cảnh "nồi da xáo thịt" của dòng Thiền nguyên thủy mang đậm dấu ấn của sư ông. Đất đai Thiền viện Chơn Như và Chùa Am đang có sự tranh chấp gay gắt giữa người cô và người cháu của sư ông, họ đều là những người học Phật theo pháp môn của sư ông. Đây thật sự là một điều rất đáng tiếc cho sư ông Thích Thông Lạc. Giáo lý, kinh sách của sư ông không đủ sức giúp những người kề cận, người thân của sư ông dứt trừ được Tham sân si mạn nghi.
Từng vì sao sáng trên bầu trời Phật giáo Việt Nam tắt lịm, một khoảng lặng mênh mông trải rộng trong lòng của đóa vô ưu.
Những vị tôn sư danh tiếng đã lần lượt nằm xuống mà con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn khỏi sinh tử luân hồi vẫn còn nghẽn lối nơi những người học Phật tín thành. Con đường chánh pháp hãy còn mơ hồ, tăm tối.
Có chăng là sự cuồng tâm, mê tín, chủ quan và tự phụ hơn người?
Một câu "Hãy tự thắp đuốc mà đi" là không đủ để đưa những người học Phật cứng nhắc, bảo thủ sáng rõ chánh pháp. Tín nguyện hành, giới định tuệ, văn tư tu,... những câu chữ không giúp người học Phật không mở lòng tư duy tu sáng rõ con đường đạo.
Thế nên một khi tìm về đạo Phật người học Phật cần phải xác định cho sáng rõ, đúng mực về đích đến của bản thân. Là thoát khổ hay muốn thoát khỏi hoàn toàn sinh tử cần phải được rạch ròi thì mới có cơ may về đến đích an toàn.

Trân trọng!
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 6 Tháng 7 21, 2017 9:31 am

Hãy mơ một giấc mơ đẹp.
(VO UU)

Chủ nghĩa thực dụng đang xây dựng cho nhân loại một nhận thức đi tìm cái hay, cái đẹp trong cuộc sống. Bạn cứ ngỡ những cái hay, cái đẹp là rất nhiều nhưng cuộc sống không phải vậy.
Ẩn chứa bên trong sự hào nhoáng, vinh quang, bóng bẩy,… là những xấu xa, khốn cùng, tranh đua nghiệt ngã,…
Bạn có thể đánh mất chính bạn trước tham vọng danh lợi, bạc tiền.
Khi đó nhân cách, phẩm giá của con người bạn sẽ thả trôi theo dòng nước chảy, bạn được gì?
Danh phận hão huyền, tiền của như mây.
Bạn mất gì?
Mất đi sự tôn quý của bản thân, người thân rời bỏ. Xung quanh bạn là những toan tính, lọc lừa, tư lợi cá nhân. Quần áo tinh tươm, trang sức lộng lẫy, sự quyến rũ của hương nước hoa,… không che dấu sự băng hoại tâm hồn, những vết bẩn dơ tinh thần không thể gột rửa. Bạn hụt hẫng, gục ngã và cuồng loạn trong sự phồn vinh giả tạm.
Tuy nhiên, cuộc sống vẫn có mùa xuân hoa nở, tiếng mẹ hát ru con, những đêm trăng thanh gió mát, tiếng gà gáy trưa,… những điều đó làm cho cuộc sống rộn niềm vui và hạnh phúc.
Những cái đẹp, cái hay khi bạn cố tìm thì sẽ mất. Bạn nên đi tìm những cái hư, cái xấu để chúng mất dần đi. Bạn hãy đi tìm mặt trái của cuộc sống bạn sẽ nhận ra điều kỳ diệu. Khi đó, bạn sẽ nhận ra những cảnh đời bất hạnh những người mù lòa, tật nguyền lân la xin từng cái bánh, miếng ăn. Những thân hình kỳ dị, đầu to, tay chân teo tóp. Những người già lưng còm rao bán những tờ vé số rủi may.
Bạn còn nhận thấy nước mắt người mẹ chảy dài khi người con nghiện ma túy, nỗi đau của người cha cũng thầm dậy trong lòng,… Khi cầm lấy chén cơm bạn sẽ nhìn thấy rất nhiều những mảnh đời đói lạnh,... bạn sẽ quý hạt cơm hơn vì bạn biết rằng bạn còn có cơm ăn. Bạn thương quý gia đình hơn và hiếu thuận quay về...
Bạn cứ tiếp tục đi tìm ở những nơi tận cùng cuộc sống, sự sống vẫn tồn tại dù rằng rất khổ đau. Những người bạn nhiễm HIV đang chờ tử thần réo gọi, họ vẫn kiên tâm, gắng gượng nở nụ cười kìm nén nỗi đau, họ vẫn sống, vẫn làm việc.
Những trại trẻ mồ côi, những khu nuôi dưỡng người điên loạn, những nạn nhân chất độc màu da cam dường như hôm nay rộn ràng hơn ngày hôm trước bởi lẽ đã có những tấm lòng vàng đang nhen nhóm những niềm vui. Bạn sẽ thấy cuộc sống sẽ ý nghĩa hơn vì bạn học được sự hiểu biết để thương yêu.
Bạn cứ hãy đi tìm những trái ngang của cuộc sống cho đến khi bạn vỡ oà cảm xúc cuộc sống thật ngập tràn sự tươi đẹp lẫn niềm vui.
Bạn nghĩ sao?
Hơn 60 năm một cuộc đời?
Đời người dài rộng hay dường như ngắn ngủi?
Phải chăng cuộc đời chỉ như là một giấc mơ thoáng qua?...

Nếu bạn nhận ra đời chỉ dường như là một giấc mơ. Bạn hãy mơ một giấc mơ đẹp và giữ lấy điều mầu nhiệm đó. Cuộc đời bạn sẽ đẹp tươi khi bạn biết giữ gìn./.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 7 26, 2017 9:12 am

Giải đáp thắc mắc của một bạn đọc.
(VÔ ƯU)

Hỏi : Bạn thân mến!
Khi đọc sách của bạn tôi rất lấy làm vui mừng. Có một trí tuệ và tình thương như thế không dễ mấy ai có được. Song tôi có những suy nghĩ cá nhân, bạn có thể cho ý kiến nhé…
…Qua chuyện cuốn sách của bạn tôi cũng nghĩ nhân loại không dễ gì chấp nhận cuốn sách của bạn. Đơn giản là nhân loại không còn tin vào bản thân họ và cũng không tin vào con đường tự giải thoát mọi đau khổ mà các hiền thánh và đến hôm nay là Vô Ưu đã chỉ dạy. Chính vì lẽ đó mà ngày nay không mấy ai tu đạo mà đạt đạo chỉ đơn giản họ đã gắn cho tâm mình một cái danh. Bởi vì Phật đã từng nói: Thuyết pháp 49 năm mà chưa hề nói một chữ. Chính vì Pháp Phật xét cho cùng cũng không có cái gì cả. Vì chỉ cần buông bỏ cái bản ngã của mỗi người và sống với cái (tánh không bất sinh) đó thì được giải thoát cũng thế với cái đại giác Phật đâu có còn tự ngã nữa mà bảo độ với không độ với bất cứ ai? Chỉ đơn giản là chỉ cho con đường buông bỏ để đi đến giải thoát hoàn toàn. Nhưng loài người không chịu hiểu ý của Phật lại bày đặt đủ mọi kiến giải dẫn đến sai lầm ngày nay. Tôi hiểu ít, biết ít chỉ có như thế không biết có đúng không? Nếu cần bạn chỉ thêm ra để được sáng tỏ, nếu sai cứ chỉ dạy không sao cả.

Trả lời:

Lời đầu tôi xin gửi lời cảm ơn bạn đã đồng cảm cùng tôi. Cũng cảm ơn bạn đã có lời nói hay tặng dành cho tôi khi duyệt sách Hãy là đường mây trắng bay… và thẳng thắn chia sẻ suy nghĩ của mình. Và một lần nữa tôi xin không dám gánh 2 từ chỉ chỉ dạy không chỉ với riêng bạn mà với tất cả mọi người. Thật lòng tôi không hề có ý nghĩ và cũng không dám chỉ dạy ai cả. Tôi chỉ nói ra những điều mình biết. Còn việc đúng sai, hay dở,… thì tôi để mọi người toàn quyền phán xét, nhận định.
Bạn nói bạn không biết nhiều về Phật giáo thì tôi không đồng thuận với bạn về điểm này. Bởi lẽ bạn biết nhiều về giáo lý nhà Phật và ít nhiều gì đã bị kinh sách Phật trói. Có thể bạn thấy tôi quá lời, vội vàng đánh giá bạn - Một người mà tôi chưa được tiếp xúc, trò chuyện nhiều. Nhưng bạn hãy thong thả để rồi sau bài viết này bạn rõ biết “Tại sao tôi đã vội vàng nhận định như vậy?”.
Tuy nhiên, bạn bị kinh Phật trói không phải vì bạn kém mà là do những người dịch giải kinh sách diễn nghĩa chưa đúng mực. Có thể nói ngay khi dịch kinh những bậc thầy học Phật đó đã chưa giác ngộ hoàn toàn, dẫn đến dịch kinh chưa liễu nghĩa. Tôi không nói họ không tỏ ngộ mà là chỉ tỏ ngộ chưa hoàn toàn mà thôi. Tôi cũng biết kinh điển bạn được xem và mở lòng bạn là do những bậc Cao Tăng đức cao vọng trọng nhưng điều đó không có nghĩa họ đã “thấu suốt” Tam tạng kinh. Thế nên việc diễn giải không trọn ý kinh cũng là lẽ thường.
Bạn thấy tôi đang hạ thấp người xuống nhằm nâng sự tỏ ngộ của mình lên, chứng thực bản thân đạt đạo. Nếu điều đó là đúng thì tôi thật đã rơi vào đại ngã mất rồi. Nếu bạn cảm nhận tôi rơi vào đại ngã thì cũng không sao cả, bạn vẫn còn sự chọn lựa rời xa tôi hoặc tránh những điều sai tôi đã làm thì cũng tốt. Đúng không?
Tuy nhiên, nếu rõ biết mọi lẽ vô thường, danh lợi phù hoa, bào ảnh,… mà tôi vẫn đeo giữ hư danh, chứng thực đạt đạo để rơi vào đại ngã tiếp tục trôi lăn trong sinh tử luân hồi thì không phải tôi là kẻ đại ngốc sao? Thế nên nếu tôi vẫn nói lời cao ngạo thì đó chỉ là thuận duyên mà nói, hy vọng nói để cảnh tỉnh người mê mà thôi.
Và tiếp theo đây bạn sẽ lại thấy dường như tôi đang bị đại ngã trói chặt vì lời lẽ ngông cuồng, dưới mắt không người.
Ngôn từ, lời nói của con người đã bị bệnh hoạn, nhiễm ô mất rồi. Đó là nhận định mà tôi đã từng nghe một ai đó nói. Và … người đó đã nói đúng. Bởi lẽ ngôn từ, lời nói lẽ ra dùng để diễn đạt ra ý nghĩ, sự thật nhưng ngôn từ con người đang dùng hiện tại thì lại che giấu sự thật, không dám nói ra ý nghĩ, lòng mình,… Không chỉ vậy ngôn từ đang bị biến chuyển thành một công cụ hữu hiệu để con người dối lừa nhau, tô hồng, sơn phết phần lớn vấn đề khiến con người chìm sâu trong sự ngộ nhận vô minh…
Dù vậy tôi vẫn phải dùng ngôn từ bị cho là ô nhiễm đó để nói rõ về bản chất mọi vấn đề, về sự thật. Và … để trả lại sự trong sáng của ngôn từ, lời nói thì tôi sẽ sử dụng ngôn từ một cách tà quái, bá đạo, đầy ma thuật biến ảo khôn lường…
Với Phật giáo tôi cũng có chút duyên và một niệm đau về đạo Phật ngày nay khi thấy người học Phật hiện tại lầm lạc ý kinh khiến cho đạo Phật không còn nhiều giá trị từ bi mà Phật Thích Ca phải bỏ công 49 năm đi chân trần trao truyền chánh pháp.
Bạn đã nói đến hai chữ hiền thánh và những người nỗ lực truyền trao về con đường giải thoát hoàn toàn nên tôi sẽ đóng góp thêm một ý. Đó là ngoại trừ Phật đạt được sự giác ngộ giải thoát hoàn ra thì người học Phật về sau đều không đạt đến mức giác ngộ đó. Các vị Tổ cũng thế, họ đạt sự giải thoát hoàn toàn nhưng không hề giác ngộ hoàn toàn và những người học Phật về sau ít nhiều gì cũng bị kinh Phật trói. Có thể họ không bị trói về tâm (đạt sự giải thoát hoàn toàn) nhưng lại bị trói về hành vi, cách đối mặt với cuộc sống, nhốt thân vào đạo Phật và xa lánh người đời, cô phụ từ bi tâm của Phật Thích Ca. Bởi do trói vào quan điểm “Trao truyền chánh pháp tùy duyên” mà tạo ra lỗi lầm đáng tiếc. Nếu chánh pháp bị mai một, thất truyền khiến xã hội, lòng người hỗn độn, rối ren, diệt vong loài người chẳng phải là đã “có lỗi” với Phật Thích Ca chăng? Nếu có người giác ngộ hoàn toàn thì đạo Phật đã không suy vi đến vậy, rồng thời vắng, rắn thời nhiều. Nếu có người thật sự tỏ ngộ thì đạo Phật không thể xếp sau Kito giáo, Hồi giáo,… về số lượng người tin nhận và xã hội, lòng người nhờ sự tồn tại của chánh pháp sáng rõ đã không hỗn độn, rối ren, bát nháo như hiện nay. Đó là điều đáng tiếc của hơn 2500 năm tồn tại giáo lý nhà Phật. Vì rõ biết nhân loại không xuất hiện một người giác ngộ hoàn toàn sau thời Phật Thích Ca mà Vô Ưu mới phải lủi thủi viết sách.
Khi tìm hiểu giáo lý nhà Phật, người học Phật thường bị vướng vào ma trận ngôn từ. Người học Phật có chứng, có đắc rồi người học Phật không có sự chứng đắc, người nào nói chứng đắc thì là không đúng với tinh thần nhà Phật và là kẻ lừa đảo tâm linh… Vướng vào cái mớ bòng bong này những người chưa chứng ngộ hoàn toàn tự nhận chứng đắc cũng dở mà nói đã chứng đắc để tiện bề trao truyền chánh pháp cũng không xong. Thế mới khó cho người học Phật có từ bi tâm. Thế nên, về sau nếu có người tự nhận chứng ngộ thì cũng lẽ thường và muốn biết họ có thực sự chứng ngộ không thì hãy nhìn xuyên suốt cả cuộc đời của họ. Tuy nhiên, thật ra họ có chứng ngộ hay không thật không quan trọng mà quan trọng là những điều họ trình bày có giúp bạn giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, thoát khổ, an lạc hay không mà thôi.
Sự chứng đắc là thật có. Có chứng đắc thì mới có con đường nói về sự giải thoát hoàn toàn. Sự tỏ ngộ thì có cao thấp, nông sâu nhưng không hẳn phải giác ngộ hoàn toàn thì mới có giải thoát hoàn toàn. Con người có thể giải thoát hoàn toàn mà không cần đến chứng ngộ toàn phần. Và… thời gian học Phật không quyết định nhiều cho vấn đề chứng ngộ. Vì có sự chứng đắc nên con người mới giữ giáo lý nhà Phật lại để học hỏi, tìm hiểu, tham cứu. Vì có chứng đắc nên mới có người học Phật nếu không học Phật làm gì?
Thực ra là có sự chứng đắc thật sự nhưng chứng đắc thì cũng đâu phải là điều gì to tát cho cá nhân người đó. Nếu có chăng thì kết quả của việc chứng ngộ là ích mình, lợi người.
Tại sao có sự chứng đắc mà giáo lý nhà Phật không cho người chứng ngộ thừa nhận có đạt đạo?
Bởi lẽ chứng ngộ có nhiều bậc, Phật vì sợ người học Phật chỉ mới chứng ngộ một vài phần đã vội nhận đạt đạo dẫn đến lui sụt chí bồ đề do hiển lộ đại ngã rơi vào lợi dưỡng, lợi danh mà lập ngôn như thế. Kết quả là người chứng ngộ không hoàn toàn và nhân loại bị trói trong cái vòng lẩn quẩn có chứng đắc, không chứng đắc.
Một điều quan trọng khác mà người học Phật đạt tỏ ngộ hoàn toàn rõ biết về sự chứng đắc đó là họ chứng ngộ tánh không của vạn pháp. Rõ biết tánh không vạn pháp, chứng ngộ tánh không thì sao có thể nói có chứng, có đắc. Bởi lẽ nếu lập ngôn hỏi “Anh chứng ngộ gì?” chẳng lẽ trả lời chứng ngộ không = không chứng ngộ. Vì không tỏ ngộ hoàn toàn người học Phật ngán ngại nhận sự tồn tại của việc chứng đắc. Và có một vài người chứng ngộ Tánh không chưa hoàn chỉnh xoay qua chấp không, sống mà như chết không làm được gì lợi ích cho việc trao truyền chánh pháp, cô phụ tâm từ của Phật Thích Ca.
Cám ơn bạn đã rào đón lo lắng, sợ tôi rơi vào đại ngã mà lao nhọc, mệt người, khổ thân. Hôm nay, tôi thừa nhận đã chứng ngộ pháp vô sanh và bạn hãy xem cách nói của người chứng ngộ hoàn toàn khác với cách nói của người chứng ngộ không hoàn toàn như thế nào nhé.
Bạn đừng vội nhận định tôi đang dùng đại ngã nói chuyện cùng bạn mà đánh mất sự khách quan khi nhìn nhận những vấn đề tôi trình bày. Bởi lẽ người chứng ngộ toàn phần không bị trói vào ngã và vô ngã nên không vướng đại ngã. Còn quẩn quanh nơi ngã và vô ngã mới là những người học Phật rơi vào đại ngã. Bạn thấy dường như tôi có phần cưỡng cầu xuất bản sách, theo đuổi hư danh. Thật ra là tôi còn sống thì tôi sẽ làm, còn việc làm được hay không với tôi không quan trọng. Bạn hãy chú ý cụm từ “với tôi không quan trọng” bởi lẽ với người khác thì là chuyện khác.
Giả như ngày mai tôi vội vàng bước sang đường, một chiếc xe tông mạnh vào người, tôi vong mạng hoặc giả như có một ai đó trong số những người bị tôi va chạm đến lấy mạng tôi thì việc làm của tôi xem như đã xong. Sách có được in hay không thì đã không dính gì đến tôi cả. Thế nên việc cưỡng cầu in sách ở tôi không thành lập mà vì khi sống tôi không muốn mình cô phụ tấm lòng Phật Thích Ca và vì người mà sống. Làm hết khả năng của mình thế thôi, không sống như người chết khi chưa xong việc cần làm. Được mất, thành bại,… không chấp giữ trong lòng thì đại ngã ở nơi nào? Lao tâm, khổ trí ở nơi đâu?
Sự giống nhau giữa Phật Thích Ca và Vô Ưu là làm việc tùy thuận dù vậy giữa 2 người có sự khác biệt cách thức trao truyền chánh pháp.
Sự khác biệt cách thức truyền trao chánh pháp giữa Phật Thích Ca và Vô Ưu là do yếu tố thời đại.
Thời đại của Phật Thích Ca chưa có phương tiện giao thông đi lại thuận lợi, tri thức nhân loại hãy còn thấp, và chánh pháp về con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn chưa được rộng truyền nơi xã hội vì lẽ đó Phật đã bảo lưu mạng sống và đi truyền trao chánh pháp trên đôi chân trần vượt qua muôn vạn dặm đường đời bằng cách thức truyền miệng để tỏ bày cho con người về một con đường giải thoát hoàn toàn vượt qua sinh tử luân hồi. Người đi từng bước ung dung, tự tại trao truyền chánh pháp sáng rõ qua hình thức hỏi đáp cùng mọi người. Khi con người có chướng ngại về tư tưởng, tinh thần đặt vấn đề hỏi thì Phật tùy thuận trả lời. Với lời nói nhu hòa, đầm ấm tình thương Phật đã giúp cho nhân loại biết về con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, cứu khổ chúng sinh nơi 3 cõi, giữ lại phần người nơi người sống,…
Còn thời đại Vô Ưu thì mọi sự đã nhiều đổi thay, tri thức con người nâng cao. Con người bị chủ nghĩa duy vật “chặn đứng” sự hiểu biết về phần tâm linh của con người. Chủ nghĩa thực dụng và sự hiểu biết chủ quan, phiến diện đã trói con người vào tình cảnh “Con người sẽ biết mọi thứ cả vũ trụ nhưng lại không rõ biết về thể xác và phần tâm trong chính con người, chẳng rõ phần tâm và thể xác gắn kết, vận hành ra sao? Kết quả là con người sống trong tham đắm, u mê và hoài nghi sự thật. Không nhận biết và bỏ qua câu hỏi “Ta là ai? Tại sao ta tồn tại? Trước khi sinh ra ta ở đâu và khi chết ta sẽ về đâu?”… Bỏ quên sự hiểu biết chính mình là nguyên nhân khiến nhân loại sống trong thực dụng, ích kỷ, cuồng loạn. Do bị trói nơi tư duy chủ quan mà tri thức nhân loại đã không đặt ra những câu hỏi với đại ý như trên thì câu trả lời lại càng không có trong Bách khoa toàn thư của nhân loại. Trước tình cảnh đó tôi đã “làm mới” cách truyền trao chánh pháp Phật Thích Ca. Viết sách và trả lời những câu hỏi, những gút mắc trong nội tâm của số đông người mà không chờ đợi người khác đặt ra những câu hỏi. Ngôn từ thì cao ngạo, ngông cuồng và có phần “đao to, búa lớn” những mong cảnh tỉnh người mê. Bán mạng, viết sách nhằm tạo tiếng vang nhằm giữ lấy và làm sống lại chánh pháp sáng rõ của Phật Thích Ca trong lòng nhân loại. Bởi lẽ tôi rõ biết đó là chiếc chìa khóa duy nhất tháo gỡ những rối ren, hỗn độn, bát nháo nơi xã hội và lòng người. Nếu phải đổi một mạng để đem lại bình yên, hạnh phúc, yêu thương bác ái nơi nhân loại thì đâu phải là cuộc đổi chác thua thiệt cho tôi. Có thể nói tôi đang vẽ đường cho hươu chạy vì nhận biết hươu đang lao nhanh vào cạm bẫy, hố sâu nên tôi mới vẽ đường. Dù vậy việc hươu có chạy theo lối tôi vẽ, hay chạy càn thì là việc ngoài tầm với của tôi, thật tôi không thể cưỡng cầu hươu chạy theo ý mình dù rằng tôi có ý tốt cứu giúp hươu.
Nếu việc làm không thành thì tạm nói tôi cũng đâu có thiệt hại gì đáng kể. Còn bằng mất mạng vô nghĩa thì không thể có. Dù cho có mất mạng thì sự thật cũng đã được hiển bày, phao cứu sinh đã có, còn dùng hay không là việc của người còn lại. Tuy nhiên, trong nội tâm của mỗi con người đều mong muốn, ước mơ về một xã hội hài hòa, bình đẳng, bác ái,… thì tôi có thể mất nhưng sự thật đó nhân loại không thể chối bỏ và từng bước dựng xây một Kỷ Nguyên Con Người Sống Trong Sự Hiểu Biết Khách Quan. Tiến trình tiến đến Kỷ Nguyên Tươi Đẹp nhanh hay chậm là tùy thuộc vào tốc độ lan truyền sự hiểu biết khách quan, sáng rõ của bạn và mọi người…
Tôi đã chuyển thể sự siêu hình, huyền hoặc,… có nơi kinh điển không liễu nghĩa thành những bài viết gần gũi, mộc mạc mà mọi người dễ dàng nhận biết, lĩnh hội. Tuy nhiên lĩnh hội và thật sống lại không là một. Dù vậy rõ biết chánh pháp rồi từng bước sống được trong chánh pháp sẽ tốt hơn, dễ dàng hơn là không biết gì về chánh pháp. Có thể với nội dung những bài tôi viết bạn cảm nhận rất dễ hiểu, lĩnh hội,… Có thể sẽ có nhiều người viết được thậm chí viết hay hơn. Nhưng thật ra để viết ngần ấy vấn đề hiển bày ra bản chất rõ ràng như thế thật không hề đơn giản. Ngay cả chính tôi cũng không nghĩ mình đã làm được điều đó. Cách đây 3 năm tôi chẳng thể viết được 1 vấn đề trong số những bài viết thì nói gì viết đến ngần ấy vấn đề. Chỉ mất 3 năm mà tôi đã có sự đổi thay như vậy. Vì thuận duyên mà viết, nếu biết làm việc không lợi ích thì hẳn là tôi đã không viết sách để tỏ bày những điều rõ biết. Bởi vì việc làm đó không cần thiết, vô nghĩa và mệt óc nếu tôi cưỡng cầu làm…
Quay lại những vấn đề bạn đã đặt ra, tôi sẽ trình bày…
Phật không thể độ người không có duyên, Phật không thể thay đổi định nghiệp của chúng sinh, Phật không thể độ hết chúng sinh.
Dù là khách quan dịch giải nhưng người dịch đã không thể chuyển tải được tâm Phật đúng mực. Không hẳn người dịch thuật dịch giải sai mà có câu “Y kinh giải nghĩa Tam thế Phật oan. Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết”. Vì thế người dịch đã vấp lỗi này. Còn tôi thì ly kinh mà thuyết đồng ma thuyết nhưng con ma này có chút ít tâm Phật…
Phật không thể độ người không có duyên đã thiếu chuẩn vì lẽ liệu có mấy ai có duyên tiếp cận, gần gũi Phật. Hiện nay, Phật nhập diệt thì làm sao chúng sinh nơi 3 cõi có cơ may diện kiến, chẳng lẽ con người ngày nay đều không có duyên với Phật? Không còn có sự giác ngộ giải thoát hoàn toàn chăng?
Thực ra không có duyên gặp Phật thì hãy còn duyên gặp Pháp. Điều quan trọng nhất là có duyên tiếp cận với kinh liễu nghĩa, chánh pháp chân thật sáng rõ hay không? Chỉ khi đó thì con người mới dứt hoài nghi và chọn lựa con đường để bước tiếp. Điều đáng tiếc là các dịch giả đã biết nói kinh Phật là ngón tay tay chỉ mặt trăng chứ không là mặt trăng nhưng lại không thể nói rạch ròi, đúng mực về ngón tay chỉ mặt trăng, rồi thêm chuyện vẽ vời hướng ngón tay chỉ về mặt trăng ở các hướng đông tây nam bắc,… Mỗi người chỉ một kiểu khiến tâm trí người học Phật ngày nay thêm rối bời, hoang mang. Không có duyên gặp Phật là ám thị không có duyên được đọc chánh pháp sáng rõ chân thật hoặc cầm trên tay chánh pháp chân thật mà lại không có thời gian xem qua, đem đặt lên kệ sách rồi quên bẵng hoặc là người không thích đọc sách mà có trong tay quyển sách chứa chánh pháp chân thật thì cầm bằng vô dụng… Không có duyên với Phật lẽ ra phải diễn giải như thế.
Phật không thể thay đổi định nghiệp của chúng sinh. Điều này đúng một phần vì Phật không thể thay đổi định nghiệp của chúng sinh nhưng có thể giúp chúng sinh tỏ ngộ và tự chúng sinh đó sẽ thay đổi định nghiệp của chính mình. Nếu nhìn trên diện rộng thì Phật đã thay đổi định nghiệp của chúng sinh rồi. Có phải lập luận này không mắc lỗi, đúng không bạn?
Phật không thể độ hết chúng sinh. Câu này chuẩn vì chung quy lại Phật đâu có độ ai thành Phật hoặc giải thoát hoàn toàn mà tự mỗi chúng sinh độ chính mình để thôi không trôi lăn trong sinh tử. Và… không thể độ hết chúng sinh vì chúng sinh không thể thành Phật cả. Nếu mọi chúng sinh trong 3 cõi 6 đường thành Phật cả thì sự sống nơi vũ trụ còn lại gì, không Phật, không chúng sinh. Thật tẻ nhạt. Dù rằng Phật cảnh tỉnh người mê nhưng tự họ phải độ lấy chính họ…
Từ bi tâm của Phật không phải là món đồ đáng vứt đi vì thế mà kinh điển nhà Phật còn tồn tại đến ngày nay. Đó là giá trị của từ bi tâm có nơi thương hiệu Phật Thích Ca.
Lại như trong kinh Kim cang có nói chúng sinh muốn tự giải thoát thì phải độ chúng sinh trong tâm mình cho vào vô dư niết bàn... chứ không phải độ chúng sinh bên ngoài. Vậy xét cho cùng ai muốn đi đến giải thoát thì chỉ còn cách là mình tự tin vào mình vào theo con đường chỉ dạy mà Đức Phật đã nói để đi thì tự mình được giải thoát. Chính vì vậy mà con người không thể cứ gượng ép để giáo huấn, chỉ bày... Vì từ thời trước Phật ra đời đến khi nhập diệt đến nay, xét cho cùng có rất nhiều thánh nhân chỉ dạy. Song nhân loại vẫn trượt trên con đường tham lam ích kỷ, dẫn đến nguy cơ hủy diệt. Nhưng chắc chắn vẫn có những con người đã giác ngộ… Nhưng theo tôi nghĩ người giác ngộ (tự giác) thì cứ giác ngộ, nhân loại đắm chìm vẫn cứ đắm chìm thế mới đúng luật tối thượng chứ.
Kinh Kim Cang là bộ kinh được rất nhiều cao Tăng, chân sư dịch giải. Dù vậy cũng không hẳn đã liễu nghĩa và bạn cũng đã không lĩnh hội đúng mực lời dịch giải.
Nếu xử sự như vậy thì chỉ có tự giác (tự giác ngộ) mà rời giác tha (độ người, trao truyền chánh pháp) thì chỉ ở một bên, mất lý trung đạo. Rơi vào một bên thì con đường giác ngộ giải thoát hoàn toàn khó thông. Người giác ngộ hoàn toàn rõ biết không có chúng sinh trong tâm và ngoài tâm, xử sự tùy thuận, đúng mực. Nói mà không nói, làm mà không làm. Thế nên không có sự gượng ép, giáo huấn, chỉ bày chi cả.
Song nhân loại vẫn trượt trên con đường tham lam ích kỷ, dẫn đến nguy cơ hủy diệt. Vì sao? Vì lẽ chánh pháp mà Phật Thích Ca đã mất 49 năm truyền lại bị mai một, không còn sáng rõ và ngoi ngóp thở dốc. Thế nên Vô Ưu phải vụng về để lộ hành tung, giải cứu chánh pháp Phật Thích Ca.
Bạn nói đến Vô dư niết bàn. Bạn biết gì về vô dư niết bàn? Nó ở đâu? Có tồn tại hay không?
Nghe chừng bạn nghĩ vô dư niết bàn tồn tại ở một nơi nào đó xa xăm, nơi người đạt sự giải thoát hoàn toàn khi chết lui về. Phải không bạn? Đó là một tư duy sai lầm. Nhưng tôi sẽ không chỉ ra nếu bạn chưa thật muốn rõ biết về nó. Tôi không giấu bất kỳ điều gì có lợi cho sự trở lại của chánh pháp chân thật. Chỉ là chờ đợi sự hợp thời.
Bạn đã có những hiểu biết nhất định về bản chất cuộc sống. Bạn đã chọn lựa cách sống của mình cho hiện đời. Bạn sống như thế vì ít nhiều gì bạn cũng chịu sự ảnh hưởng của giáo lý nhà Phật, nơi chứa giữ chánh pháp chân thật. Bạn sống như thế vì bạn ít nhiều tin nhận vào chánh pháp nơi Phật Thích Ca đã trình bày. Bạn tin tưởng vào đạo Phật vì bạn nhận diện được sự hợp lý, tính đúng đắn từ những lời Phật thuyết. Thế nên vấn đề của nhân loại hiện tại là niềm tin về đạo Phật. Muốn được tin nhận thì chánh pháp của Phật Thích Ca phải hiển lộ sự chân thật, sáng rõ, đúng mực và “trốn đời, vào đạo” là một tư tưởng sai lầm cần gỡ bỏ nơi người học Phật ngày nay. Từ bi tâm của Phật Thích Ca không thể bị giết chết bởi những ngộ nhận của người đời khi học Phật. Tôi sẽ ngăn không cho điều đó xảy ra. Thế nên bạn không nên vội phủ nhận giá trị của việc truyền trao chánh pháp ở người học Phật vì nhận ra sự vô nghĩa của việc trao truyền giáo lý nhà Phật. Bạn hãy nhớ cho rằng “Nhờ tham khảo giáo lý nhà Phật mà bạn có ít nhiều hiểu biết về chánh pháp”. Có lẽ tôi không ngoa khi nói nhờ tiếp xúc kinh Phật mà bạn đã chọn lựa được cuộc sống tốt hơn. Vì thế nếu chưa thể trao truyền chánh pháp chân thật thì bạn đừng vội phủ nhận giá trị của chánh pháp.
Song qua chuyện cuốn sách của bạn tôi cũng nghĩ nhân loại không dễ gì chấp nhận cuốn sách của bạn.
Bạn có tin những gì tôi trình bày trong sách không? Hỏi là vậy nhưng tôi rõ biết bạn ít nhiều đã có sự đồng cảm, tin nhận. Vậy nên nhận định trên của bạn đã bị vô hiệu. Chỉ là có một rào cản nơi một số ít người kém hiểu biết. Đó là điều bạn cùng tôi phải vượt qua dù là khá khó khăn nhưng không phải là điều không thể. Sở dĩ bạn và tôi cần vượt qua chướng ngại vật này là vì nhân loại quả thật đang rất cần một nguồn tri thức, một sự hiểu biết khách quan, sáng rõ như vậy. Sẽ không có sự bi quan, tuyệt vọng cho sự chọn lựa đúng đắn nơi nội tâm mỗi người. Hơn nữa, rõ biết người u mê, lầm lạc, lao xuống vực sâu, hố thẳm thì có lý nào ta không ra tay ứng cứu, quên bỏ từ bi tâm. Nỗ lực diễn đạt về sự hung hiểm nơi hố sâu mà những người kém hiểu biết, tự phụ thông minh đang lao xuống,… Giúp họ nhận biết hố sâu, vực thẳm còn việc họ có muốn thoát ra hay không thì đó là việc của họ, là tùy duyên vậy. Nhưng cũng không vì trói vào 2 chữ tùy duyên và chút trở ngại nơi số ít người tham đắm, u mê mà bỏ rơi số đông nhân loại cùng những người đang cần lắm sự hiểu biết có nơi chánh pháp chân thật, sáng rõ…
Đơn giản là nhân loại không còn tin vào bản thân họ và cũng không tin vào con đường tự giải thoát mọi đau khổ mà mà các hiền thánh và đến hôm nay là Vô Ưu đã chỉ dạy chính vì lẽ đó mà ngày nay không mấy ai tu đạo mà đạt đạo chỉ đơn giản họ đã gắn cho tâm mình một cái danh. Bỏ 2 từ chỉ dạy thì bạn đã nhận định đúng vấn đề này nhưng không có sự tuyệt đối vì chí ít trong khuôn khổ bài viết này đã có tôi, bạn và nhiều người ẩn danh vẫn còn tin vào bản thân, tin vào giáo lý nhà Phật.
Về giác tánh thì bạn đã nhận định thiếu chuẩn rồi. Ai cũng có giác tánh cả. Bạn có giác tánh, tôi cũng có giác tánh. Theo kinh Phật thì chỉ có hạng nhất xiển đề là không có giác tánh mà thôi. Nhất xiển đề là hạng người nào? Đó là những người điên loạn, vô tri. Thật ra giác tánh của họ không hề mất đi, mà bị chèn lấp, ẩn khuất sâu trong tâm hồn không định tĩnh nơi hiện đời. Rồi thì … thời gian sẽ qua đi, chết sống rồi sống chết. Họ dần hồi tỉnh lại, giác tánh lại khai mở. Tuy nhiên, nếu trái đất bị nổ tung do bởi lòng tham con người không còn kiểm soát được thì việc chúng sinh 3 cõi 6 đường tìm lại giác tánh, con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn sẽ vô vàn khó khăn. Giác tánh của chúng sinh không thể mất đi hoàn toàn dù rằng chúng sinh vào địa ngục thì giác tánh cũng theo vào. Và một phần nhờ vào giác tánh mà chúng sinh nẻo địa ngục luân chuyển sang những cõi giới khác cao và tốt đẹp hơn. Không hề có người ngu dốt hoàn toàn, đánh mất giác tánh tuyệt đối. Chỉ là họ chưa đủ duyên, chưa có người chỉ lối khai mở mà thôi. Có thể họ kém may mắn không chạm được đến chánh pháp chân thật. Vậy nên nếu họ chưa biết thì giúp họ nhận biết. Sự hiểu biết, tình yêu thương khách quan, đúng mực cho đi nào có mất gì đâu?
Chánh pháp Phật Thích Ca lu mờ, không sáng rõ đâu phải lỗi của họ mà là sai lầm của toàn nhân loại Vì thế nếu có thể gột rửa, lau chùi cho chánh pháp sáng rỡ, tỏa rạng thì người học Phật sao có thể né tránh, ngoảnh mặt làm ngơ. Vô tâm đứng ngoài sự bấn loạn, rối ren, hỗn độn nơi xã hội hay tận lực đốt lại ngọn đuốc chánh pháp sáng rõ là lựa chọn của mỗi người.
Đã có lúc những người đại diện cho sự hiểu biết nhân loại chủ quan xóa bỏ chủ nghĩa duy tâm, tôn thờ chủ nghĩa duy vật. Đó là một sai lầm tệ hại bậc nhất của tri thức nhân loại. Nguyên nhân một phần do yếu tố tính sống còn của thời đại và một phần do sự chủ quan, kém hiểu biết của một số ít người. Kết quả là làm mai một sự hiểu biết của con người về cõi vô hình, chối bỏ sự tồn tại của thế giới tâm linh. Chết là hết đã trói tư duy, nhận thức số đông nhân loại tin vào sự không tồn tại thế giới vô hình sau người chết. Lòng tham, sự ích kỷ, lối sống thực dụng,… xâm thực thế giới nội tâm toàn nhân loại tạo ra thảm cảnh Kỷ Nguyên Nhân Loại Đổ Nát Hoàn Toàn. Người tỏ ngộ ngày nay cần phải rõ biết đó là then chốt của vấn đề và phải ra tay gỡ bỏ then chốt gút mắc đó nơi tri thức nhân loại dù rằng phải chống lại cả nhân loại để cứu lấy nhân loại. Vấn đề sự không minh bạch nơi giáo lý kinh điển chỉ là một phần của sự sai lầm nhân loại. Nói rõ sai lầm nơi nhân loại, tạo điều kiện cho chủ nghĩa duy vật sửa sai, thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới tâm linh sẽ là cứu cánh cho sự rộng truyền chánh pháp và sự tồn vong nhân loại.
Thêm một dẫn chứng cho sai lầm nơi người học Phật. Có một vài vị Tăng bảo có tiếng tăm, rêu rao về cái Ngày Tận Thế 21 - 12 - 2012 khiến cho không ít người trong nhân loại hoang mang lo sợ. Vậy mà không có lấy một vị Tăng bảo nào có tiếng nói đủ trọng lượng và đúng lúc phủ nhận lời đồn đoán mơ hồ kia. Điều này cho thấy các vị Tăng bảo hiện tại đã không giác ngộ hoàn toàn hoặc tỏ ngộ mà chưa thể tận lực hộ trì chánh pháp. Nếu có vị Tăng bảo giác ngộ hoàn toàn thì việc “thổi bay” lời đồn Ngày Tận Thế chỉ là chuyện nhỏ nhưng lại là việc làm cần thiết. Rồi thì ngày 21 - 12 - 2012 đến mà không có bất kỳ điều gì tệ hại vượt mức xảy ra thì một vài vị Tăng bảo tạo lỗi lầm cùng môn đồ “vớt vác” thể diện bằng việc “lừa người, dối mình” thêm lần nữa. Ngày Tận Thế không xảy ra do hành vi của nhân loại đã sửa sai và có rất đông Tăng bảo hợp lực nguyện cầu đẩy lui Ngày Tận Thế. Thật kinh dị, hoang đường!
Không có việc đẩy lui Ngày Tận Thế dựa vào lời cầu nguyện suông mà phải bằng những hành động sửa sai thật sự nhưng làm gì có số đông nhân loại sửa sai hành vi lối sống sai lầm. Thế nên lập ngôn dối người của các vị Tăng bảo lầm đường đã không thành lập, bị vô hiệu. Lại không thấy một cao Tăng hay vị tiến sĩ Phật học danh tiếng nào mở lời chỉ rõ sai lầm của người học Phật vụng về. Quả thật là sai lầm tiếp nối sai lầm…
Không có việc những người đã hướng thượng đi đến giải thoát và rời khỏi cái thế giới Ta Bà này, chỉ còn lại loại chúng sinh chậm tiến và đi vào vòng tự hủy diệt. Không bao giờ có điều đó xảy ra ngay nơi trái đất này.
Thành Trụ Hoại Không không là một vòng tròn đơn lẻ mà là một vòng tuần hoàn biến thiên, đổi thay tương tục. Thế nên không rồi lại có, có rồi lại không. Chính cái vòng lẩn quẩn đó đã trói chúng sinh 3 cõi 6 đường nhào lên, lộn xuống với hà sa cung bậc vui buồn, khổ đau, ghét thương thù hận. Dù rằng những người hướng thượng tìm về chánh pháp nhưng nếu chưa sống được với sự sáng rõ của chánh pháp thì vẫn phải trôi lăn, có lúc lên voi, nhiều lần xuống chó, lên xuống phập phồng. Tuy nhiên, không hẳn là muốn thoát ra khỏi vòng luân hồi là điều không thể hoặc “bỏ công” rất nhiều đời mà lệ thuộc vào có duyên gặp đúng chánh pháp hay không mà thôi. Chỉ có những người giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, chứng ngộ pháp vô sanh, xóa sổ cái tôi,… mới có thể dừng lại vòng tròn Thành Trụ Hoại Không mà bạn đã đề cập.
Có lẽ tôi đã giải quyết xong những vấn đề mà bạn đã đặt ra. Nếu có chỗ nào chưa rõ hoặc là tôi trình bày thiếu, không ổn thì bạn hãy nhắc nhỡ tôi sẽ lại tháo gỡ tiếp cho bạn và những người bạn khác.
Có lẽ bạn sẽ bị hụt hẫng, bị sốc vì tôi nhiều lần “đánh sập” những sự hiểu biết mà bạn đã góp nhặt, gìn giữ nơi cuộc sống và kinh Phật. Nhưng bạn hãy thong thả, bình tâm để suy xét mọi vấn đề và nhận ra rằng “Tôi không phải là kẻ phá hoại đáng ghét”. Việc đúng sai khách quan, đúng mực không nằm trong nội dung những bài tôi viết mà chính thật có nơi nội tâm của bạn cùng mọi người.


Phật Thích Ca 49 năm thuyết pháp mà không nói một lời thì Vô Ưu dám đâu có nói lời hư vọng. Dù vậy thì bạn rõ biết tôi đã từng trình bày những điều hiển bày sự chân thật. Rõ thật là tôi đã có nói. Nói mà không nói, không nói mà nói - Đó là ma thuật trong cách sử dụng ngôn từ của Vô Ưu - Ngạo Thuyết và cũng là một lối lập ngôn thường thấy của Phật Thích Ca cùng các bậc hiền thánh. Nếu chấp một bên bạn sẽ thấy tôi có đại ngã to bằng trời nhưng thôi bạn đừng chấp bên nào cả. Hãy sống đúng với chánh pháp nơi lòng bạn. Chúc bạn an lạc, thảnh thơi và hạnh phúc!
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về Linh Tinh

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách