Hành trình khám phá bản thân

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 11 22, 2015 12:15 pm

Bài Ca Tỉnh Mộng Vô Thường

Ngày này năm ấy, ta hồn nhiên làm gió bên trời
Phiêu du tháng ngày, lời gió hát ru êm
Ngày này năm ấy, ta lặng im làm cát trên đồi
Mặc dấu chân người cày nát cát hoang sơ
Ngày này năm ấy, ta bình yên làm nắng hanh vàng
Sưởi ấm đường trần, tình nắng cứ mênh mang
Ngày này năm ấy, ta rong chơi làm sóng xô bờ
Xóa dấu chân người rồi sóng lại xa khơi
Tháng năm trôi, ta thong dong bên đời mãi mãi
Không muộn phiền, không giận dỗi yêu đương
Đến một hôm, sóng dại khờ lên bãi
Chiều hạ vàng, ta quên lối ra khơi
Dấu chân ai giữ lại tình con sóng
Ta vụng về yêu, rời biển tự bao giờ?
Gom góp nhớ thương, đong đầy tình khôn lớn
Nuôi hình hài từ cát, nắng, gió, sóng khơi,…

Đến một hôm, ta trở thành người yêu biển
Yêu vết chân trần, người bỏ lại chiều đông
Tình yêu đó vụng về và nông nổi…
Ta hồn nhiên đánh mất nét vô ưu
Rồi từ đó, biển nhấp nhô từng con sóng
Muộn phiền dâng phủ kín kiếp đọa đày
Tháng năm ơi! Ta lần hồi xuôi ngược
Đi mãi ngàn năm, tìm lại nét vô ưu

Đến một hôm, ta thẩn thờ bên biển
Nhặt lá rơi, lòng buồn bã đến vô cùng
Ta nông nổi trầm mình nơi biển vắng
Hồn đê mê nghe câu hát của người say
Lá thu rơi hay vô thường trôi mãi,…
Yêu thương xưa, đau khổ, mộng cuồng si,…
Tỉnh giấc chiêm bao, ta mỉm cười khe khẽ
Nghe gió đông về, ta trả lại đời cả mùa xuân
Thế nhân ơi! Ta trở về vô thủy
Là cát vàng, là nắng gió, sóng khơi,…
(Vô Ưu)
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 11 22, 2015 7:57 pm

Ơn Cha, Nghĩa Mẹ Khó Mong Báo Đền.

Sau giờ thiền định, hình bóng ba mẹ ập về trong tâm trí. Nhớ lại quãng đời thơ bé, gặp năm đói khát, làm ruộng mất mùa. Cả nhà ăn cháo độn rau cải, ba mẹ nén lòng nhìn các con ăn. Đến khi lớn lên, đôi lần lầm lỗi, tôi không dám về nhà, trốn trong đống rơm, bụi cỏ. Mắt nhìn thấy ba hoảng loạn ngụp lặn dưới ao tìm con. Nhớ lại, trong lòng tôi tràn đầy hối hận và đau xót. Lại nhớ ba mẹ vất vả, nhà nghèo khó vẫn cố gắng nuôi con ăn học cho bằng chúng bạn.

Mới đó mà đã hơn 30 năm, giờ thì ba mẹ quạnh hiu, sớm chiều không một người con chăm sóc. Mẹ thì vụng về, ít học, chỉ biết thương con. Con đã lớn nghĩ tưởng con còn nhỏ dại, chăm lo từng miếng ăn, cái mặc, giờ giấc ngủ nghỉ và cả chuyện chúng bạn khiến các con thấy quá ngột ngạt, tù túng càng muốn rời đi. Lòng mẹ chứa đầy lo âu, phiền muộn gây khó dễ đôi điều chặn bước con đi. Nhưng chim kia đã lớn rời tổ bay đi. Lòng mẹ lại càng thêm lo lắng, muộn phiền. Giá như mẹ chịu nhận ra các con không còn nhỏ dại, sớm cho vào đời tự lập thân. Giá như mẹ chịu buông bỏ những việc vụn vặt đa đoan, sống thanh nhàn, hưởng chút an vui tuổi già.

Ba thì chấp trước. Muốn giữ gia quy “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung. Phụ xử tử vong, tử bất vong bất hiếu”. Vẫn biết lòng ba thương các con vô bờ bến nhưng quá vọng chấp. Trong khi đó cuộc sống xã hội đã đổi thay, những suy nghĩ của ba đã không còn hợp thời cuộc. Thấy việc được mất, đúng sai trong công việc làm ăn của các con đem lòng ghi nhớ nên nỗi muộn phiền chất chồng. Lo buồn đã “Giận đông, mắng tây” nên nỗi các con không biết sống làm sao cho phải đạo. Nghĩ tưởng các con còn nhỏ cũng giữ chặt lấy. Đến khi buông ra, các con đã lớn nhưng lại quen sống dựa vào người khác nên bước những bước đi chập choạng rụt rè khiến ba mẹ lấy làm thất vọng. Những người con - công việc chưa ổn định, lại thấy cuộc sống rối ren, khó khăn. Thêm nỗi ám ảnh về những đau khổ, buồn lo một gia đình không hạnh phúc, ấm êm khiến các con chưa có ý định lập gia đình. Điều này khiến ba mẹ buồn lo không ít.

Ngoài ra, sự sai khác về quan điểm sống của hai thế hệ. Khoảng cách giữa ba mẹ và các con đã tạo ra quá xa. Ba mẹ không hiểu được ý các con. Bức tường gia trưởng và những lo toan trong cuộc mưu sinh khiến các con không hiểu được ba mẹ. Mọi việc các con làm đều bị cha mẹ xét nét, đánh mất tự nhiên. Đôi khi mua món quà, cái áo cho ba mẹ lại bị ba mẹ phiền trách, lòng buồn không biết tỏ cùng ai. Ba mẹ muốn con làm điều này nhưng con không hiểu lại có lập trường riêng nên làm theo điều khác bị ba mẹ trách mắng hư đốn, khó dạy bảo. Khi con nhỏ dại, không ít lần đôi co khiến ba mẹ buồn phiền. Lớn khôn một chút, nghe ba mẹ mắng con chỉ biết lặng thinh. Chỉ tiếc ba mẹ lớn tuổi lại trách hờn nhiều điều vô cớ. Con không dám cãi lại đành phải rời đi. Một là không phải đôi co khiến ba mẹ buồn lòng. Hai là bước vào đời lập thân, tự lập trong cuộc sống. Tiếc thay ba mẹ không hiểu lại trách: “Nuôi con lớn khôn, đủ lông đủ cánh. Nói động tới là nó bỏ đi”. Con vẫn nghe nhưng không dám phân bày, tội bất hiếu đành mang chứ ở lại sợ tạo thêm điều ngỗ nghịch.

Rồi khi hiểu lòng ba mẹ, thấy được những khó khăn, những nguyên nhân gây ra rạn nứt cho gia đình mở lời khuyên giải hàn gắn lại bị mắng là “Con ngỗ nghịch, cho ăn học rồi về lên mặt dạy khôn lại ba mẹ”. Ba mẹ vọng chấp trách “Trứng mà đòi khôn hơn vịt” gây nên cảnh ly tán trong gia đình, con cái mỗi người đi một ngã.

Giờ thì con đã có chút hiểu biết, nhận rõ vô thường, thấy 3 cõi 6 đường không hư dối,... Chỉ thương ba mẹ tuổi đã cao lại không chịu buông bỏ, chấp chặt phiền lo; không chịu hưởng thanh nhàn tuổi già lại góp phần tạo nhân chia lìa. Vẫn biết vậy nhưng con không dám nói lời vọng, sợ ba mẹ lại chửi Phật, mắng Tổ nên nỗi có miệng mà không nói, có mắt mà như mù đành cô phụ tấm lòng thương con của ba mẹ.

Với chút hiểu biết cạn cợt, con không dám nhìn thấy lỗi người. Chỉ dám nhận lỗi mình bất tài vô dụng, không giúp ích gì được cho gia đình, không tạo được cho ba mẹ có cuộc sống thảnh thơi, an lạc lúc tuổi già. Con đành chấp nhận tiếng xấu của người đời - làm người con bất hiếu.

(Vô Ưu)
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 11 22, 2015 8:48 pm

Lợi hại khác nhau về Điển quang và Nhân điện.

Nhiều người đã email hỏi tôi về vấn đề này đang thịnh hành trong công đồng mạng không biết lợi hay hại khác nhau như thế nào. Tôi xin trình bầy về hai vấn đền này trên quan điểm y học nó tác động thay đổi tốt xấu thế nào đối với sức khỏe qua 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần:

A-Về Nhân Điện :

Trong cơ thể mọi người, ai cũng có khí huyết tuần hoàn tạo ra năng lượng bảo vệ cơ thể khi 3 yếu tố Tinh-Khí-Thần đầy đủ, được kiểm chứng bằng máy đo áp huyết, máy đo đường, và máy Masimo đo chỉ số bơm máu ra đầu ngón tay chân.
Kết qủa máy đo áp huyết cho ra 3 con số mà tây y gọi là :
Tâm thu/tâm trương/nhịp tim,
Đổi sang tiêu chuẩn ngành Y Học Bổ Sung gọi là :
Khí lực/lượng máu qua tim/ nồng độ đường trong máu.

Nếu một cơ thể khỏe mạnh thì 3 trị số này phải nằm trong tiêu chuẩn tuổi theo Khí Công Y Đạo :

90-95 (1 tuổi đến 5 tuổi) mạch nhanh không chính xác.
95-100/60-65mmHg, mạch tim đập 60 là áp huyết ở tuổi thiếu nhi.(6 tuổi-12 tuổi)
100-110/60-65mmHg, mạch tim đập 65 là áp huyết ở tuổi thiếu niên (13 tuổi-17 tuổi)
110-120/65-70mmHg, mạch tim đập 65-70 là áp huyết ở tuổi thanh niên (18 tuổi-40 tuổi)
120-130/70-80mmHg, mạch tim đập 70-75 là áp huyết ở tuổi trung niên (41 tuổi-59 tuổi)
130-140/80-90mmHg, mạch tim đập 70-80 là áp huyết ở tuổi lão niên (60 tuổi trở lên)

Thí dụ chúng ta lấy tiêu chuẩn tuổi trung niên :

120-130/70-80mmHg nhịp tim 70-75,

Có nghĩa là khí lực 120-130mmHg là tốt, lượng máu qua tim 70-80mmHg là cơ van tim điều hòa lượng máu qua tim dúng tiêu chuẩn, nhịp tim 70-75 là nồng độ đường trong máu đúng và đủ làm nhịp tim đập đúng tiêu chuẩn không nhanh không chậm, nếu thiếu đường thì máu lạnh tuần hoàn chậm, dư đường trong máu làm máu nóng sẽ tuần hoàn nhanh..

Nhờ vào 3 yếu tố khí lực/ lượng máu tuần hoàn qua tim/ nồng độ đường trong máu trong cơ thể một người đã sẵn có trước khi có tác động thêm năng lượng bên ngoài vào cơ thể bắt buộc nó phải thay đổi xấu hơn hay tốt hơn.

Thầy chữa bệnh bằng Nhân Điện phải biết rõ lý thuyết này, như vậy muốn làm thầy chữa bệnh bằng nhân điện, trước hết thầy phải biết tự chữa cho mình sao cho 3 con số lọt vào tiêu chuẩn như thí dụ của thầy chữa thuộc tuổi trung niên 120-130/70-80mmHg nhịp tim
70-75.

Nhưng từ khi có phong trào chữa bệnh bằng nhân điện, chưa có thầy nào kiểm chứng sức khỏe của mình, và cũng không biết mình cũng đang có bệnh, nên mình đã vô tình truyển bệnh sang cho người khác đã làm thay đổi khí huyết của bệnh nhân, lúc tốt hơn, lúc tệ hơn không được kiểm chứng, và cũng không hiểu gì vế năng lượng mang tính âm dương, truyền năng lượng thế nào là âm dương, truyền thế nào là điện tiếp điện như bình thông nhau, hay điện với từ trường, hay từ trường với từ trường, và mình không có đủ năng lượng tích lũy để truyền năng lượng từ xa, như vậy là tự mình lừa dối mình, sau đó cả thầy chữa và bệnh nhân càng ngày càng nặng thêm, vẫn phải nhờ đến cách chữa của tây y là dùng thuốc hay mổ xẻ.
(Xin xem quyển : Khí Công Y Đạo đã xuất bản ở VN và có bán tại Nhà Sách Tự Lực, California)

Nếu cả thầy thuốc hay bệnh nhân còn tin vào khả năng chữa bệnh bằng nhân điện thì hãy tự mình kiểm chứng bằng 3 máy, máy đo áp huyết, máy đo đường, máy Masimo cho cả thầy chữa và cho cả người bệnh trước và sau khi chữa để so sánh sẽ thấy ngay con số cụ thể chứ không phải cảm nhận hoang tưởng, và từ trước đến nay chưa có ai đem khả năng nhân điện của mình cho ngành y khoa kiểm chứng trong các ca chữa bệnh trong bệnh viện, mà chỉ có viện nghiện cứu năng lượng nhưng chưa nơi đâu có đúc kết nào được ngành y công nhận thành hệ thống chữa bệnh song song với ngành y khoa chính thống.

Duy chỉ có một loại nhân điện nhờ tu tập thiền hay tĩnh tâm để tự chữa bệnh, trong nhà đạo gọi là tu tánh luyện mạng, bên Phật Giáo từ Ấn Dộ truyền sang phía Bắc đến Trung Hoa là tổ thứ 28 Đạt Ma Tổ Sư là sơ tổ, truyền cho ngài Thần Quang là nhị tổ đến lục tổ Huệ Năng.
Tổ Đạt Ma dạy tu tánh tức là học hiểu đạo, triết lý giáo pháp Phật Giáo, luyện mạng tức là tập võ thuật tăng cường nội lực cường thân kiện thể bảo vệ sức khỏe để song tu, hầu đủ sức khỏe không bệnh tật mà hoằng dương đạo pháp, lúc tập võ là luyện khí, lúc thiền là luyện thần, quán tưởng lý nhân qủa duyên khởi làm sao con người khổ, làm sao thoát khổ sanh tử để giải thoát…
Khi phối hợp cả hai trong một ngày tu, vừa ngồi thiền vừa luyện võ mới không đau lựng tê chân mỏi gối, không bị cao áp huyết hay tiểu đường, hay dư cholesterol trong máu, nên đường tu tánh không bị trở ngại vì bệnh hoạn.

Ngày nay chia 2 ngành riêng biệt, có người chỉ tu tánh mà không luyện mạng, còn học võ thuật để cường thân kiện thể mà không muốn tu tánh, nên chư tổ cảnh cáo rằng :
Tu tánh mà không luyện mạng là tu hành bệnh hoạn.
Tu mạng mà không tu tánh thì kiếp kiếp không thành Phật

Như vậy tánh mạng song tu giúp cho con người tự biết thu nạp năng lượng, thì nhân điện của các vị này luôn luôn quân bình nhưng có khả năng thu nhận qua các luân xa để cho người khác mà không ảnh hưởng đến quân bình năng lượng của mình. Những vị này mới chính là thầy dạy cách tu tập để có năng lượng, do đó những tu sĩ Tích Lan cũng từ Phật Giáo bên Ấn Độ truyền xuống phương Nam trở thành Phật Giáo nguyên thủy Nam Tông, và thiền sư Dasira Narada là 1 thiền sư đã truyền phương pháp tu này cho giới cư sĩ để tự tu học, chứ không phải ngài gọi nó là Nhân Điện để truyền dạy chữa bệnh trục lợi, rồi lại bắt ngài phải mang danh là Tổ Sư Nhân Điện, bao nhiêu tội lỗi của những kẻ tham danh trục lợi, có ăn thì mình hưởng, có tội thì Tổ mang họa, chớ thật ra các vị tu sĩ nào theo phương pháp tánh mạng song tu theo Phật Giáo đều trở thành Tổ Sư Nhân Điện được cả.

Nếu những truyền nhân được ngài truyền dạy, những người tu đúng thì phải giữ giới cho tánh sáng tâm khai, thân không uế trược, không tửu sắc, không dâm dục, thân tâm thanh tịnh, đúng theo nguyên tắc tu đạo tánh mạng song tu là Tinh sạch, Khí bền, Thần diệu dụng thì từ ông LMĐ trở xuống đã phạm giới, không còn xứng đáng là học trò của Tổ nữa, do đó năng lượng trong những người này càng uế trược, thì ngành Nhân Điện càng ngày càng bị mang tiếng xấu.

Khi những vị nào tự xưng là Thầy Nhân Điện mở khóa dạy Nhân điện, chúng ta muốn theo học nhưng để tránh bị các thầy không có khả năng mà lửa bịp vụ lợi “bán điện trời lấy tiền” thì trước khi mình ghi tên theo học, qúy vị cứ mạnh dạn nói : Xin qúy thầy cho chúng con thử đo áp huyết và đường cho qúy thầy xem sức khỏe qúy thầy có tốt không, trước khi dạy hay truyền năng lượng cho chúng con.

Tóm lại năng lượng Trường Sinh Nhân Điện ai cũng có tốt hay xấu, tốt đối với các thầy tu chân chính, khổ công tu học, giúp người vô vụ lợi, dạy người tự tu học, tự biết cách chữa bệnh bằng năng lượng do mình thiền định, hít thở, dạy cho người bệnh cũng tự học tự tu luyện để tự chữa bệnh, đó là hạnh nguyện của các vị tổ đang thực hiện hạnh nguyện bồ tát, phương pháp của các ngài lại bị lợi dụng cách này để buôn bán trao đổi bằng tiến bạc, để cho các tà thần mượn xác đưa điện ô trược vào cơ thể những luồng năng lượng tham, sân, si, ái dục, để sau này linh hồn mình bị qủy thần sử dụng làm tay sai làm loạn trật tự thế gian.

B-Về Điển Quang :

Điển quang cũng là một dạng năng lương có nhiều tần số khác nhau gọi chung là năng lượng vũ trụ, nhưng thật ra theo Phật Giáo và khoa học thì không gian có nhiều giải ngân hà, nhiều qủa địa cầu khác nhau, nên Phật mới nói có tam thiên đại thiên thế giới, nhưng những cõi thế giới tiếp cận với con người theo Phật Giáo có nhiều cõi, cõi gần nhầt là lục đạo luân hồi, thâp nhất là cõi Địa ngục, Súc Sanh, Nga Qủy. A tu La, cõi Nhân Thiên (cõi người và cõi trời) vì những chúng sanh trong cõi này còn tái sanh. Những cõi cao hơn không tái sanh mà do hạnh nguyện vào lục đạo độ đời sau khi tu học tiến hóa cao hơn, thấp thì tính từ hàng bồ tát, trên bậc A La Hán, qua thập địa bồ tát đến bồ tát bổ xứ thành Phật.

Những người khi chết thành thần nằm trong cõi A Tu La, có thần thông, tính thẳng thắn trung trực, trung hiếu tiết nghĩa có công với đất nước được phong làm thần nhưng còn sân giận, ăn mặn, sát sanh, từ cấp này họ có năng lượng siêu hình, năng lượng này cao hơn nhân điện có thể tác động vào con người qua luân xa xâm nhập vào thân-khẩu-ý của mình, người ta gọi là Điển.

Trong cõi người, lúc còn sống nhờ tu luyện lên tứ thiền thành bậc A la Hán cũng có điển, có thần thông.
Trong cỏi thiên là nơi các bậc thánh tiên ở, cũng thường hay giáng phàm bằng luồng điển muợn qua 1 thân người, qua thân-khẩu-ý khi ta thức, hay hiện bằng hình ảnh trước mặt ta khi ta ngủ hay khi ngồi thiền định hoặc hiện bằng hào quang, hay giáng cơ bút.....tùy theo tần số và trình độ tâm linh của mỗi người khác nhau, hay một nhóm người cùng trình độ tu học cùng một tần số, nên có người này thấy nghe được còn người khác không thấy không nghe được...trong những loại điển này có nhiều tần số khác nhau, thanh nhẹ hay nặng trược phù hợp với những căn cơ mỗi người khác nhau, nếu ta không làm chủ được tâm ta để phân biệt tốt xấu đúng sai mà nhận những vị này làm thầy thì mình sẽ đi theo con đường của họ, để thực hiện ý định của họ trở thành tà đạo.

Ở cơ thể con người, trên một vị trí luân xa, lớp ngoài là luân xa Phách được khai mở thì thân thể khỏe mạnh không bệnh tật, lớp sâu bên trong là luân xa Vía, làm cho thân thể cử động linh hoạt, nhanh nhẹn tuổi già hóa trẻ, luân xa cao hơn là luân xa Trí được khai mở thì trí óc sáng suốt, thông minh.

Nhựng người do công phu tu tập, tâm tốt mới có luân xa trí phát triển sẽ được thanh điển của các vị thầy đến chỉ dạy trong lúc ngủ, hay thiền định thông qua những cách truyền năng lượng qua thân-khẩu-ý, như về thân thì tay chân cử động bắt ấn, qua miệng tự nhiên đọc chú, qua ý nêu những thắc mắc câu hỏi trong đầu tự nhiên có câu trả lời làm mình được khai ngộ...
Thí dụ như tôi làm thầy chữa thân bệnh tâm bệnh có hạnh nguyện cứu độ người vô vụ lợi, căn cơ thiện lành biết tu tánh luyện mạng, được nhận những năng lượng siêu hình chỉ dạy qua luân xa Trí. Nếu khi tôi có một giấc ngủ sâu như vào đại định gặp chân sư để tiếp tục học đạo cứu người ở một cảnh giới khác cao hơn, khi học xong trở về nhập vào thân xác thì mới biết mình không còn thân do gia đình đã chôn mất thân xác thì thân vía và thân ý vẫn còn ở cảnh giới thiên, muốn tiếp tục giữ hạnh nguyện cứu đời, sẽ lại tìm những người thầy chữa bệnh từ thiện nào đó trong cõi ta bà này để độ cho họ bằng cách dạy cho họ trong những giấc mơ, hay truyền năng lượng cho họ khi họ chữa bệnh, ...đó cũng là một loại điển.

Phật giáo chỉ dạy cho ta biết có nhiều cõi, nhiều cảnh giới khác nhau, nhưng 3 cõi gần con người và hay tiếp xúc với con người bằng điển là cõi Dục Giới (ham muốn của thân), Cõi Sắc Giới (ham muốn của cảnh, của Ỳ), và cõi Vô Sắc Giới (không còn ham muốn của thân của ý). Còn những vị tu cao vượt ra khỏi tam giới để tu thành Phật thì mình không có cơ hội để gặp thì dễ gì mình gặp Phật nếu không phải là người tu đắc đạo.

Như vậy trong cõi nhân-thiên có nhiều thánh thần mà con người có duyên gặp rất nhiều luồng điển xấu tốt tùy theo căn cơ tu học hay không tu học, ăn chay thanh tịnh và giữ ngũ giới hay không, nên có điển thanh, điển trược.

Nhân điện của ông LMĐ từ Tổ Dasira Narada là 1 tu sĩ Phật Giáo, ngài tu thiền định, luồng năng lượng ngài có do năng lượng chư Phật ban cho, ngài phải cầu Phật, quán tưởng Phật niệm hồng danh chư Phật, và ngài cũng dạy cho những đệ tử của ngài tu theo Phật, niệm Phật, quán Phật, cầu Phật, nên có lúc năng lượng của ông LMĐ mạnh nhất làm cho những học viên bị tê liệt theo học 1 khóa là khỏi bệnh đi đứng bình thường, sau này vì tham danh lợi và thần thông đã bị tà thần xâm nhập vô tình thu nhận điển trược cùng tần số tham sân si của các vị thần Ai Cập mới dạy khóa Bộ Óc Người Tiền Sử và Kim Tự Tháp, không phải là giáo lý nhân qủa của Phật, bỏ đạo Phật, nên học trò cũng lại không theo Phật, cho nên các học trò hễ thiếu năng lượng thì lại xúi dại nhau cầu Thầy LMĐ truyền năng lượng hay cầu Sư Tổ truyền năng lượng. Sư Tổ hay thầy LMĐ làm sao cho học trò năng lượng bằng điển quang của chư Phật, mà tại sao không cầu thẳng chư Phật có hơn không ?

Thật ra thiền sư Dasira Narada đã vượt tam giới đâu còn trong tam giới mà giúp cho những kẻ phàm phu còn tham sân si ái dục cầu ngài cho năng lượng, cho nên thờ ngài là để làm bình phong trục lợi mà thôi, những người đã tạo nhân xấu sau này sẽ gặt qủa xấu là lẽ đương nhiên không liên quan đến Sư Tổ.

Giống như cả một tập thể cầu ơn trên chữa bệnh ở một số trung tâm, thầy hay bệnh nhân đọc những câu thần chú mật tông, thế là tầt cả như có luồng điển xâm nhập vào thân-khẩu-ý khiến cho mọi người quơ chân múa tay lễ lạy đi quyền múa võ.... thì đấy cũng là năng lượng cõi vô hình của các chư vị hộ pháp, vì do lời nguyện của chư thần này đã quy y theo Phật, họ nguyện rằng những ai niệm danh hiệu Phật sẽ theo hộ pháp cho những người này để họ tu không bị trở ngại, nên chúng ta thấy trong những pháp hội khi Phật thuyết giảng kinh, đều có các chư thiên đến hộ pháp và họ cho những mật khẩu riêng của họ để cho mình cầu là họ đến, rồi đến các vị bồ tát cũng thương xót chúng sinh, muốn độ cho chúng sinh không bị trở ngại trên đường tu, các ngài cũng cho những mật khẩu riêng của các ngài, thí dụ Bồ Tát Quán Thế Âm cho bài chú cầu ngài là Án Ma Ni Bát Di Hồng (ummanipadmehum)...nhưng không có câu chú mật tông nào đọc lên mà được tất cả chư Phật và các chư hộ pháp đến trợ giúp nhiều nhất bằng danh hiệu A Di Đà Phật là vua của chư Phật.

Như vậy mục đích cầu ơn trên giúp mình khỏi bệnh bằng năng lượng của các chư thần truyền cho để cho có sức khỏe tu tiếp, chứ không phải tài năng của thầy chữa bệnh có năng lượng truyền cho mình biết múa may quay cuồng như thế. Nhưng nếu ông thầy tham danh lợi muốn có năng lượng thần thông như thế mà không chịu tu theo chánh đạo thì các vị hộ pháp bỏ đi và sẽ bị các tà thần đến trợ giúp thần thông cho mình câu chú mà mình chẳng hiểu nghĩa, cứ đọc lên là có hiệu nghiệm, giống như quyền năng của ông LMĐ sau này đã có trong việc trồng cây, làm ra gạo nhân điện, vô tình mình bán linh hồn mình và học trò mình cho qủy Satan kết thành một tập thể hùng mạnh đi phá những kẻ tu hành, làm rối loạn kỷ cương xã hội, giống như thời kỳ phong thần, các vị tà thần xuống thế gian phá phách thì lại có những vị chánh thần xuống thế cứu dân dẹp loạn

Các Trung Tâm treo hình hay tượng của Tổ Sư, lại thỉnh những tượng Phật, mà những người đến không hề muốn tu học hay được tu học niệm Phật, họ chỉ xem là những ông thần linh thiêng ban ơn giúp cho mình khỏi bệnh nên đến xá xá vài cái rồi được thầy chữa bệnh mang danh điển quang, thì chỉ có những người si mê, còn mê tín dị đoan mới đến mà thôi, và khi các vị chánh thần bỏ đi, các vị tà thần đến, mọi người thấy nơi đó vẫn linh thiệng nhưng thật ra nơi này đã trở thành tà đạo vì bản thân người lãnh đạo không hề biết tu giữ giới, giữ thân tâm thanh tịnh thì làm gì có thanh điển mà chỉ có trược điển lại gọi là điển quang thì phạm tội vọng ngữ dối gạt người..
Điển quang là một loại năng lượng của chư Phật gồm âm thanh, ánh sáng, mầu sắc, trước khi mình thấy hiện tượng điển quang này thì tất cả các chư hô pháp đã có mặt hiện diện nơi đó, chúng ta sẽ thấy nơi đó quy tụ những người hiền tài đạo đức tập hợp, khi tất cả cùng nhau tu tập nếu ban đêm người ta sẽ thấy có vùng hào quang tỏa sáng lên. Ngược lại, tự nhiên những người hiền tài bỏ đi, mà nơi đó vẫn linh thiêng thì đã có tà thần đến trấn ngự dành cho những người không biết tu hành là gì, chỉ biết tham-sân-si, aí dục, phạm giới rủ nhau tụ đến mà thôi, thì nơi này biến thành mê tín dị đoan..
Để phân biệt được nơi linh thiêng nào là chánh đạo hay tà đạo thì hãy xem xét đạo đức của người tổ chức có tu hành nghiêm túc, có ăn chay, giữ giới, phát tâm hạnh nguyện bồ tát vô vụ lợi hay không.

Riêng về đạo ông bà thì thờ cha Trời, mẹ Đất, người cao nhất là ông Trời cai quản thế gian chỉ ở 2 cõi dục giới, sắc giới, còn mẹ đất sanh đẻ và nuôi dưỡng mọi vật trong đó có con người, có thuyết cho rằng đó là Phật Mẫu Diêu Trì, mọi con người từ người tu đã đắc đạo cho đến kẻ phàm phu cũng đều là con của Phật Mẫu, nhưng Phật Mẫu lại dưới quyền con của ngài là vị Phật tương lai Di Lặc, mà Phật Di Lạc là vị bồ tát bổ xứ lại thuộc bậc dưới của các vị cổ Phật, trong số các vị cổ Phật mỗi vị chủ quản một phuơng nên gọi là 10 phương chư Phật, thì chỉ có cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà là vua của chư Phật, ai niệm danh hiệu A Di Đà Phật thì được 10 phương chư Phật gia hộ, nên chỉ một danh hiệu A Di Đà Phật kinh sách đã nói là vua của các chú mật tông, vua của các kinh, vua của các chư Phật, nơi nào có tu học trì niệm danh hiệu ngài thỉ nơi đó không có tà thần hay điển trược nào dám đến quấy phá, và nơi đó chỉ chấp nhận những vị tu chân chính hiền tài đức độ đến tụ họp mà thôi..

Sở dĩ tôi viết bài này để qúy vị hiểu việc cầu ơn trên chữa bệnh chỉ là phương tiện mà các thanh điển của các vị hộ pháp trợ giúp cho người tu hành thời mạt pháp được khỏe mạnh không làm trở ngại đường tu của mình.

Vậy nơi nào dùng chữa bệnh bằng điển trược thì nơi đó chỉ là tà đạo quy tụ những người cùng tần số, tổ chức những buổi kỷ niệm giỗ tổ này tổ nọ để có cớ ăn nhậu phạm giới cấm thì mình không nên đến để khỏi bị trở thành lính của nhóm tà thần thi triển pháp thuật thần thông làm rối loạn trật tự xã hội. Những nơi này không bao giờ có điển thanh của các chư thiên hộ pháp huống chi là điển quang.
Bài viết này cũng được thanh điển trợ giúp để qúy vị phân biệt chánh tà.

Nam Mô A Di Đà Phật

Huệ Tâm Hải
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 11 22, 2015 8:53 pm

Nhân điện, Điển quang, Tâm ấn, Pháp luân công - Hỗn độn âm dương

Chào chủ nhà!
Mạt hậu, hậu tiến latuan những tưởng đã đến lúc “rửa tay, gác kiếm”, thoái xuất khỏi giang hồ. Nào ngờ được vài người bạn thương tưởng níu giữ nên chưa thể trở nên là người vô sự, vô vi. Lại có chút duyên lạc vào nhà của thiện tri thức nên tùy thời “cỡi ngựa xem hoa”. Vào rồi thì ra bất chợt lại thấy thương tấm lòng của chủ nhà vì đồng đạo mà mấy lượt “bôn ba, tìm dấu”. Chẳng lẽ đi không rồi lại về không dễ khiến cô phụ tấm lòng bi mẫn của chủ nhà với anh em đồng đạo thôi thì latuan tiện tay viết lấy vài chữ trên tường xem như là Thần tú trình kệ. Nếu được thì xin nhận lấy y bát làm Tổ nhược bằng hãy còn kém thì phiền chủ nhà dùng đế giày xóa dấu tích những lời thừa.
Vì nhận thấy tâm người động nên latuan nói lời vụng. Nếu chủ nhà cũng cho rằng “Chẳng do gió động, cờ động mà do tâm của latuan tôi động” thì hẳn tâm latuan động là thật vậy.
Latuan đường đột đến nhà mà không tự giới thiệu e có điều thất lễ nên xin có đôi lời tác bạch. Latuan xuất thân bần hèn, tự thấy đời là khổ nên tùy thuận học dăm câu kinh, vài lời Phật dạy. Dù vậy do kiến văn hạn hẹp, tri thức nông cạn nên việc góp nhặt của latuan lắm lúc được cái hồ đồ. Học hoài mà cũng không khá lên là mấy, việc đi thi lại có lúc đậu, lúc trượt nên lòng cũng chẳng mấy khi được an suốt. Nghe nói pháp thiền cũng hay hay nên cũng lượm lặt hành trì. Và cách nay hơn 3 năm có lẻ vào một đêm cuối đông chợt thức tỉnh nhận ra tự thân chưa từng sinh ra, đạt sự vô ưu bất tận. Sau một khoảng thời gian đủ lâu nếm trải niềm an lạc làm xác chết, cây khô giữa đồng chợt nghĩ tưởng đến từ bi tâm của Phật Thích Ca nên sinh lòng hổ thẹn “Nếu không chịu sống thì chết đi cho bớt chật đất”. Duy có điều duyên tận chưa đến nên latuan đành lập “am tranh, vách lá” mở cửa tùy duyên tiếp người. Đến nay cũng tạm xem đã không cô phụ Phật Thích Ca.
Thời gian thấm thoát trôi qua latuan cũng nghĩ đã đến lúc dừng lại, lui về sau ngơi nghỉ. Lại nghe Nhân điện - Điển quang - Tâm ấn - Pháp luân và việc náu loạn vô phép của cõi giới vô hình nơi nhân gian khiến latuan thêm một lượt vào đời khất thực.
Nếu bảo latuan vì danh, vì lợi, vì ngã, vì tham, vì sân, vì si, vì mạn,… mà “lòi mặt chuột” thì latuan cũng đành không tự ti, mặc cảm mà khẳng khái nói rằng “Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn”. Dẫu rằng mượn lời của Phật Thích Ca từng thể hiện nhưng latuan tự biết lòng không hổ thẹn.
Nếu chủ nhà thấy chướng về đại ngã của latuan thì hãy giáng cho latuan một gậy cho chết tươi để latuan trở về vô ngã. Nếu được như vậy thì thật đáng quý cho latuan.

Thôi quay lại chính đề liên quan đến bài viết của chủ nhà.
Dựa vào kiến văn dàn trải của chủ nhà thì latuan tôi cạn nghĩ việc học của chủ nhà về tâm linh, tôn giáo cũng vào hạng uyên bác kim cổ, tôi tạm xem chủ nhà là học giả vậy. Vì rõ biết chủ nhà do mến tiếc người đời, sợ e người đời lầm đường, lạc bước sa vào tà đạo mà ảnh hưởng đến nghiệp nhân quả, việc tu hành, đời sống,… nên chủ nhà mới mở lời cảnh tỉnh, bảo ban. Tấm lòng của chủ nhà khiến latuan thật lòng cảm phục.
Nhưng latuan vụng về nói thẳng “Nếu chủ nhà cho rằng việc làm của nhóm người tạo ra nhân điện, điển quang là sai trái, là trục lợi, làm loạn chánh đạo,… những việc làm hoàn toàn sai” thì latuan cũng xin hỏi thẳng “Chủ nhà có dám chắc rằng những lý luận “bắt lỗi” người của chủ nhà là luôn đúng, và việc làm trên của chủ nhà là không hề có sai sót không?”.

Thiết nghĩ, nếu dựa vào việc giúp con người quay về hướng thiện, sống với tình thương bao dung thì không hẳn đã hoàn toàn sai. Dù có sai thì trong sai vốn đã có đúng. Hơn nữa cho dù thầy xấu không hẳn tất cả trò đều hư, hoặc dù trò có hư thì không thể bắt lỗi rằng do họ có người thầy rất xấu.
Con người chẳng phải tiến bộ là do biết hối cải, biết sữa chữa, khắc phục những lỗi lầm?
Dựa vào khả năng học giả trên phương diện tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo để luận việc của hành nhân, hành giả, về các cõi giới, các yếu tố tâm linh vô hình liệu có thể chạm đến điểm tột cùng của sự thật? Việc làm đó liệu có là việc làm chuẩn mực, luôn đúng mà một vị học giả có thể làm tốt không?
Dựa vào lập ngôn của chủ nhà thì latuan cả nghĩ chủ nhà không chỉ là học giả mà còn là một hành nhân, một hành nhân chưa thấu triệt hoàn toàn để làm một Giác giả. Vậy nên một hành nhân chưa hoàn toàn liệu có thể có được cái nhìn đúng thật, khách quan mà không còn trói vào cái tôi - cái bản ngã chủ quan để xét đoán tận cùng việc làm và chân tướng một hành giả bị rơi vào đại ngã không?
Dẫu biết rằng là vì người mà lao tâm, không vì tranh hơn, luận thắng mà biện giải. Tuy nhiên, nếu biện luận đúng mực, chuẩn và dồn người vào đường cùng để người sáng mắt thì thật tốt. Nhưng nếu trưng ra những bằng chứng không chuẩn, thiếu tính thuyết phục phải chăng sẽ tạo ra những tranh cãi không hồi kết và không đi về đâu? Kết quả là tất cả đều nặng nề.
Chủ nhà đã luận về vấn đề tâm linh, về những vấn đề siêu hình,… mà dùng cơ sở khoa học chủ quan ngày nay biện giải thì liệu có đúng mực? Vì sao?
Vì khoa học hiện nay vốn không đội trời chung với vấn đề tâm linh siêu hình.
Phản biện này của latuan xin hỏi chủ nhà có chỗ nào lầm lỗi? Nếu có mong chủ nhà đoái thương “mở mắt” giúp thì thật là có ơn trọng với latuan.
Còn về pháp tu tánh, luyện mạng qua cách luận giải của chủ nhà thật sự đã có lỗi lớn. Pháp tu này kỳ thực chẳng do Sơ Tổ Đạt Ma đem từ Ấn Độ qua Trung Quốc. Theo lời chủ nhà pháp tu được truyền thừa qua 6 đời Tổ, đến đời Lục Tổ Huệ Năng thì được rộng truyền trong chốn tòng lâm là điều không tột lý.
Người học Phật chân chính chỉ cầu giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, rời xa luân hồi thường chẳng lấy việc sinh tử làm trọng, tùy thuận sống sót, độ đời thì đâu có lý tham sống nhằm kéo dài mạng huyễn. Việc can thiệp nhân quả của mỗi người càng không thể tùy tiện xen vào, chỉ tùy duyên khai mở trí người mê, giúp người phát khởi bồ đề tâm, dấn thân đường chánh đạo. Thế nên không có việc 6 đời Tổ đam mê luyện tánh, tu mạng hấp thu tinh hoa trời đất nhằm sống thêm lâu.
Thêm một chi tiết bổ sung về Sơ Tổ, Sơ Tổ Bồ Đề Đạt Ma vốn không thể là người võ nghệ kinh nhân, điều đó chỉ là ngụy thư, là truyện kiếm hiệp theo kiểu 3 thực, 7 hư và do phim ảnh làm rối mắt nhau. Thực tế là ngay trong chốn tòng lâm thời đó đã có người kỳ thị chủng tộc gọi Sơ Tổ là Tên rợ mắt xanh, và miệt thị là gã què. Sở dĩ Sơ Tổ bị gọi là gã què có thể vì Sơ Tổ ít khi đi lại, ưa thích tọa thiền và hậu quả của 9 năm ngó vách của Sơ Tổ tạo ra một gã què tạm xem còn sáng mắt nơi chốn tòng lâm. Vậy nên càng chẳng nên coi Sơ Tổ là người khai sáng pháp môn tu tánh, luyện mạng.
Pháp tu tánh, luyện mạng thực chất là sự hòa trộn của đạo Phật (Ấn Độ) và đạo Lão - Trang (Trung Hoa). Khi mà người học Phật không còn sáng rõ chánh pháp Phật Thích Ca, lẽ ra là hành chánh pháp nhằm rời xa sinh tử luân hồi kẻ hậu học mắt mù lại đi ham mê sinh tử “dối đời, gạt mình” tạo ra pháp tu tu tánh, luyện mạng rồi bảo rằng là của báu Phật Thích Ca. Nhưng chính thật là lối tu ngoại đạo, tạo ra tiên cảnh - xuất thế, thoát tục ra khỏi luân hồi 3 cõi kỳ thực là chưa từng thoát ra lưới mộng. Vì sao? Vì còn ham thân, ham sống,… mà còn sống tự khắc là còn chết. Thế nên, bảo pháp tu tánh, luyện mạng là của Phật Thích Ca là có lỗi lớn. Đừng nên trong mộng nói lời mê.
Ngay cả Tinh - Khí - Thần cũng không là sản phẩm của Phật Thích Ca. Dù vậy cũng không thể nói Tinh - Khí - Thần không thuộc đạo Phật nên là sai thì lại vấp lỗi lớn, là đại vọng ngữ. Phàm việc gì làm lợi ích cho người thì không thể tùy tiện nói là làm sai, vì trong sai vốn có đúng, trong đúng vốn có sai vậy.
Vía, phách, Phật mẫu,… cũng là sản phẩm của ngoại đạo và có lẽ ngoại đạo chưa từng chỉ rõ lối thoát cho vía, phách rời xa 3 cõi nên dùng vía phách làm cơ sở biện luận càng thêm rối trí người.

Vậy nên dùng luận thuyết của chủ nhà “điểm chỉ” nhân điện, điển quang cơ hồ… tựa như bị vô hiệu.
Đối với điển quang, nhân điện,… latuan tôi vốn không mấy quan tâm nhưng vì đi đường bị vướng dây nên thôi cũng tiện tay dọn dẹp.
Muốn động đến nhân điện, điển quang thì vô hình chung latuan lại phải chạm đến những vị hành giả cao niên. Thiết nghĩ những năm gần đây, sợi dây vô hình nơi thế giới tâm linh bị người đời vô trí giành giật lung tung khiến cho lũ chúng sinh nơi cõi giới vô hình phóng túng làm càn,… gây rối loạn 3 cõi. Thật là đáng tiếc!
Nào là thiền vô vi, điển quang, nhân điện, pháp luân công, rồi tâm ấn cách không thủ,… nghe cứ như là phong thần truyền kỳ tái xuất giang hồ. Nếu bảo điển quang, nhân điện là có thì Tâm ấn cách không thủ, Pháp luân thường chiếu đâu dễ bảo rằng không. Lý giải điển quang, nhân điện như trên thì định nghĩa pháp luân, tâm ấn sẽ là gì cho hợp tai, phải lẽ? Phải chăng rối càng thêm rối? Rồi mai này lại có thêm một vài sản phẩm Phong thần tiếp tục ra đời chỉ e người trí cũng hóa khùng.
Thật ra các món trên vốn chỉ có một nguồn gốc từ vô hình mà khoa học nhúng mũi vào gọi là năng lượng vũ trụ cùng trường sinh học cá nhân. Bảo chúng là 1 cũng không đúng, bảo chúng là 2 cũng chẳng phải. Do vậy trong người luyện nhân điện vốn có điển quang, trong người luyện điển quang vốn có nhân điện. Thật sự không có sự tách rời hoàn toàn và riêng biệt, điển quang - nhân điện chỉ do cách dùng và tâm phân biệt mà có sự khác nhau.
Khi hợp nhất thì năng lượng vũ trụ và trường sinh học con người làm sao mà phân biệt? Đều là những thứ vô hình và phân biệt làm gì cho mệt óc?
Chỉ nên dựa vào mục đích sử dụng mà tạm phân tà chính cũng như việc theo và không theo. Một số người dùng điển quang, nhân điện chân chính dựa vào sự cộng hợp trường sinh học giúp người hết bệnh thì cũng như việc chủ nhà lập môn quy dùng khí công y đạo cứu người. Việc này dường như không có lỗi. Còn việc mà môn đồ hay tông chủ làm sai chánh pháp, rơi vào hám danh, trục lợi thì cũng là lẽ thường. Chủ nhà có dám khẳng định rằng sau này số môn đệ của chủ nhà không rơi vào đường tà, lối rẽ, “dối trên, lừa dưới”, gồm thâu lợi dưỡng, lợi danh. Nếu không thể khẳng định thì việc bắt lỗi người nên chăng hãy xét lại nơi tự kỷ.
Đưa người đành đưa qua sông
Tiễn Phật cũng nên tiễn tới miền cực lạc.
Muốn hạ bệ nhân điện, điển quang với latuan là việc úp bàn tay, ngửa bàn tay. Tuy nhiên, việc làm phải khế hợp, tùy thuận.
Xét lại các vị Tông chủ của nhân điện, điển quang, Pháp luân công, Tâm ấn,… họ là ai, mục đích và việc làm của họ cần nghiêm túc mổ xẻ, đánh giá.
Tông chỉ và điểm đến của pháp hành ở các pháp tu cần phải rõ ràng. Cứu người hay lợi mình cần phải rạch ròi. Thật không thể lờ đờ nước đục.
Có lẽ khó thể nhận biết mục đích của các trường phái nhân điện, điển quang, pháp luân công, Tâm ấn,… là gì? Vì lẽ nếu bảo là tôn giáo thì không đúng, bảo con đường tu đạo tìm sự giải thoát thì tựa hồ chẳng phải, là một tổ chức xã hội, một tổ chức từ thiện, một tổ chức thiện nguyện cứu giúp người,… cũng lại chẳng thật giống…
Một hệ thống làm việc mà không rõ tông chỉ, mục đích,… thì kết quả sẽ là sự tan rã. Và thực tế là đã có sự va đập, đổ vỡ,…
Có vẻ như cả 4 trường phái trên cùng lấy mục tiêu tình yêu thương, tiến tu làm chiêu bài hành pháp. Và dường như cũng có rất đông những người theo học, việc dùng năng lượng vô hình cũng phát huy những hiệu quả thiết thực. Vậy nên hiển nhiên đây là điều có thật, nằm ngoài sự hiểu biết tạm thời của khoa học hiện tại. Vì lẽ đó nên Tông chủ của 4 pháp tu này vốn là một hành giả. Tuy nhiên, hành giả lại có nhiều cấp độ. Có không ít hành giả chỉ là hành nhân, có người trội hơn 1 ít nhưng để đạt đến hành giả chuẩn thì dường như tất cả đều không đạt.
Vì sao?
Vì việc làm của họ đều vướng nơi Đại ngã, tâm còn lắm mong cầu. Vậy nên họ không thể là 1 vị hành giả đúng mực hay nói đúng hơn họ chưa bao giờ là một vị Giác giả hoàn toàn.
Thoạt nhìn thì có vẻ như Pháp luân, Tâm ấn, Điển quang, Nhân điện,… là rất khác nhau. Cụ thể là nhân điện nói đến việc ban phát tình thương thánh thiện, điển quang nói đến pháp tu vô vi, Pháp luân công thì nói về Chân Thiện Mỹ, Tâm ấn với tốt đời, đẹp đạo… Cách hành pháp, mục đích ra đời bộc lộ ra bên ngoài ở các hệ thống tổ chức trên đều thể hiện tiêu chí vì người và dường như có rất nhiều sự sai khác giữa các tổ chức. Nhưng kỳ thực đều ẩn tàng mục đích tối hậu là tìm về sự giải thoát cho chính học viên và Tông chủ. Vai trò của Tông chủ được đặt lên cao tột, nhằm tạo ra hấp lực tín tâm. Thượng đế được đặt ở vị trí tối cao và vị Tông chủ là người có khả năng gắn kết cùng truyền dẫn tín hiệu. Dường như có một thực chiêu được che giấu trong dụng tâm của một vài vị Tông chủ đó là chiêu “Mượn hoa dâng Phật” nhưng Phật không có giá trị sử dụng đối với các vị Tông chủ nên đây chính thật là kỳ chiêu “Mượn hoa dâng Thượng đế”. Một vài vị Tông chủ lại có dụng tâm “mượn đạo, tạo đời” gồm thâu lợi dưỡng, lợi danh,… Sở dĩ họ làm như vậy là vì họ tin rằng họ đang đi đúng hướng, đang rất tiến hóa, không thể lui sụt và đã gần kề với sự giải thoát hoàn toàn. Với những vị Tông chủ có bụng dạ như thế bạn sẽ dễ dàng nhận ra chân tướng thông qua việc gom góp tài sản, của cải, bạc tiền và người tình,… Vì sao? Vì đã gần đến sự giải thoát rồi mà còn tích lũy tài vật, gia sản để mà làm gì về nơi giải thoát hoàn toàn làm sao mà xài được.
Điểm qua giáo lý của 4 vị và cả cách hành của Tông chủ cùng đội ngũ kế thừa thì bạn sẽ dễ dàng nhận ra chúng gần như có chung một nguồn cội. Một sự góp nhặt chấp vá, giáo lý kinh điển của các tôn giáo truyền thống thừa nhận có Phật, có Thượng đế và Thượng đế là Đấng Tối Cao. Đây là yếu điểm chết người của những vị hành giả. Điều này giúp latuan nhận diện được họ ở tiền kiếp hoặc việc họ đang kế thừa là công việc của lực lượng, thành phần tôn giáo lâu xa nào trong quá khứ. Do vậy họ có thể là những người đã tu tiên của pháp tu Tánh mạng song tu với nguyện lực phổ độ chúng sinh của dòng tu Lão - Trang (Trung Hoa), Cao Đài và Hòa Hảo (Việt Nam), họ đã trở lại và theo đuổi pháp tu ngày trước dù rằng họ không ý thức được điều đó. Hoặc là họ đã “bắt” tín hiệu với thành phần vô hình ở các nhóm Tu Tiên. Mộng trường sinh bất tử, mộng tiên cảnh nên họ cả tin Thượng đế là Đấng Tối Cao. Do có “ân oán” từ trước nên việc chạm đến vô hình được khai mở nhưng điều đó không đồng nghĩa với trí tuệ được khai mở, họ vẫn tiếp tục đi theo đường tà, lối cũ cùng nguyện lực phổ độ.
Tại sao tôi lập ngôn cho rằng họ chưa được khai mở tuệ giác?
Vì nếu thật sự khai mở tuệ giác họ đã không đặt Phật cùng Thượng đế chung 1 mâm và Thượng đế sẽ không thể là Đấng quyền năng tối thượng. Phật vốn là giả danh, vốn chẳng thật có vì đã giải thoát hoàn toàn thì sao có thể cùng Thượng đế phân ngôi cao thấp. Thật chẳng tột lý! Thế nên họ thật chưa chạm đến sự giác ngộ tận cùng, chỉ là hành nhân tỏ ngộ được chút ít.
Do được trợ giúp từ nguồn lực vô hình nên họ cả tin chính Thượng đế đã tương trợ và Thượng đế là cao nhất. Cảnh do tâm sinh nên cõi giới vô hình đã giả danh xác lập điều đó khiến họ càng thêm tin tưởng tín tâm. Việc làm cứu người là việc tốt nên họ đã gia tăng định lực và phổ truyền sự tín tâm đến chúng học viên và tạo ra hợp lực trường sinh học. Nhưng vì tâm ý học viên không đồng, dụng tâm lại có khác nên dẫn đến cảnh nồi da, xáo thịt. Đại ngã của Tông chủ cũng được chúng học viên kế thừa, phát huy. Cùng với việc nhúng mũi làm càn của lực lượng vô hình dính mắc tác động vào hệ tư tưởng, tinh thần của những học viên đã khiến cho các hệ thống tổ chức ô hợp, manh múng trên càng thêm hỗn loạn, rối ren.
Tin rằng chính những vị Tông chủ ở trên thật sự không liễu nghĩa từ Giác Ngộ và việc Giải thoát hoàn toàn. Họ thật sự vẫn còn quẩn quanh chưa rời xa Tam giới và họ đang cố níu giữ một thành quả đã được gửi gắm nơi các môn đồ. Nhưng sự níu kéo này sẽ là vô ích, đại ngã nơi môn đồ sẽ sớm thoát thai một môn đồ, thậm chí chỉ là một đồ tôn “diệt Sư, khinh Tổ” không chóng thì chầy. Vì vậy họ không thăng thì cũng có lúc phải siêu.
Thật đáng tiếc! Nếu mãi hoài nuối tiếc thì làm sao có thể siêu thăng, đúng không các vị Tông chủ?

Can thiệp trực tiếp vào nhân duyên nghiệp quả của chúng sinh khác là điều mà hành giả, học nhân,… chẳng nên làm. Nhất là đối với những nẻo giới vô hình. Đó không phải là từ bi tâm, là tình thương mà là việc làm chạm vào lý nhân quả khách quan, công bằng. Việc làm dễ thường rước khổ não, tham sân si, nghiệp lực,… Đối với quy luật nhân quả khách quan thì người hành giả chỉ nên xử sự tùy thuận, khách quan và gián tiếp. Cụ thể là chỉ bằng vào việc khuyên giải, hướng dẫn, chỉ bày lối đi còn việc đi con đường nào thì phải do mỗi người, mỗi chúng sinh tự chọn lựa lấy.
Với những người học viên Nhân điện, Điển quang, Pháp luân công, Tâm ấn,… latuan mong rằng các bạn sẽ được tham khảo bài viết bên trên của chủ nhà, cũng như ít lời latuan bộc bạch ở bên dưới nhằm sáng rõ con đường mình sẽ đi sau này. Sống vì tình thương, vì từ bi tâm nhưng cũng cần đến trí tuệ sáng suốt để không đi vào đường cùng, lối rẽ. Hãy nên xác định sáng rõ, minh bạch mục đích và điểm đến sau cùng.
Hãy làm việc ban trải tình thương một cách thánh thiện, không vụ lợi. Hãy nên sống tĩnh tâm, buông xả, đừng để pháp trói sẽ dễ rơi vào ma đạo. Cũng đừng quyết liệt thoát ly, phần vô hình đang dính mắc vốn chẳng dễ dàng buông sẽ nắm bắt được tâm ý thoát ly và ra sức gây rối, làm phiền do vậy nên cứ thong dong, thư thả. Thời gian sẽ làm định lực của nẻo vô hình phò trợ phai nhạt, phát chán những học viên lười. Thế là … tự dưng lấy lại được sự tự chủ, an lạc.
Hãy hành trì quay về sự rỗng lặng, an tịnh của thiền định nhưng cũng đừng nên khổ luyện dụng công mọi việc làm cứ thư thả, tự nhiên.
Sống và ban phát tình thương - Thật là một cách sống đẹp rất nên được gìn giữ và tùy thuận. Người học nhân muốn đạt được sự giải thoát hoàn toàn, thanh thản, an lạc rất nên lưu tâm pháp xả. Phàm việc gì cũng có thể cầm lên được và buông xuống được đó là việc mà học nhân nên hành trì, tập buông bỏ dần những dính mắc, cột trói.
Việc giải thoát hoàn toàn bảo dễ thì thật không dễ, bảo khó thì cũng không khó. Điều cốt yếu là có rõ con đường, lối đi hay không mà thôi. Nếu rơi vào đại ngã và chấp giữ thì việc giải thoát sẽ chướng ngại, khó vượt. Nếu biết sống tùy thuận, hành trì buông bỏ Tham sân si mạn nghi, vì người quên mình thì việc giải thoát hoàn toàn cũng dễ dàng như hoa rơi, lá rụng,… Nếu sáng rõ lối đi và giữ vững chánh định thì sẽ có lúc hoát nhiên đại ngộ, tự biết đã qua sông dù còn bôn ba nơi hiện kiếp.

Latuan này không từng luyện qua điển quang, nhân điện,… nhưng do có ý vạch rõ sự chân ngụy nơi nẻo giới vô hình đã bị các vị ở cõi vô hình “bắt” được tín hiệu và đến “hỏi thăm” làm khó. Tuy nhiên, latuan xử sự khách quan, tùy thuận chánh pháp mà ra chiêu cùng với việc mở lời biện giải nên có không ít vị chấp nhận quay đầu, số không phục bỏ đi vì rõ biết không thể, không dễ làm khó latuan. Đây là lời thật latuan chẳng ham dùng huyền bí dối gạt 3 cõi mà thêm nhọc lòng latuan về sau. Cũng mong rằng những người mới đừng vì thế mà cuồng tin, mê tín.
Chạm vào vô hình, can thiệp tâm linh vốn chẳng có gì hay, chẳng do tài giỏi, không phải là việc đáng làm. Latuan không ít lần “đối mặt” với cõi giới này nhưng ít khi chủ động, đa phần chỉ do họ tự tìm đến mà ra sự việc huyền vi.
Không phải là latuan không thể tìm đến họ, nhưng latuan thấy “Tìm đến họ không đáng, không để làm gì” nên không tìm. Thế nên Latuan tùy khách đến đi mà tiếp, việc tiếp khách cũng đã mấy phen thời may là chưa đến nỗi bị mất mặt. Trước đã thế, sau này vẫn vậy với cõi giới vô hình latuan không móng cầu tìm gặp thường làm chủ tiếp người, ít làm khách viếng thăm người. Mọi sự tùy duyên.

Latuan đã nhiều lời nông nổi. Mong rằng chủ nhà thức tỉnh và đoái thương dòm qua latuan 1 cái xem thử latuan là Đống Phân Bò hay là người bạn khó chơi tham lam.

Nếu rõ biết tự thân còn nơi lưới mộng thì mong chủ nhà nghĩ đến câu “Quay đầu là bờ”, coi chừng và kiểm soát cái đại ngã nơi Thân - Khẩu - Ý.
Nếu những điều latuan nói là lời bẩn thì cảm phiền chủ nhà tùy tiện xóa sạch. Nhược bằng là liều thuốc đắng đáng uống thì chủ nhà cũng nên đề bút sám hối, việc làm giúp cho latuan học hỏi và bạn đồng đạo một phen được cởi mở tấm lòng. Mong rằng chủ nhà không vì giận, buồn mà xóa bài viết chính.
Latuan tùy duyên lạc lối nên nhiều lời e rằng sau này cũng ít dịp ghé sang làm phiền não chủ nhà. Latuan xin từ tạ. Chúc chủ nhà năm mới an lạc, khỏe mạnh, hạnh phúc và tinh tấn bồ đề tâm.
Nếu latuan vì muốn tranh hơn với chủ nhà, làm việc vì tư tâm thì latuan nguyện đọa địa ngục vô gián. Cũng xin chủ nhà đừng vì lời này mà cho rằng latuan hành theo hạnh nguyện của Địa tạng vương Bồ tát. Bởi do một mai nếu còn gặp Địa tạng vương bồ tát latuan sẽ tiếp tục hóa độ ông ta như đã từng hóa độ rất nhiều vị Phật, bồ tát vào niết bàn tịch diệt.

Đi như vầy nhiều khi khiến chủ nhà hờn giận, phiền não mà không có chỗ xả nên latuan sẽ viết lại địa chỉ am tranh để khi cần chủ nhà còn biết chỗ đặng hỏi tội kẻ xấc xược, doavouu.blogspot.com là chồi lá của tiểu bối hậu học.
Nếu latuan có chỗ đắc tội thì chủ nhà cứ sang tệ xá mà đòi lẽ công bằng. Nếu latuan tội nghiệp sâu nặng thì chủ nhà cứ việc đốt trụi am tranh, mái lá. Có khi nhờ am tranh bị hủy mà latuan được giải thoát cũng nên. Thế đôi khi lại thành hay - Trong họa được phúc.
Cảm ơn bài viết của chủ nhà! Bởi do bài viết của chủ nhà cùng 1 số tài liệu liên quan đến điển quang, nhân điện, tâm ấn, pháp luân công,… góp nhặt khiến latuan phải phát cuồng khai khẩu cho ra đời một bài viết không đầu mà lại có đuôi - Nhân điện, Điển quang, Tâm ấn, Pháp luân công - Hỗn độn âm dương
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 3 Tháng 11 24, 2015 8:25 am

Có Nên Đánh Chặn Tham Nhũng?
Không.
Bạn có từng nghe câu chuyện đàn khỉ hái ngô? Đây là một câu chuyện đùa như thật, câu chuyện đặt ra như một lời bào chữa cho nỗi oan về sự phá phách của loài khỉ và hơn thế nữa... Câu chuyện kể rằng:
Có một đàn khỉ sống trong rừng, đã bao năm qua chúng vẫn hái trái cây rừng, hoa rừng, bắt côn trùng nhỏ làm thức ăn. Cho đến một hôm con người đến đốt phá một khoảng rừng rậm để trồng ngô. Đây là một khu rừng đẹp mà bọn khỉ thường ra đấy vui đùa, bắt chấy rận cho nhau bên cạnh một dòng suối trong xanh. Thế nên lũ khỉ lấy làm tiếc về sự mất mát đó, chúng vẫn thường quay lại đùa giỡn, uống nước ở con suối ven rẫy ngô khi vắng bóng con người. Loài người vẫn thường hò hét, đánh đuổi lũ khỉ khi có dịp. Một ngày kia, những trái ngô đã lớn, lũ khỉ cứ ngỡ là của trời cho nên chuẩn bị hái trái. Vào một ngày đẹp trời, con khỉ đầu đàn ra lệnh “Nào, tụi bây hãy hái mỗi đứa 2 quả ngô rồi quay về rừng và hãy nhớ cho rằng nên tránh xa loài người để bảo toàn mạng sống”. Được khỉ đầu đàn cho phép, lũ khỉ hý hửng bước vào vụ thu hoạch ngô, vừa dáo dác canh chừng lũ người. Con khỉ đầu đàn hái quả ngô đầu tiên, những con khỉ trong đàn cũng hái quả ngô đầu tiên. Khỉ đầu đàn đưa lên mồm cắn thử xem quả ngô có hạt chưa và nó ném quả thứ nhất vì hạt hãy còn non lắm. Những con khỉ còn lại cũng cắn và ném đi dù rằng có một số trái ngô đã có hạt mềm, vừa ăn, chúng đã bắt chước cách làm việc của khỉ đầu đàn. Con khỉ đầu đàn hái quả thứ 2, thử quả ngô thấy vừa ăn. Với trí thông minh của loài khỉ, con khỉ đầu đàn đã cầm quả ngô từ bên tay phải đưa sang nách trái và cắp lại đó. Có lẽ con khỉ đầu đàn nghĩ rằng khi dùng 2 tay sẽ mau chóng hái được 2 quả ngô mang về. Lũ khỉ còn lại cũng đều làm y như thế. Duy có điều không hẳn những trái ngô bên nách trái đều đạt tiêu chuẩn ăn được. Con khỉ đầu đàn lại dùng tay phải hái quả thứ 3. Sau đó, tay trái của chú đã cùng nắm quả ngô thứ 3 đó rồi đưa lên miệng kiểm tra chất lượng. Lại là một quả ngô chưa có hạt đều, con khỉ đầu đàn lại vất đi quả ngô thứ 3. Nhìn lại quả ngô thứ 2 cắp bên nách trái đã rơi tự lúc nào rồi, có lẽ khi cánh tay trái cùng cầm lấy quả ngô thứ 3 rồi đưa lên miệng, lũ khỉ đàn em cũng chưa có quả ngô nào, lũ khỉ lại tiếp tục công việc. Cứ thế quả ngô hái bên tay phải được cắp vào nách trái, quả ngô bên trái cắp vào nách phải và rơi rớt cả. Nắng đã lên cao, loài người ra thăm rẫy, có một con khỉ canh gác la chí chóe báo hiệu, lũ khỉ vội lẫn vào rừng với trên tay mỗi con một quả ngô. Con người ra đến nơi rẫy hậm hực, căm tức lũ khỉ, chửi chó mắng méo, than trời trách đất, hận lũ khỉ phá phách, tham lam,… Ăn no rồi đi thì có ai căm giận, cứ phá hoại, tham ăn thế này ắt hẳn khỉ và loài người khó đội trời chung.
Nói trắng ra thì loài khỉ có tham nhưng cũng không hẳn là tham lam bằng loài người. Chúng chỉ có tham thêm một trái ngô mà thôi, rõ thật chúng chỉ cần một trái ngô đã no lòng nhưng chúng tham thêm một trái để về chiều khỏi phải lo cái đói. Vì chỉ tham thêm một trái ngô mà lũ khỉ mang tiếng là phá phách bậc nhất nhưng chưa có một cánh rừng nào bị lũ khỉ hủy hoại. Thậm chí, lũ khỉ còn biết trồng rừng, nhân giống những loại cây trái ngon ngọt vì tính tham thêm một quả của chúng. Hơn nữa, lũ khỉ đã phá nát rẫy ngô vì sợ loài người xuất hiện xua đuổi chúng.
Còn loài người thì sao? Ta cứ tự hào là chủng loài thông minh bậc nhất, ta cho ta quyền phán quyết về chủng loài heo ngu ngốc, chủng loài chó trung thành, chủng loài khỉ phá phách, tham lam,… nhưng chính ta lại là loài tham lam trên tất cả. Chính sự tham lam đã biến ta thành chủng loài ngu ngốc, si dại nhất. Chính sự tự phụ thông minh mà ta trở nên sân hận, ngông cuồng,…
Lũ khỉ có tham lam nhưng chúng chỉ tham thêm một trái cây rừng còn ta tham lam cho cả đời, cả dòng tộc, tích lũy không chỉ cho hiện đời mà cho cả nhiều đời sau. Ta nghĩ rằng “Lũ cháu con chỉ là lũ vô dụng, kém cỏi chăng?”. Nhưng do tham đắm, si dại nên ta không thật sự lo cho tương lai cho thế hệ sau mà là ta đã hủy hoại tương lai của loài người vì ta đã ăn cả phần tương lai dân tộc. Lũ khỉ chưa từng tiêu hủy một khu rừng nguyên sinh xanh tốt còn ta thì đã phá nát vô số những cánh rừng già, vô số chủng loài vì lòng tham của ta mà tuyệt diệt. Không chỉ vậy, ta ăn cả đất đồi, đá tảng, ta đào cả mồ mả tổ tiên loài người của hàng triệu triệu năm về trước rồi lạnh lùng uống máu, nhai xương (khoáng sản, dầu mỏ và than đá), ta đem đốt cháy tất cả mọi thứ có trong trời đất bằng lòng tham vô đáy, nung đỏ cả hàng tinh xanh rồi ngây ngô nói với nhau rằng “Thời tiết, khí hậu ngày càng khắc nghiệt do mặt trời đang ngày một nóng hơn xưa”. Ta biến những vùng đất trù phú, phì nhiêu thành đồi hoang, núi trọc, sa mạc khô cằn rồi lại trồng lại những cánh rừng đơn lẻ một chủng loại cây. Khi đó ta đã gửi lòng tham vào từng thân cây mới mọc. Ta chỉ là một tay thợ vẽ vụng về vẽ cảnh thiên nhiên, những cánh rừng ta trồng dễ dàng đổ gãy trước cơn giông, dễ dàng cháy rụi khi mùa khô, đất nóng,… Tại sao? Ta không hiểu vì lòng tham đã che mờ sự hiểu biết của ta rồi. Loài người là chủng loài ít khả năng nhận lỗi và thừa khả năng đổ thừa với nét mặt ngây ngô biểu hiện sự ngạc nhiên chưa. Loài người còn thừa khả năng tìm tòi, soi mói lỗi người và luôn tin rằng “Ta là người toàn thiện vì con người ít khi nhận ra được lỗi của mình”. Tôi cũng đang làm điều đó, có lẽ tôi cũng là một con người…
Giá như ta đừng nghĩ rằng “Ta thông minh hơn loài khỉ” thì đã không có rất nhiều, rất nhiều cánh rừng già bị hủy hoại bởi vì ta. Giá như ta cũng cứ đánh rơi một số quả trái cây rừng thì đất trời đã không nóng như thiêu đốt, thiên tai, dịch bệnh cũng không hoành hành khiến ta khốn đốn.
Cũng lại như vậy. Những kẻ tham nhũng, hối lộ,…dù thông minh đến mấy thì cũng chỉ là những con khỉ già ngu ngơ mà thôi. Họ cũng chỉ có thể hái quả ngô bằng tay phải rồi cắp vào nách trái, hái quả ngô bên tay trái rồi cắp vào tay phải,… Sau cùng, tất cả cũng rớt rơi, họ cũng chỉ ăn được một trái ngô cho đến hết cả cuộc đời với những nỗi niềm phiền muộn, tình cảm bán mua, vô vị, những đứa con cháu nổi loạn, vô dụng, nửa còn lại sống chung cùng nhưng lòng đã nhạt yêu thương, và một nỗi lo bị người đời phát giác sẽ dèm pha, bỡn cợt, song sắt lao tù sẽ chôn vùi sự nghiệp, công danh. Nếu may mắn hơn thì họ cũng sẽ tự giam họ trong bức tường rào cao, kính cổng, nhà lồng,… và gặm nhấm đoạn thời gian già nua đằng đẳng, tủi buồn, không một lời sẻ chia chân thật, đồng điệu, chỉ có những lời chúc tụng đãi bôi, nhạt như nước ốc,…
Tiền phi nghĩa muốn gồm thu về thì phải hối lộ thật nhiều tiền để mua quan tước, địa vị. Leo lên đỉnh vinh quang thì mặc sức thu gom, tham nhũng. Chẳng may bị người đời phát hiện thì chạy án với số tiền khủng, tiền của thiên hạ lại trả về cho kẻ tham khác. May mắn thì thoát nạn, xui rủi thì chết chùm. Tiền của như núi thì không ăn chơi trụy lạc thì dùng vào việc gì? Đặt cược cá độ, bài bạc, đĩ điếm, bia rượu,… tiền của phi nghĩa cũng đi về nơi phi nghĩa, có một số người trong chuỗi tệ nạn xã hội thâu về, có một số người ông bà, cha mẹ họ sẽ hưởng,… Và dòng tộc, gia đình con cái của những kẻ tham nhũng cũng hư đốn, sa đọa như là những người cha mẹ có tài nhưng kém đức.
Có thể bạn sẽ cho rằng “Thế thì cũng chẳng còn gì để nhặt nhạnh, gom góp”. Đúng vậy. Không chỉ thế điều đó còn phá nát biết bao gia đình và gây tổn thất không nhỏ cho dân tộc. Nhưng của đổ, hốt lại bạn còn mong điều gì hơn nữa?
Người đời thường nói “Đất lành, chim đậu”. Thế nên nếu đất không lành chim sẽ vỗ cánh bay đi nhưng con chim bay đi nhưng không quên ngậm lấy bông lúa mà nó đã nhặt được từ trước đó, con chim diều hâu cổ trắng khi bay lên cũng không buông con cá mà nó đã dùng bộ vuốt sắc nhọn bắt được,… Vì thế nên đánh chặn tham nhũng theo phương cách hiện tại thật sự sẽ không mang lại hiệu quả, thiếu hẳn tính khả thi. Còn nhớ vài mươi năm về trước, việc đánh tư sản, tiểu tư sản nội địa đã gây tổn thất thê thảm cho ngân sách quốc gia ngày ấy, rồi vượt biên, tị nạn kinh tế, chính trị,… loạn cào cào.
Khi đánh chặn tham nhũng ở con người thì con người sẽ dùng sự hiểu biết mang đi những gì gom góp khi “ăn dày”, tham nhũng ra đi sống lưu vong nơi đất khách, quê người. Có thể sẽ có một số tiền của bị đánh rơi nhưng thật ra chúng quá ít ỏi so với những gì mà kẻ tháo chạy mang đi. Quả thật đánh chặn tham nhũng bằng phương cách hiện tại không thể nói là giải pháp tối ưu, hiệu quả.
Khi con người chưa đứng trên vị trí, góc nhìn tổng thể thì việc lớn muốn thành sẽ đòi hỏi tính cơ mật, bất ngờ,… Nhưng cách đánh chặn tham nhũng hiện tại mắc rất nhiều lỗi. Một là khua chiên, gióng trống, thành lập ban bệ tăng tính cồng kềnh, chồng chéo, tăng phí dịch vụ,… Điều này báo cho những kẻ có tật biết rằng “Lạy ông, tôi ở bụi này”. Đừng nói là con người, ngay cả đến có vật tinh ranh như khỉ, chuột, chồn, cáo, rắn mối,… chỉ cần bạn lên tiếng ngày mai đi bắt chúng thì tin rằng ngày mai bạn sẽ thất thu. Vậy mà… Thế nên, việc khua chiên, gióng trống sẽ khiến những kẻ có tật án binh, bất động, lấy tĩnh chế động, tìm cách xóa dấu tích. Hơn nữa, cái mũi, cái tai,… của những kẻ có tật rất thính, linh hoạt,… khả năng bắt tín hiệu cực nhạy bởi lẽ việc tham nhũng là một khối ung thư di căn, ác tính. Khối u đó dính dáng đến hệ thần kinh và cả khu thần kinh trung ương, não bộ. Vì thế mọi tín hiệu lan truyền sẽ mau chóng được những người có tật giải mã khi cảm nhận sự nguy hiểm cận kề, tính an toàn bị mất thì tháo chạy thoát thân. Nếu bị chậm chân một bước thì tang vật vụ án đã phi tang, mất dấu lâu rồi. Xem như là hy sinh đời bố củng cố đời con. Thêm nữa, nhờ mối quen biết rộng, ân oán tình thù đan xen cũng không hẳn kẻ có tật sẽ lao đao trong vòng lao lý, có chăng cũng xem như bỏ thời gian nghỉ ngơi sau một thời gian dài chọc trời, khuấy nước,…
Chúng ta đang học đòi theo cách làm của nước bạn Trung Quốc mà không tự chủ hơn khi đánh giá vấn đề. Ta luôn đi sau đồng nghiệp một bước nhưng lại không mở to mắt nhìn rõ thị phi. Có lẽ do bộ máy qua cồng kềnh nên việc vận hành thiếu hẳn sự linh hoạt. Việc đánh tham nhũng của Trung Quốc quyết liệt hơn ta rất nhiều, những mong lấy lại niềm tin của người dân, giới lãnh đạo TQ ra đòn khá chớp nhoáng, quyết đoán. Giới lãnh đạo TQ sẵn sàng diệt tham quan vì dân số rất đông, diệt 100, 1000 người chẳng ảnh hưởng đại cuộc mà còn được tiếng “Thương dân như con”. Đây là nước cờ thâm hiểm của giới lãnh đạo TQ. Dẫu vậy giới TQ không thể dùng một tay che trời, dù rằng có một số con sâu mập mạp, béo tốt bị túm lấy nhưng chỉ là sâu ăn lá, vẽ bùa,… có một ít con sâu đục thân bị “trảm” vì lẽ con sâu này “ăn bạo, ăn tàn”chẳng biết lớn nhỏ… Việc đánh chặn tham nhũng ráo riết khiến những kẻ có tịch phải rục rịch, mảnh đất lành đã thành đất dữ, các triệu phú trẻ Trung Quốc đã tháo chạy ồ ạt ra nước ngoài lưu vong. Một động thái được giới chuyên gia phân tích nói rằng “Chảy máu chất xám, chảy máu tài sản”. Họ nói đúng, nguồn tiền của khổng lồ bị tuồn khỏi TQ trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, xã hội rối ren, lòng người bấn loạn đã làm con mãnh thú TQ trúng đòn rất nặng. Quân đội TQ đã “nổi điên”, manh động chĩa ra đa bắn tên lửa vào hải quân Nhật cho thấy rằng con mãnh thú đang vùng vẫy, giãy dụa. Tuy nhiên, con mãnh thú còn đủ tỉnh táo để không phạm sai lầm làm kẻ trực tiếp gây ra cuộc chiến trên biển Đông vì khi đó TQ sẽ “lãnh đủ” mọi ngón đòn của kẻ đối đầu trực tiếp, lẫn kẻ cơ hội, nhóm hôi của,… Chảy máu chất xám? Đúng vậy. Những triệu phú trẻ trong một thời gian ngắn có thể vươn lên giàu sụ khó thể nói là kẻ bất tài. Có kẻ có tài năng thật sự nhưng hơi kém ít đức vì đức không có giá trị trong lối sống thực dụng, một số khác có tài lẻ, biết lợi dụng kẽ hở của các nhà quản lý mau chóng làm giàu phi pháp, tay đã nhúng chàm. Không rời vùng đất dữ thì là dại. Đào thoát khỏi miền đất dữ là cách mà các nhà triệu phú trẻ chọn lựa. Quả thật, trước mắt đây không phải là giải pháp tồi…
Chúng ta thì sao? Đánh chặn chậm trải, kêu gọi, hô hào, thật náo động và những kẻ nhúng chàm đã có thừa thời gian chuẩn bị khả năng ứng phó, một cánh cửa tháo chạy, sống lưu vong cũng đã rộng mở. Vấn đề còn lại là hãy lắng nghe âm vang của tiếng động để chọn lối mà đi. Quả thật, lẽ nào VN lại cũng xảy ra hiện trạng “chảy máu chất xám, chảy máu tài sản” trong bối cảnh xã hội hỗn mang. Đạo cao một thước, ma cao một trượng - Đó không phải là câu nói vụng. Có lẽ ta lại gom góp, nhặt nhạnh chút của rơi.
Thật ra có một giải pháp thu lại tài sản của các quan tham nhũng. Không sai “Đạo cao một thước, ma cao một trượng” vì thế nên việc đánh chặn tham nhũng phải đứng trên tổng thể mà ra chiêu, việc xử chiêu phải tùy thuận, đừng quên rằng “Ma cũng nằm trong đạo”.
Tất nhiên, việc thu hồi tài sản của dân phải có một giải pháp khả thi, chậm rãi, đúng mực. Giáo dục con người sống với trái tim biết yêu người cần được rót vào lòng của mọi người, mọi thành phần xã hội. Việc giáo dục thế hệ trẻ qua trường lớp thật không dễ vì sự thực dụng, tính ích kỷ đã hằn sâu vào tư duy, nhận thức sống của giới trẻ và tính không thực tế của môn giáo dục đạo đức so với thực tiễn cuộc sống. Phần lớn người lớn đều tham cầu thế nên lý thuyết thật xa rời thực tế. Giáo dục người lớn ý thức thật càng không dễ, họ đã sống như thế đã ngần ấy tuổi đời, từ bỏ tài sản gom góp phi nghĩa được che dấu kín kẽ là điều không thể. Nói là vậy nhưng khi ta cho rằng không thể thì thực tế đã là có thể. Thế nên, khi ở góc nhìn tổng thể bạn sẽ thừa khả năng lấy lại những vật phi nghĩa để trả về cho chính chủ dựa vào sự tự nguyện chứ không dựa vào hình luật, chế tài, án phạt. Điều này cho thấy “Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người” không phải là câu nói hoang đường và bây giờ ta phải mất “Mươi năm nuôi phần con thành phần người”. Bạn hãy tìm cho ra giải pháp vẹn toàn đó hơn là việc hô hào đánh chặn tham nhũng vụng về. Tài sản đất nước sẽ vì một bước đi sai lầm sẽ hóa thành tiền của thiên hạ. Bạn hãy cẩn trọng!
Nếu trong tay bạn có 100 tỷ bạn sẽ làm gì? Nếu không có tầm nhìn tổng thể, sáng rõ bạn sẽ trở thành một người thừa của xã hội. Bạn sẽ là một người vô dụng, bất tài. Con cháu bạn cũng có không ít đứa kém cỏi, tha hóa, suy đồi, đánh mất khả năng tự lập, sống vươn lên. Có không một gia tộc hư hỏng, đáng nguyền rủa. Mỗi một đời người cùng gia đình cần bao nhiêu tiền của để sống tốt, hạnh phúc, sống chân thành với trái tim biết yêu người? Nếu có thể bạn hãy cho một con số cụ thể nhé. Rất cám ơn bạn vì điều đó!
VÔ ƯU - Một thoáng Phương Đông.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 11 25, 2015 5:26 am

NGÔN NGỮ THIỀN.
Vô ngã có nghĩa là tất cả pháp đều không phải là ta hay của ta. Ta và của ta chỉ là ý niệm thôi chứ không có thật. Vì dù không có ý niệm "ta" gán vào thì pháp vẫn vận hành. Trong mỗi cá nhân có những yếu tố hợp lại mà thành như thân vật lý (physical body), cảm giác (sensation), tri giác (perception), phản ứng tâm lý (mental action and reaction), tâm thức (mind, consciousness), chúng tương quan với nhau mà tạo thành quá trình sự sống (living process), trong đó không có gì là ta và của ta cả.
Viên Minh
- Dù có tôn giáo hay không tôn giáo, dù kiến tánh hay chưa kiến tánh thì luật nhân quả vẫn là sự vận hành chung cho muôn loài vạn vật không trừ một ai. Người làm đúng là đúng, người làm sai là sai, người làm tốt là tốt, người làm xấu là xấu, luật nhân quả không dành riêng cho người nào cả. Còn việc đúng sai tốt xấu thì cứ để luật nhân quả cân nhắc phán xét, chúng ta không nên dựa vào hiểu biết về nhân quả hạn hẹp của mình để đánh giá hành động của người khác.
Viên Minh
- Tin vui cho tất cả mọi người: có thể tự giải phóng mình khỏi sự hành hạ của tâm trí. Cách đơn giản nhất như sau: Hãy bắt đầu nghe tiếng nói trong đầu mình như bạn vẫn thường có thể nghe. Hãy đặc biệt chú ý tới bất kỳ hình mẫu ý nghĩ lặp lại nào, những thứ âm thanh này có lẽ đã lặp đi lặp lại trong đầu nhiều năm rồi. Quá trình như vậy chính là chứng kiến người suy nghĩ.
- Không gian và thời gian chung cuộc là ảo tưởng của tâm trí. Chúng chứa cốt lõi chân lý là hai thuộc tính bản chất của cái Một: vô hạn và vĩnh hang.
Eckhart Tolle
Hãy nhớ rằng không phải chúng ta đang cố gắng Ðể Trở Thành một ông thánh hay một cao nhân nào cả. Chúng ta cũng không nổ lực Ðể Tống Khứ một ác pháp nào hết. Hãy sống hồn nhiên và thoải mái. Cảnh giới nội tâm của chúng ta Là Như Vậy. Nó có thể là bất tịnh hay trong sáng và đó là một cặp hành trạng đối đãi nhau của ý thức. Thấy rõ Chúng như là Chúng, thấy rõ Chúng luôn vô thường, vô ngã thì đó chính là trí tuệ vậy. Trong khi đó, bằng một ý thức ngã chấp, chúng ta cố gắng mong mỏi "Tôi sẽ phát triển những gì thanh tịnh, tống khứ những gì không thanh tịnh " thì lập tức cái không thanh tịnh sẽ xuất hiện và kềm hãm chúng ta. Chúng ta lại vấp vào khối đá thất vọng trên đường đi của mình, thế là tiếp tục đau khổ. Hãy cẩn trọng với hai tháng cấm túc này. Vô minh luôn sẵn sàng khiến cho chúng ta tự chuốc lấy những khổ lụy.
Sumedho
Ai trải qua sự thật về khổ thì người ấy thấy ra bản chất vô thường, khổ, vô ngã trên cõi thế gian, nhờ chấp nhận sự thật này mà người ấy thanh tịnh trong sáng, và ai thanh tịnh trong sáng thì giác ngộ giải thoát, thấy rõ thực tánh chân đế và Niết-bàn.
-Thấy pháp và chia sẻ pháp với những người hữu duyên hình như là sứ mạng rất tự nhiên và đương nhiên của bất kỳ ai nhận ra lẽ sống trong nguyên lý "tùy duyên thuận pháp, vô ngã vị tha". Thấy pháp thì một mặt chịu ơn sâu của Tánh Biết, mặt khác lại mang nghĩa nặng của Đất Trời - khó mà có thể đáp đền.
Viên Minh
Trong một nội tâm đầy chánh niệm, tất cả hạnh phúc và khổ đau đều đồng giá trị. Không có gì khác biệt giữa hai thực tại này hết. Cái nào cũng là Ðang Là, xuất hiện rồi biến mất. Hạnh phúc vẫn là Hạnh phúc, Ðau khổ cũng cứ là Ðau khổ. Chúng là cái Chúng Là. Chúng vô ngã và chỉ có vậy. Chúng ta đừng để mình phải đau khổ vì chúng. Chỉ việc đón nhận, nhìn mặt và hiểu biết chúng. Tất cả cái gì có mặt đều phải có lúc biến mất. Tất cả đều vô ngã!
Sumedho
- Trong thực tánh chân đế không có khái niệm toàn hảo và bất toàn. Nhưng khi có sự mong mỏi đạt đếnmột lý tưởng toàn hảo thì mới có khái niệm bất toàn đối nghịch với ý niệm toàn hảo mà sinh ra chấp thủ nhị nguyên. Khi nói câu này thầy chỉ muốn nhắc rằng nếu muốn cầu toàn trong ảo vọng một cách nhị nguyên như vậy thì tốt hơn là nên trở về nhận ra tính bất nhị ngay trong thế giới vô thường, bất toại và vô ngã này. Giác ngộ chính là thấy ra mọi hiện tượng thế gian đều không hoàn hảo như lý tưởng cầu toàn, do đó buông xuống cái ta ảo tưởng lăng xăng tạo tác để cầu toàn, mới giác ngộ ra thực tánh chân đế như nó đang là vượt ngoài khái niệm toàn hảo và bất toàn.
Viên Minh

Về bản chất, vô trí là nơi phát sinh mọi sự sáng tạo. Đa số những người có bằng cấp cao lại ít sáng tạo không phải vì họ không biết cách suy nghĩ, mà vì họ không biết cách dừng suy nghĩ.
- Một cách rất đơn giản để tránh xa tâm trí là đưa sự tập trung chú ý của bạn hướng vào thân thể. Cảm giác về thân thể bên trong của bạn là vô hình dạng, vô giới hạn và không dò được.
Eckhart Tolle
- Tâm của người hành thiền thì không chạy đây đó. Nó nằm yên tại một chỗ. Khi tốt và xấu, hạnh phúc và đau khổ đến, người hành thiền chỉ đơn thuần nhận biết mà không để chúng thấm ướt tâm. Nói cách khác người hành thiền không dính mắc vào cái gì cả.
- Đừng cố gắng trở thành cái gì. Đừng nhẩy vào bất cứ chuyện gì. Cũng đừng là một thiền sinh. Đừng mong giác ngộ. Lúc ngồi thì hãy ngồi. Khi đi thì hãy đi. Chẳng nắm giữ gì mà cũng không chống đối gì cả... Hãy để mọi sự tự nhiên.
Ajahn Chah
Tánh biết thấy pháp là việc tự nhiên nên nó không cần dụng ý dụng công, chỉ có "người muốn biết" mới có dụng ý và phải dụng công. "Người muốn biết" chính là cái ta ảo tưởng, khi nó xen vào tánh biết thì cái biết trở nên chủ quan và trì trệ, khó thấy được pháp như nó đang là.
Cứ để tâm tự nhiên mà thấy thì tánh biết tự biết điều chỉnh cái thấy cho thích nghi với mọi đối tượng của nó. Đừng cố gắng nhìn, nghe... để nắm bắt điều gì vì lúc đó khái niệm đã xen vào, mà khái niệm đi trước thì cái thấy bị trì trệ và không còn trung thực được nữa nên cái thấy không thể đồng nhất với pháp trên tính chất chỉ có duy nhất tại đây và bây giờ (thời, vị và tính) của nó. Tự nhiên, vô tâm (không trước ý) và giản dị là bí quyết mà cũng là phẩm chất của tánh biết đối với vạn pháp.
Viên Minh
- Bạn “đạt tới” chứng ngộ (cứu giúp) bằng việc bạn nhận ra rằng bạn đã ở đó rồi. Bạn tìm thấy Thượng Đế vào khoảnh khắc bạn nhận ra rằng bạn không cần tìm kiếm Thượng Đế. Bạn không thể làm được điều này trong tương lai. Bạn làm nó Bây giờ hoặc không bao giờ làm được điều đó.
Eckhart Tolle
- Khi tâm an tịnh tức là nó đang ở trong điều kiện bình thường. Khi tâm di động thì tư tưởng hình thành. Hạnh phúc hay đau khổ là một phần của tâm hoạt động này. Bất an và tham ái cũng được hình thành như thế. Nếu bạn không hiểu rõ chuyển động này, bạn sẽ săn đuổi đàng sau tư tưởng hình thành mãi, và trở thành nạn nhân của nó.
Ajahn Chah
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 11 25, 2015 10:41 am

Ý nghĩa tích cực của sự giải thoát
(Thượng Toạ Thích Chân Quang)
Một số tín đồ các tôn giáo Tây phương đã công kích rằng đường lối của đạo Phật là ích kỷ, vì chỉ đi tìm sự giải thoát cho chính mình, trong khi tôn giáo của họ tích cực triệt để hoạt động từ thiện để cứu giúp mọi người.
Lời phê phán đó xuất phát từ sự thiếu hiểu biết về ý nghĩa của giải thoát.
Như phần trước đã nói, giải thoát có nhiều mức độ. Có khi một người được giải thoát khỏi thói hư tật xấu. Có khi một người được giải thoát khỏi những vọng tưởng thô lậu. Có khi một người giải thoát khỏi ý thức để thể nhập vô thức. Hoặc có người giải thoát khỏi vô thức để thể nhập Bản Thể Tuyệt Đối.
Dù cho người đó được giải thoát ở mức độ thấp hay mức độ cao, bản thân họ vẫn có lợi ích và mọi người chung quanh cũng có lợi ích lây. Chỉ cần một người bỏ được một số thói quen nóng nảy, ích kỷ, trở nên hiền lành vị tha thì không cần phải nói nhiều, những người chung quanh cũng thở phào nhẹ nhõm. Đó là chưa nói đến người giải thoát hẳn ngã chấp, chứng đạt Bản Thể, hoàn toàn vô ngã, từ đây tất cả mọi bóng dáng ích kỷ đều biến mất, chỉ còn tâm đại bi trùm phủ thương yêu mọi người. Lúc đó họ dấn thân vào cuộc đời để làm lợi ích cho mọi người mà không còn ngăn ngại, không còn sợ khó sợ khổ. Họ thường xuyên yêu cả người tốt lẫn người xấu, họ bình thản trước vinh quang cũng như trước nghịch cảnh.
Không bao giờ có hành vi từ thiện hoàn hảo nếu một người chưa thoát được ngã chấp. Có thể họ cũng tích cực hoạt động từ thiện, nhưng vì còn ngã chấp, họ vẫn còn ấp ủ một ước mơ thầm kín cho tự kỷ. Có thể đó là một danh tiếng, một sự đền bù, hoặc một sự ban ơn của thần linh. Bản ngã luôn luôn đòi hỏi một quyền lợi trở lại cho chính nó. Đôi khi với lý luận tinh tế, người ta cũng chứng tỏ hành vi từ thiện của mình là vô vụ lợi, là lòng vị tha bác ái. Nhưng một khi ngã chấp chưa hết, hành vi đó vẫn dấu diếm một sự lừa gạt của bản ngã. Bản ngã lừa gạt chúng ta trong từng giờ phút mặc dù nó được che đậy rất kỹ bằng nhiều chiêu bài tốt đẹp bên ngoài. Nó tương tự như câu chuyên sau này. Một viên chức nhà nước phê chuẩn cho phép thực hiện thi công một nhà hát cao cấp với lý do để phục vụ sinh hoạt văn hóa vui chơi cho nhân dân. Kỳ thực, khi được trúng thầu để thi công, nhà thầu đã phải lót tay cho ông quan nọ một số tiền rất lớn. Chiêu bài đưa ra là phục vụ văn hóa cho dân chúng, nhưng động cơ thực sự là khoản hối lộ cho cá nhân của ông quan.
Cũng vậy, nếu xét thật kỹ động cơ thật sự của việc làm từ thiện, đôi khi chúng ta giật mình vì rõ ràng bản ngã vẫn mĩm cười ngạo nghễ. Nó vẫn có một cái lợi gì đó.
Tuy nhiên, chúng ta không thể đòi hỏi ai cũng phải diệt sạch chấp ngã rồi mới làm việc từ thiện, vì xét cho cùng, việc làm từ thiện và việc trừ diệt ngã chấp hỗ trợ lẫn cho nhau. Nhờ biết diệt trừ chấp ngã, việc làm từ thiện sẽ hoàn hảo hơn và ngược lại, nhờ việc làm từ thiện mà chấp ngã mau chóng được trừ diệt hơn. Chỉ có những người thiên lệch một chiều mới là đáng trách. Hoặc họ chỉ biết nói là diệt trừ ngã chấp mà không bao giờ chịu làm lợi ích cho ai. Hoặc họ chỉ biết làm việc từ thiện mà không bao giờ biết quay lại để diệt trừ chấp ngã.
Mẫu người lý tưởng là người vừa biết tu tập để hóa giải bản ngã, vừa biết làm việc từ thiện. Hai khía cạnh đó là đôi cánh đưa chúng ta bay đến mặt trời chân lý. Thiếu một bên, chân lý chỉ là ước mơ suông.
Chúa Jésus phán một ẩn dụ.
“Như một hạt giống rơi xuống đất, nếu nó không bị nát vỡ ra, mầm cây sẽ không mọc. Nếu nó nát vỡ ra, mầm cây sẽ nẩy nở.”
Khi bản ngã nát vỡ ra, chân lý sẽ xuất hiện. Nếu bản ngã không nát vỡ, chân lý sẽ dấu mặt.
Nhiều người lầm tưởng rằng kẻ giải thoát là kẻ coi như vắng mặt khỏi trần thế bụi bặm này. Họ không thể cảm nhận được rằng Bản Thể Tuyệt Đối là sự cảm ứng tuyệt đối với tất cả mọi người, với tất cả vạn hữu. Bậc giải thoát đã chan hòa đễ trở thành tất cả mọi người, thường xuyên cảm ứng và ấp ủ mọi người trong lòng từ bi vô hạn của mình. Tuy nhiên không phải vì thương yêu mọi người mà bậc giải thoát trở thành một vị thần linh chuyên đáp ứng những nhu cầu vị kỷ của mọi người.
Luật Nghiệp Báo vẫn là chân lý tối hậu chi phối tất cả, con người phải thực sự là thượng đế của chính mình trong việc tạo cho mình một đời sống tốt đẹp bằng cách tu tạo phước và đức. Không ai có thể đem lại cho mình hạnh phúc ngoài chính mình. Chỉ có chính mình bằng cách tạo ra nhiều nghiệp phước, bằng cách đem niềm vui đến cho mọi người, mới làm cho mình trở lên an vui hạnh lạc.
Sự thương yêu và gia hộ của bậc giải thoát chỉ có tính cách hỗ trợ mà thôi,vai trò trách nhiệm chính vẫn thuộc về trách nhiệm của mọi người.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 6 Tháng 11 27, 2015 6:44 am

Đôi điều về giới, định, tuệ

Lấy giới làm thầy, đây có thể xem là một pháp môn mới lạ mà không ít người học Phật ngày nay, ngày mai và ngày xưa từng theo đuổi. Lấy giới làm thầy được không ít Tăng sĩ xuất gia và cư sĩ tại gia mặc nhiên tán thán, xiển dương, họ đã gần như mặc định giới là cứu cánh của đạo giác ngộ, giải thoát hoàn toàn.
Song liệu giới có thể đảm đương tốt vai trò sống còn của chánh pháp, là cứu cánh niết bàn của chánh pháp giác ngộ?
Tuyệt nhiên là không thể. Người học Phật hoàn toàn không thể tựa vào giới mà có thể đắc pháp vô sanh, chứng ngộ đạo quả A la hán. Vai trò của giới chỉ là góp phần giúp người học Phật ngăn ngừa tham đắm, si mê, sân hận, hoài nghi và kiêu mạn. Người học Phật trang bị bảo giáp giới luật mà không có gươm trí huệ để cắt đứt phiền não, đoạn trừ vô minh thì cứu cánh giác ngộ, giải thoát hoàn toàn ở đạo Phật sẽ chỉ như là việc lần tìm và bắt giữ bóng chim, tăm cá.
Nếu mụ mẫm, si mê trói thân vào giới mà không tìm tòi, lĩnh hội sự sáng rõ, đúng mực của con đường chánh pháp thì việc quy y Phật phỏng có ích gì?
Thế nào là giới?
Thiết nghĩ ngay cả chính những người học Phật không ngừng tán thán, xiển dương việc "Lấy giới làm thầy" cũng không thật sự rõ biết giá trị cốt lõi của giới. Họ thọ trì và trói buộc người làm theo một cách máy móc, khiên cưỡng, cứng nhắc...
Năm giới luật căn bản của người học Phật thường nên thọ trì là không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu (nói riêng) hay các chất kích thích (nói chung) đóng vai trò gì, có giá trị như thế nào đối với việc giác ngộ, giải thoát hoàn toàn?
Có một dịp tình cờ tôi nghe một cư sĩ tại gia cao tuổi bộc bạch với một ít niềm tự hào xen lẫn kiêu hãnh "Tôi ăn chay từ năm 12 tuổi, nay tôi đã gần 80 rồi, giờ có chết tôi cũng yên tâm".
Nghe người học Phật cao niên ấy nói mà tôi không khỏi thương cảm. Học Phật mà bất tường như vậy biết đến bao giờ mới thoát khỏi lưới mộng luân hồi. Nếu việc học Phật chỉ cần ăn chay trọn đời, giữ giới nghiêm cẩn thì con bò còn làm tốt hơn những người học Phật nhiều.
Phải chăng là có rất nhiều chủng loại động vật ăn cỏ vẫn làm tốt việc giữ giới luật, chúng gần như sẽ không cần lao nhọc dụng công mà vẫn đảm bảo việc giữ giới đúng mực. Song tin rằng ở kiếp liền kề con bò sẽ không thể thành Phật, muốn chuyển kiếp người tinh khôn đã là rất khó khăn, nhiêu khê.
Thật tế là không có bộ kinh sách nào thừa nhận hay khẳng định việc ăn chay, giữ giới là người thọ trì đắc pháp vô sanh, chứng ngộ niết bàn. Thế nên việc dùng giới trói mình và người trong sự vô minh cực đoan, quá khích sẽ không mang lại nhiều lợi ích cho người học Phật. Thậm chí là việc rơi vào tà kiến đó dễ thường khiến người thọ trì xa rời sự đúng mực, sáng rõ của chánh pháp. Nguyên là việc lấy giới trói mình, cột người sẽ khiến người học Phật mê tâm tăng trưởng bản ngã, thêm sân hận, si mê, mù quáng và cực đoan, khả năng sống tùy thuận, nhu hòa ngày càng kém.
Giới luật đạo Phật có không ít nhưng chung quy lại cũng chỉ là năm giới luật chính yếu.
- Không sát sinh để phát khởi, bảo nhậm tâm từ, tăng trưởng lòng yêu thương lợi tha. Không sát sinh còn nhằm vào mục đích ngăn ngừa việc tham đắm món ngon, việc rơi vào lợi dưỡng ở người học Phật khiến họ khó thể tiến tu. Vấn đề không sát sinh không đồng nghĩa với việc con người (nói chung) hay người học Phật (nói riêng) phải ăn chay. Lẽ chay mặn là do người học Phật mê tâm đặt nặng việc thọ thực mà "thổi phồng" điều chay mặn.
Lẽ ra việc chay mặn nên hiểu là tham đắm việc uống ăn là mặn; tri túc, thiểu dục thọ thực là chay.
Bảo rằng ăn chay không phạm sát sinh là điều không thật đúng bởi lẽ dù là động vật hay thực vật thì muôn loài đều có sinh mạng. Ăn rau, ăn cơm thì cũng có hà sa chủng loài động thực vật chết trong miếng ăn của mỗi người.
- Không nói dối là giới luật nhằm ngăn ngừa việc tham sân si mạn nghi ở người thọ trì và mọi người. Bởi lẽ việc nói dối dễ gây điều tiếng thị phi, phiền não.
- Không tà dâm là giới luật góp phần ngăn trừ việc huân tập hạnh xấu, việc tham dâm, túng dục dễ khiến con người chìm sâu xuống những cõi giới thấp hơn. Nguyên nhân là việc tham đắm dục lạc dễ khiến con người mê muội, lạc thần. Trí không minh tự khắc lối đi sẽ không sáng.
- Không trộm cắp là giới luật ngăn ngừa việc tham lam, đắm nhiễm tài vật. Người học Phật giữ nghiêm giới luật này sẽ không tích góp những thói hư, tật xấu, những việc tổn người, hại mình về sau. Người không trộm cắp sẽ tránh được những phiền não, tù tội, không bị người đời khinh khi, chà đạp...
Tóm lại, giới luật có công năng giúp người học Phật giảm thiểu, dứt trừ tham sân si mạn nghi. Người thọ trì đúng mực sẽ tránh được những điều tiếng thị phi, phiền não cả trong lẫn ngoài. Giá trị của giới chỉ là trợ pháp góp phần giúp người học Phật dễ dàng hơn việc tiến tu trên con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn. Giới hoàn toàn không thể đảm bảo vai trò, vị trí người thầy của người học Phật. Giới càng không thể là cứu cánh của đạo giải thoát.
Ở đời có một lượng đông đảo người không từng quy y Phật, song họ sống với những hạnh tốt, việc giữ giới luật đúng mực tự nhiên, họ ăn chay trọn đời. Tuy nhiên, nếu họ không có cơ duyên tiếp cận với sự sáng rõ, đúng mực của chánh pháp giải thoát khỏi luân hồi thì tin rằng họ chẳng thể nào vượt ra khỏi việc "Thay khuôn, đổi mặt" nơi 3 cõi 6 đường, việc đắc pháp vô sanh.
Ngược lại, một đứa trẻ mồ côi được đưa vào chùa nuôi nấng đến khi khôn lớn, việc "ăn cây nào rào cây ấy" sẽ giúp người học Phật này giữ giới nghiêm cẩn, vị Tăng bảo này sẽ không thể, không dễ trực nhận khổ não ở nẻo đời, việc rơi vào một bên và dị kiến dễ thành hình. Thế nên dù người học Phật này có làu thuộc trọn bộ Tam Tạng kinh cũng khó mong liễu ngộ được hoàn toàn chánh pháp. Việc chứng đắc đạo quả, nếm trải pháp vị càng thêm mông lung, huyễn hoặc.
Vậy nên chỉ khi người học Phật rõ biết giá trị gốc của giới luật thì mới mong có được sự tiến bước trên đường đạo. Còn bằng cứ u mê dính mắc vào những kiến thủ, kiến chấp vô minh thì e rằng việc học Phật không tiến lên mà lại trượt dài, rơi rớt về phía sau.
Vai trò của giới giúp người học Phật sinh định, rồi từ định sẽ phát khởi huệ. Trí huệ, sự hiểu biết khách quan, đúng mực, sáng rõ về vạn pháp sẽ giúp người học Phật minh tâm, kiến tánh, chứng ngộ pháp vô sanh.
Giới, định, huệ là ba môn học mà người học Phật cần phải thông tỏ. Giới định tuệ có hai dạng:
- Giới định huệ của hàng đại thừa là bên ngoài chẳng tìm có, bên trong chẳng giữ không. Một niệm chẳng sanh, muôn duyên không lặng gọi là định. Khéo hay phân biệt chẳng sanh lòng yêu ghét gọi là huệ.
- Giới định huệ của hàng tiểu thừa là chỉ chấp nơi thân, đoạn trừ tứ trụ bệnh gọi là giới. Thân hình đồng như cây khô, dứt sự hiển hiện oai nghi gọi là định. Chỉ chứng thiên không, mất lý trung đạo gọi là huệ. Cho nên còn gọi đó là pháp nghèo, là vùi lấp định huệ. Ngài Duy Ma Cật gọi là pháp tiểu thừa.
Chánh pháp có nơi đạo giác ngộ, giải thoát hoàn toàn đã trải qua hơn 2500 năm đã gom góp một lượng đông đảo người theo về. Chỉ tiếc là học nhân, hành giả không hề ít nhưng Giác giả hoàn không, sự không thực chứng ngộ hoàn toàn tinh yếu của đạo giải thoát cùng với năm tháng lâu xa mà giá trị sáng rõ, khách quan, đúng mực của con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn bị mai một, nhạt nhòa.
Người học Phật ngày nay cần phải có sự tư duy, nhận thức đúng đắn về con đường giác ngộ, giải thoát hoàn toàn, người học Phật rất nên tránh xa những lề thói học Phật theo đường tà, lối rẽ. Phàm thọ nhận, hành trì, thực hiện một điều gì thì cũng rất nên rõ biết giá trị, ý nghĩa, mục đích của việc mình làm, tránh việc hành xử a dua, hưởng ứng theo số đông, phong trào một cách mông muội, chủ quan, cực đoan.
Phải chăng sự hiểu biết đúng mực, sáng rõ, khách quan mới là cứu cánh, là chìa khóa để mở cánh cửa giải thoát hoàn toàn?
Người học Phật muốn trở nên thông tuệ, việc chuyển vị thành Giác giả thì yêu cầu tối hậu là người học Phật đó tích góp đủ đầy sự hiểu biết có ở cả hai nẻo đạo đời, nếu chỉ rơi vào một bên thì việc giác ngộ hoàn toàn thật khó lắm thay. Việc giải thoát hoàn toàn thì không đòi hỏi sự hiểu biết trọn vẹn ở hai nẻo đạo đời mà chỉ cần thả lòng, buông bỏ những kiến chấp sai lầm, đắm nhiễm và việc phá ngã đúng mực.

(Vô Ưu - Một thoáng phương đông)
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 2 18, 2016 12:26 am

LỢI ÍCH CỦA TU THIỀN
Hòa thượng Thích Thanh Từ
Đề tài chúng tôi nói hôm nay là Lợi ích của sự tu thiền, song chỉ nói hạn chế trong một phần thiết yếu thôi.
Trước khi nói về lợi ích của sự tu thiền, chúng tôi xác nhận lại rõ ràng tu thiền ở đây là tu theo phương pháp của đạo Phật, chớ không phải thiền của các môn phái khác. Nếu chúng ta hiểu rõ và ứng dụng đúng cách, sẽ có những lợi ích như thế nào, đó là chỗ chúng tôi muốn trình bày.
Nói đến lợi ích của tu thiền nghĩa là nói đến lợi ích của đạo Phật. Bởi vì mục đích của đạo Phật là lấy giác ngộ giải thoát làm nền tảng. Các lợi ích khác nếu có chỉ là phần phụ, chớ không phải gốc. Nếu chúng ta tu thiền theo đạo Phật thì phải thấy rõ làm sao đi đến chỗ cứu kính giác ngộ được đạo, thấy rõ chân lý của kiếp người, của chúng sanh. Đồng thời, ta làm chủ được mọi sự trói buộc mọi sự lôi kéo để thành con người tự do giải thoát. Đó là mục đích của đạo Phật.
Trong phần lợi ích phụ, trước tôi nói lợi ích về thân. Tất cả những vị đã có ý chí tu hành, đều biết càng tu càng được sáng suốt, chớ không thể trở thành người bạc nhược yếu đuối, mờ mịt tối tăm. Thế nên người tu Phật thường tránh những thái độ cực đoan, mà phải giữ trung đạo.
Như Thái tử Tất-đạt-đa khi mới đi tu, Ngài học hỏi với những triết gia hay các vị tu tiên, nhưng không thỏa mãn được mục tiêu, bản hoài của mình đã ôm ấp. Vì vậy Ngài tìm đường tu riêng. Trong sử kể Ngài tu khổ hạnh mấy năm liền, đến nỗi thân thể chỉ còn da bọc xương, cuối cùng đi đến ngất xỉu bất tỉnh. Từ đó Ngài mới biết phương pháp khổ hạnh không đem lại giác ngộ và giải thoát sanh tử, nên Ngài từ bỏ khổ hạnh. Sau này, Ngài ăn ngày một bữa và sống bình thường, chỉ cốt tọa thiền sao cho tâm được định, nhờ thế mới đi tới giác ngộ. Vì vậy Ngài dạy người học Phật phải tránh hai thái độ cực đoan: Một là khổ hạnh, hai là hành lạc. Hành lạc nói theo thế gian là trác táng. Khổ hạnh và hành lạc là hai thứ bệnh mà người tu Phật không nên có.
Một số người tu Phật có vẻ kỳ bí thì chúng ta nên xét lại, thật ra họ chỉ mượn tên đạo Phật thôi, chớ không tu đúng tôn chỉ Phật dạy. Thí dụ những vị tu không ăn cơm, chỉ ăn rau hoặc các loại khoai củ, cho đó là tu hay. Có người tu Phật lại tịnh khẩu, không nói chuyện. Nhưng với đạo Phật điều đó không quan trọng. Người tu Phật rất bình dị, biết điều hòa tiết dục để đầy đủ sức khỏe, cuộc sống an ổn bình thường. Không phải tu Phật là không ăn cơm, là tịnh khẩu v.v… những việc ấy không phải gốc của đạo Phật. Do đó người biết tu Phật hay biết tu thiền, điều kiện đầu tiên là sống điều độ, biết tiết dục. Điều độ là trong cuộc sống ăn, nghỉ chừng mực điều độ, đối với các dục lạc phải hạn chế, không buông lung trác táng. Nhờ thế cuộc sống được tốt đẹp. Đó là lợi ích đầu tiên của người tu thiền.
Thứ hai là lợi ích của việc ngồi thiền. Người biết ngồi thiền đúng phương pháp sẽ chống được thời tiết thay đổi bất thường, ít bị các bệnh ngoại cảm. Tại sao? Nếu ai có thực tập ngồi thiền sẽ thấy, chúng ta đang hơi cảm, bị lạnh, muốn sổ mũi v.v… nhưng khi bắt chân lên tọa thiền từ một giờ trở lên, chúng ta thấy người ấm lại. Tất cả những triệu chứng ngoại cảm xâm chiếm từ từ tan dần. Đó là một lẽ thật. Ngày xưa, khoảng năm l970 tôi ở trên núi Vũng Tàu, mỗi khi thời tiết thay đổi, tôi ngồi thiền thì không bị cảm. Từ đó tôi mới thấy mình tu không phải để trị bệnh, không phải để sống dai, nhưng chính nhờ tọa thiền nên bệnh được giảm và mình sẽ không bị thời tiết làm bệnh tật. Đó là lợi ích thiết thực của sự tu, giúp cho chúng ta khỏi tổn sức khỏe, khỏi tốn hao tiền bạc thuốc men.
Thưa thật năm l961, tôi bị bệnh phổi phải vào bệnh viện điều trị. Bệnh này khi thời tiết thay đổi dễ bị cảm lắm, mỗi lần cảm là ho. Nhờ tôi lên núi tu thiền nên không có bệnh cảm. Vì bệnh cảm không có nên bệnh phổi từ đó về sau cũng không tái phát, mặc dù chúng tôi vẫn giảng dạy đều đặn như thường. Rõ ràng sức tu giúp cho mình tăng thêm sức khỏe.
Khi bệnh phải siêng tu, phải vui lên mới mau hết bệnh. Bệnh mà buồn thì con người sẽ thấy yếu đuối dã dượi, nên ưa nằm. Càng nằm lại càng bệnh, cứ thế sức khỏe suy kiệt dần, bệnh từ nhẹ bước sang nặng. Còn vui thì bệnh có nặng cũng thấy nhẹ. Như khi ta đang bệnh nằm, giả sử có người bạn chí thiết đã lâu không gặp, bỗng dưng về thăm, mình mừng quá nói chuyện một hồi quên đau luôn. Để thấy ta vui lên thì những bệnh nhỏ nhỏ mất hết. Bởi vậy nên nội tâm, nếu bỏ được lo sợ, buồn rầu thì tự giảm được một phần lớn bệnh hoạn. Ngược lại cứ ôm ấp lo buồn, dù bác sĩ hay giỏi cách mấy trị bệnh thì cũng chưa chắc có hiệu nghiệm. Tóm lại về thân chúng ta sanh bệnh do hai lý do, một là thời tiết, hai là tâm lý bất ổn.
Bây giờ người tu thiền nhờ tọa thiền, có sức ấm đuổi tan được ngoại cảm, đó là chống được thời tiết. Buông xả tất cả các tâm niệm lo sợ buồn rầu, trong lòng thảnh thơi, bệnh cũng không xâm nhập được. Đó là chúng tôi nêu lên hai phần bệnh về thân.
Kế đến nói bệnh về tâm. Thứ nhất là tâm tán loạn, bồng bột. Ở thế gian có nhiều người khi thích cái gì, hay bực bội điều gì trong tâm tán loạn, có những ý niệm rất sôi nổi bồng bột, không làm chủ được mình. Do đó họ có những tác động gây tai họa cho mình, cho người không thể lường được. Chúng ta tu thiền cốt làm sao lóng lặng được những tâm niệm tán loạn, bồng bột ấy. Vì vậy đối trên mặt tâm niệm, việc tu thiền có kết quả đầu tiên là dừng lặng bớt tâm tán loạn, tâm bồng bột. Đó là lợi ích thứ nhất về tâm.
Thứ hai, người biết tu thiền sẽ kềm chế được tham, sân và si. Thế gian không có khổ gì bằng nóng giận, đó là sân. Nhưng nóng giận không phải tự nó có, do ta mong muốn điều gì mà không được nên nổi sân. Vì vậy tu thiền, chúng ta sẽ kềm chế được nóng giận, tham lam, và nhất là dẹp được si mê.
Thứ ba, nhân tu thiền mà tâm chúng ta được an ổn, thanh tịnh. Đó là lợi ích lớn của người tu thiền.
Thứ tư, do tu thiền nên trí tuệ càng ngày càng sáng tiến lần tới giác ngộ. Đây chính là lợi ích lớn nhất của sự tu thiền.
Vì vậy các Thiền viện, Tăng Ni đều được thực tập tọa thiền, ứng dụng tu đúng với phương pháp Phật dạy để có lợi ích thiết thực. Tu thiền là phải ứng dụng, chớ không chỉ nói suông. Ở đây chúng tôi nói lý thuyết cho quí vị có một cái nhìn đúng đắn về tu thiền, chớ chưa đi vào thực tập, nên cũng chưa thấy kết quả cụ thể.
Có một lợi ích lớn nữa của việc tu thiền, đó là không sợ chết. Tất cả chúng ta ai cũng sợ chết. Chết là cái đáng sợ nhất, nên nó trở thành cái khổ nhất của con người. Người tu thiền, khi đã nhận hiểu được đạo lý, ứng dụng được phương pháp tu rồi, đối với sanh tử sẽ thế nào? Đây là điều hết sức quan trọng. Ở đây tôi xin dẫn một ít câu chuyện nhỏ về việc này.
Câu chuyện thứ nhất của một Thiền sư cư sĩ Trung Hoa là ông Bàng Long Uẩn. Ông là một nho sĩ đời Đường, nhưng lại nghiên cứu về Phật, nhất là thiền. Sau này ông ngộ đạo ở hai vị Thiền sư nổi tiếng là Mã Tổ Đạo Nhất và Thạch Đầu Hy Thiên. Ngộ đạo rồi, nhưng ông không xuất gia, vẫn tu trong hình thức cư sĩ. Ông có hai người con, một trai, một gái và người vợ. Với sự khéo léo giáo dục vợ, con đều biết tu như ông. Mỗi khi gia đình hội họp bàn luận đều đem chuyện đạo đức, tu hành mà nói, chớ không theo thế tục.
Khi gần tịch, ông biết trước nên chuẩn bị sẵn. Hôm đó, ông bảo người con gái là cô Linh Chiếu: Con ra ngoài xem mặt trời đúng ngọ, vô cho ba hay. Cô Linh Chiếu chạy ra nhìn mặt trời thấy đúng ngọ, nhưng biết trước ý định của cha nên cô đánh lừa, nói: Thưa ba, mặt trời đã đúng ngọ nhưng bị nguyệt thực, ba ra coi. Ông tưởng thật, bước ra ngoài xem. Lúc trở vô, ông thấy cô con gái đã lên ngựa giữa ngồi kiết già nhắm mắt tịch. Ông cười nói: Con gái ta lanh lợi quá, rồi ông lo mai táng cho con.
Sau đó ông báo tin cho bạn bè thân biết bảy hôm nữa ông sẽ tịch. Bảy hôm sau có người bạn thân tới ngồi bàn đạo, hồi lâu ông nói: Thôi tôi mỏi mệt, anh cho tôi nằm gá trên đầu gối nghỉ một chút. Nói xong, ông liền nằm xuống gá trên đầu gối người bạn, thở khì một cái rồi tịch luôn.
Người ta chạy báo tin cho bà vợ và người con trai hay. Bà vợ đang nấu cơm, người con trai đang cày ruộng. Khi được tin, bà chạy ra đồng cho người con trai hay: Con ơi, con nhỏ ngu si và ông già vô tri đi rồi. Nghe thế, người con trai đứng tại chỗ tịch luôn. Bà Long Uẩn bèn nói: Cái thằng ngu si này cũng đi nữa. Lo mai táng xong xuôi hết cả nhà, bà từ giã làng xóm lên núi tịch luôn. Cả một gia đình muốn sống là sống, muốn chết là chết, tự tại. Nên có một bài sám viết “In như thiền định họ Bàng thuở xưa” là vậy.
Đó là vị cư sĩ ở Trung Hoa, ở Việt Nam ta có ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ. Khi sắp tịch, Ngài bảo đặt một cái giường tại Dưỡng Chân Trang nơi nhà giữa, Ngài ra đó nằm rồi nhắm mắt tịch. Mấy bà thê thiếp hay được, chạy ra khóc rống lên. Ngài ngồi dậy bảo đem nước cho Ngài súc miệng rửa mặt, rồi quở: Chết sống là lẽ thường nhiên, tại sao làm náo động chân tánh ta? Quở xong, Ngài nằm xuống nhắm mắt tịch. Như vậy cư sĩ Trung Hoa, cư sĩ Việt Nam tu hành vẫn tự tại như thường, chớ không luận là người xuất gia.
Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ có làm bài thơ “sanh tử nhàn nhi dĩ ” tức chết sống là chuyện nhàn thôi, không có gì quan trọng. Tôi chỉ trích hai câu chót để chúng ta thấy được tánh cách sanh tử nhàn của Ngài. Nguyên văn chữ Hán:
Ngu nhân điên đảo bố sanh tử,
Trí giả đạt quan nhàn nhi dĩ.
Dịch:
Người ngu sống chết mãi lo âu,
Kẻ trí rõ không nhàn thôi vậy.
Nghĩa là người ngu điên đảo sợ sanh tử, còn người trí thấu suốt nên nhàn thôi vậy. Đối với người liễu đạt được lý đạo, việc chết sống là việc nhàn, không có gì quan trọng hết. Chúng ta thấy chẳng phải chỉ giới tu sĩ mới có công dụng tu hành tự tại trong sanh tử, mà kể cả người cư sĩ tại gia, vẫn tự tại trong sanh tử như thường. Điều đó hết sức rõ ràng.
Bây giờ tới một Thiền sư Việt Nam là ngài Pháp Loa. Năm bốn mươi hai tuổi sắp tịch, đồ đệ Ngài đến than thở, yêu cầu xin cho ít lời kệ. Ngài ngồi dậy viết:
Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn,
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian.
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn,
Na biên phong nguyệt cánh man khoan.
Dịch:
Muôn duyên cắt đứt, một thân nhàn,
Hơn bốn mươi năm giấc mộng tràng.
Nhắn bảo mọi người thôi chớ hỏi,
Bên kia trăng gió rộng thênh thang.
“Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn”, tức là muôn duyên cắt đứt một thân nhàn. Lúc hết duyên để ra đi, đó là muôn duyên đã cắt đứt. Cắt đứt rồi sao? Chỉ còn một thân nhàn. Chữ thân nhàn đây đừng nghĩ là thân xác thịt. “Tứ thập dư niên mộng huyễn gian”, hơn bốn mươi năm chỉ là khoảng thời gian như mộng huyễn, không có gì quan trọng. “Trân trọng chư nhân hưu tá vấn”, tức là nói cho mọi người: Thôi đừng hỏi chi nữa. “Na biên phong nguyệt cánh man khoan”. Na biên tức là bên kia, bên kia trăng gió rất mênh mông.
Như vậy việc nhắm mắt đối với Ngài không phải chuyện khổ đau, mà là đang hướng về một nơi an nhàn, thênh thang. Đó là hiện tượng tốt đẹp của các Thiền sư khi ra đi. Các Ngài rất tự tại vui vẻ trước giờ phút lâm chung, không hề có chút sợ sệt. Tại sao? Tôi thường ví dụ như ta có chiếc ô tô cũ nên hay hư, có khi phải đẩy nó mới chịu đi, tìm thợ sửa thật cực nhọc. Chiếc xe hư như vậy, chúng ta không có tiền sắm một chiếc xe mới thật là khổ. Bây giờ mình tích lũy, dành dụm được một số tiền lớn, chiếc xe này hư chúng ta có khả năng mua chiếc xe đẹp hơn, tốt hơn. Đó là việc nên buồn hay không nên buồn? Chiếc xe cũ hư, chúng ta sắm được xe đẹp mới tốt hơn, tại sao lại buồn? Nếu cứ mang xe cũ hoài, nó chạy cục kịch, mình mệt, có phải chán không. Cũng vậy, người biết tu rồi đối với thân này, biết là thân bại hoại không thể giữ mãi. Khi nào còn tốt dùng được thì dùng, khi nào hư thì thôi, không luyến tiếc. Tại sao không luyến tiếc? Vì mình đã biết tu, đã tích lũy những nghiệp lành, giống như người đã tích lũy được nhiều tiền, hư xe cũ sắm xe mới đẹp hơn. Có gì phải buồn? Do đó nên không buồn, không sợ dù biết nay mai ta sẽ chết, nhưng lòng vẫn an nhiên tự tại. Chỉ tích lũy nghiệp lành thôi đã an ổn rồi huống nữa chúng ta tu và nhất là tu thiền.
Tu thiền là phải nhìn thấy tường tận được cái chân thật của mình. Ngay thân tạm bợ này có một cái chân thật mà chúng ta quên. Bây giờ nhớ lại nhận ra được, thì cái tạm bợ còn mất không quan trọng nên hết sợ. Nếu chưa nhận được thì mất thân này phải sợ, vì không biết rồi đây sẽ ra sao. Cho nên có câu “Đường trước mờ mờ không biết đi đâu?” Như ngài Pháp Loa đã nói “Bên kia phong nguyệt cánh man khoan” tức là bên kia trăng gió mênh mông, có gì buồn có gì lo.
Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện, một hôm có vị cư sĩ là Lục Hoàn Công hỏi:
- Bạch Hòa thượng, có người nuôi con ngỗng trong một cái bình. Lâu ngày nó lớn vừa khít cái bình. Bây giờ muốn đem con ngỗng ra mà đừng đập bể bình, xin Hòa thượng đem ra giùm.
Khi đó ngài Nam Tuyền liền kêu:
- Lục đại phu!
Đại phu ứng thinh:
- Dạ.
Ngài nói:
- Ra rồi.
Ngay đó Lục Hoàn công liền tỉnh ngộ. Đây là một thuật khéo trong nhà thiền.
Như hiện giờ tôi đang nói chuyện quí vị có nghe không? Nghe. Nhưng khi tôi im lặng, quí vị có nghe không? Đa số trả lời không nghe. Tôi nói quí vị bảo có nghe, tôi im lặng quí vị bảo không nghe. Như vậy quí vị có lỗi lớn là quên mình theo vật. Tại sao? Khi tôi nói thì có tiếng, quí vị nghe có tiếng. Khi tôi im lặng thì không có tiếng, quí vị nghe không có tiếng, tại sao bảo không nghe? Tiếng là ở tôi, nghe là nơi tai quí vị. Tai quí vị có lúc nào điếc đâu mà bảo không nghe. Nhưng lâu nay chúng ta có bệnh, có tiếng thì bảo có nghe, không tiếng thì bảo không nghe. Đó là quên mình.
Cũng thế ở mắt, ở tai, ở mũi, ở lưỡi, ở thân chúng ta lúc nào cũng sẵn có tri giác. Nhưng những tri giác hiện hữu đó, chúng ta lại quên, chỉ biết khi suy gẫm chuyện gì thì cho cái hiểu biết, suy gẫm đó là tâm mình. Còn cái hằng hữu nghe, thấy, cảm xúc v.v… chúng ta tưởng như không phải mình nên gọi là quên mình. Những suy nghĩ của chúng ta có khi sanh có khi diệt, còn cái nghe, cái thấy của mình đâu có sanh diệt. Có nghe tức là có biết, có thấy là có biết, cái thấy biết đó không sanh diệt mà chúng ta quên.
Trong kinh Lăng Nghiêm có câu chuyện rất lý thú. Khi đức Phật giải thích về các tánh thấy, nghe… nơi mỗi chúng ta, ngài A-nan hỏi:
- Bạch Thế Tôn, theo lời Phật dạy con mắt luôn luôn thấy, lỗ tai luôn luôn nghe. Vậy người mù không có con mắt, họ có thấy không?
Phật bảo ngài A-nan:
- Ngay bây giờ ông tìm những người mù, hỏi “trước mắt thấy gì”, họ sẽ trả lời “tôi thấy tối đen”. Người mù thấy tối đen và người sáng mắt ban đêm vào căn nhà tối không có đèn, cũng thấy tối đen. Như vậy cái thấy tối đen của người có mắt và người mù khác không? Không khác vì đều thấy tối đen.
Bây giờ khi bật đèn sáng, người mắt sáng liền thấy cảnh vật trước mắt. Phật hỏi:
- Là con mắt thấy hay ngọn đèn thấy?
Ngài A-nan trả lời:
- Đó là mắt thấy.
Phật bảo:
- Như vậy nếu người mù được mổ, cạo những mây mù, họ sáng ra liền thấy cảnh vật bên ngoài. Đó là cái gì thấy? Nên biết con mắt dù có, nhưng thiếu đèn thiếu ánh sáng cũng không thấy, còn cái hay thấy sẵn có nhưng vì bị mây mù che đậy nên cơ quan ấy hư thì mình không thấy, sửa lại liền thấy. Rõ ràng cái thấy đâu có vắng mặt. Vì cơ quan mắt hư, chớ không phải cái thấy không có.
Như vậy để chúng ta nhận biết rằng nơi mình có một cái hằng tri, hằng giác hiện ở các cơ quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, chớ không phải chỉ suy gẫm mới gọi là có hiểu biết. Cái hiểu biết ấy đã ngầm sẵn trong các bộ phận đó. Khi tu thiền, lặng hết các suy nghĩ lăng xăng rồi, lúc đó chúng ta càng sáng rõ hơn, chớ không phải không biết.
Như hiện giờ chúng ta đứng trên bờ biển nhìn xuống những lượn sóng nổi dưới mặt biển. Có lượn to có lượn nhỏ. Lượn sóng nào quá to có khả năng đánh đắm tàu, nhưng nếu nhìn trên mặt biển lượn sóng ấy chiếm chỉ một tí ti toàn diện tích mặt biển. Khi trăm ngàn lượn sóng như thế lặng xuống thì mặt biển rộng lớn chừng bao nhiêu? Không thể kể được. Những lượn sóng chỉ là tướng chập chờn khi có khi không mà còn tác dụng phi thường, huống nữa các lượn sóng đó lặng xuống, mặt biển thênh thang thì diệu dụng của nó thật không thể lường.
Cũng vậy, tâm niệm suy gẫm tính toán của chúng ta sanh diệt từng đợt. Thế nhưng con người đã tạo nên biết bao hiệu dụng lớn lao từ những đợt tâm niệm đó. Có thể nói họ muốn thế giới còn thì còn, muốn thế giới hoại thì hoại. Nếu một ngày nào đó, những tâm niệm lăng xăng ấy lặng xuống hết, chỉ còn một thể tri giác sáng suốt trùm khắp thì chúng ta thử nghĩ xem diệu dụng ấy tới ngần nào.
Cho nên người tu thiền cốt đạt được cái chân thật sẵn có nơi mình, đó chính là mục đích cứu kính, là lợi ích cùng tột trên đường tu. Do đó chúng tôi thường nói cái thật hiện tiền nơi mình mà mình lại bỏ lơ, đi tìm những thứ gì xa xôi ở đâu đâu. Đó là điều đáng tiếc và cũng đáng trách nhất của con người mê muội.
Vì vậy lợi ích lớn của tu thiền trong đạo Phật, là đem lại sự quân bình cho nhân loại. Điều này rất quan trọng. Nói tới đem lại sự quân bình cho nhân loại, chúng ta phải nhìn hiện giờ nhân loại đang mất quân bình cái gì? Trước hết, hiện tại mọi người đều thấy khoa học kỹ thuật là vạn năng, có thể đem lại cho con người mọi nhu cầu vật chất sung mãn. Nhưng khi con người lao theo hình thức vật chất thì lại quên mất mình.
Ai cũng thế, khi thiếu cái ăn cái mặc, thì cắm đầu lo cho cái ăn cái mặc, nên quên hết mọi thứ khác. Song việc ăn mặc không có giới hạn. Lúc chưa có cơm ta chỉ nghĩ có được cơm là quí rồi, nhưng khi có cơm ta lại muốn có thức ăn ngon. Cứ như vậy muốn thêm, muốn thêm hoài. Tất cả những nhu cầu vật chất không bao giờ thấy đủ. Vì thế con người cứ lao theo vật chất, càng lao theo vật chất thì càng quên mất mình.
Chúng tôi đi ra nước ngoài, thấy có nhiều Phật tử Việt Nam rất đáng thương. Họ kể lại có khi sáng sớm đã phải lo thức ăn đem theo vô sở làm. Làm tới trưa nghỉ được nửa giờ, rồi làm cho tới chiều tối mới về. Ngày nào cũng như ngày nào, đi phải đi sớm, trễ mười lăm phút thì bị đuổi sở. Thành thử ai cũng nơm nớp lo đi làm sớm, về cũng đúng giờ, không được về trước, luôn luôn đi sớm về tối. Vì vậy Phật tử ở nước ngoài hay dùng từ đi cày. Sớm đi tối về như vậy, nên không còn thì giờ nghĩ tới chuyện con cái, chuyện an ổn tâm hồn.
Rõ ràng càng đuổi theo vật chất người ta càng dễ quên mình. Mà đã quên mình thì tự nhiên lệ thuộc vào máy móc. Làm gì cũng máy móc điều khiển chớ không phải con người điều khiển máy móc nữa. Giờ nào việc nấy, không sai suyển được. Cho nên cả ngày không có phút giây nào an ổn. Như vậy tuy khoa học vạn năng, nhưng nếu chúng ta cứ đuổi theo mãi thì sẽ bị quên mất mình. Đó là điều thứ nhất.
Thứ hai, khoa học là môn học rất khách quan. Các nhà khoa học tìm kiếm phát minh cái gì là để cống hiến cho nhân loại, chớ không dành chủ quyền cho riêng mình. Ví dụ phát minh ra nguyên tử, họ đâu có nghĩ rằng mai kia nguyên tử sẽ trở thành những quả bom tiêu diệt nhân loại. Nếu nghĩ như vậy chắc các nhà khoa học không phát minh đâu. Khi phát minh thì cứ phát minh, nhưng lúc sử dụng lại còn tùy thuộc người khác. Người tốt thì đem đến lợi ích cho nhân loại, người xấu thì gieo rắc tai họa không thể lường nổi. Khoa học rất lợi, rất hữu ích nhưng con người dùng nó có khi lợi, có khi hại. Do đó nhiều người nói rằng khoa học là con dao hai lưỡi. Đây là điều chúng ta thấy cẩn thận, dè dặt.
Nhiều người cho rằng thời văn minh này khó tu. Tại sao khó tu? Vì ngoài việc làm ở sở về, còn bao nhiêu thì giờ bị ti-vi chiếm hết rồi, xem ti vi xong là lăn ra ngủ, đâu có nhớ tới tu. Cứ như vậy ngày qua ngày không có thời gian rảnh rỗi. Gần đây báo chí cho biết hiện nay tình trạng tự tử của người Tây phương có thể nhiều hơn người Á đông. Tại sao? Không phải vì nghèo đói tự tử, mà vì dư thừa quá nên tự tử! Tại sao vậy? Bởi vì khi chưa có ăn thì lo cho có ăn. Nhưng khi ăn mặc thừa rồi thì lại thấy cuộc đời sao vô vị quá, không có gì cao siêu, tự nhiên thấy chán nên không muốn sống nữa. Khi khoa học tiến cao tiến nhanh lại là lúc con người ta thấy hụt hẫng, thiếu một cái gì hết sức cần thiết trong cuộc sống. Thật lạ lùng!
Ở đây đạo Phật quay lại chính mình, giải quyết vấn đề con người, làm sao hiểu được mình là cái gì? Đó là trọng tâm của đạo Phật. Như vậy đạo Phật giúp con người giải quyết được khi bị mất mình, khi thấy cuộc sống vô vị. Nếu biết trở lại mình có cái chân thật rồi thì không còn chán nản cuộc đời vô vị nữa. Như vậy chính đạo Phật đem lại sự quân bình cho con người trong thời đại khoa học kỹ thuật cực tiến này.
Khi khoa học kỹ thuật được nâng cao quá mức, tự nhiên phần tinh thần đạo đức bị suy giảm. Đó là thiếu quân bình. Thiếu quân bình thì đưa tới tai họa bản thân dễ chán nản. Đối với xã hội, nhân loại, dễ gây ra những hiểm nguy bất thường. Do đó có được đạo đức chân thật sẽ giúp cho con người quân bình cuộc sống của mình an ổn. Cho nên điều này hết sức thiết yếu.
Hiện giờ người Tây phương đang bị mất lòng tin về đạo đức cổ truyền, cho nên họ rất hụt hẫng. Người Đông phương có phước là còn được nền đạo đức vững chắc. Nếu người Đông phương vừa giỏi khoa học vừa vững đạo đức thì thật là lợi ích, chẳng những cho xứ sở quê hương mình mà cho cả nhân loại nữa. Chúng ta phải thấy rõ lợi ích của khoa học và thấy rõ lợi ích của đạo đức. Cả hai không thể thiên lệch một bên, mà phải nâng đều như nhau. Một con người đầy đủ tình thương, đầy đủ trí tuệ mà lại có nhiều phương tiện thiện xảo thì xã hội đẹp không thể tưởng được. Đó là điều chúng tôi hằng mong mỏi dân tộc mình đạt được, như thế xứ sở ta dân nhân ta có cuộc sống hay đẹp biết chừng nào!
Thiền sư Hương Hải ở Việt Nam chúng ta, Ngài tu theo hệ Trúc Lâm Yên Tử nhưng cách khá xa thời Tam tổ Trúc Lâm. Khi vua Lê hỏi Ngài:
- Trẫm muốn được Hòa thượng dạy một đường lối tu cụ thể.
Ngài liền nói bài kệ:
Phản văn tự kỷ mỗi thường quan,
Thẩm sát tư duy tử tế khan.
Mạc giáo mộng trung tầm tri thức,
Tương lai diện thượng đổ sư nhan.
Dịch:
Hằng ngày quán lại chính nơi mình,
Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh.
Trong mộng tìm chi người tri thức,
Mặt thầy sẽ thấy trên mặt mình.
Ngài dạy muốn tìm cái hay của đạo Phật thì phải “Phản văn tự kỷ mỗi thường quan”, tức là phải luôn luôn nhìn lại mình cho thật tường tận. Mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm hay mỗi phút mỗi giây, ta thường xem xét lại mình, đó là điều thiết yếu. “Thẩm sát tư duy tử tế khan”, tức là phải xét nét, tra cứu kỹ càng việc đó. Như vậy sự tu của đạo Phật, trọng yếu là quan sát lại mình.
Quan sát lại mình có hai trường hợp: Một là quan sát để thấy mình đang nghĩ tốt hay đang nghĩ xấu, đang làm lành hay đang làm dữ. Biết như thế rồi kềm chế việc xấu dở và nuôi dưỡng việc hay tốt. Tu là phải luôn luôn quan sát, thấy được tâm niệm hành động của mình tốt hay xấu. Nếu tốt thì chúng ta nuôi dưỡng, nếu xấu thì chúng ta tiêu diệt.
Xa hơn nữa, nhờ quan sát như thế chúng ta thấy được nơi mình có cái gì thật, cái gì hư. Đó là bước tiến thứ hai. Quan sát lại mình rồi kết quả sẽ ra sao? “Mạc giáo mộng trung tầm tri thức, tương lai diện thượng đổ sư nhan”, đừng ở trong mộng tìm tri thức, sau này sẽ thấy mặt thầy ngay trên mặt mình. Có nhiều người mơ ước trong mộng gặp thầy tới dạy đạo cho mình. Đó là tri thức trong mộng, không phải thật, không phải chân lý. “Tương lai diện thượng đổ sư nhan”, nghĩa là sau này ngay trên mặt mình đã thấy mặt thầy rồi. Thầy ở sẵn nơi mình chớ không phải từ ngoài đến.
Người tu Phật chân chánh phải quay lại, tìm kiếm, rèn luyện, gọt dũa chính mình chớ không trông chờ cái gì bên ngoài đến. Phật giáo Thiền tông là Phật giáo tự tánh mãnh liệt. Nhờ sức tự tánh đó chúng ta mới có thể cố gắng vươn lên và đạt được kết quả mỹ mãn. Nếu tất cả chúng ta ai cũng tự tin như thế, hiểu rõ việc nào nên làm, việc nào không nên làm, việc nào tà việc nào chánh, việc nào đúng, việc nào sai, đó là người trí tuệ văn minh. Ngược lại, ta không biết mình chỉ nghe ai bảo sao làm vậy hoặc xu hướng theo những chuyện lạ lùng bên ngoài là mất mình. Chẳng những mất mình mà còn đem tai họa đến cho mọi người nữa.
Hôm nay chúng tôi nói sơ lược một số lợi ích của người tu theo đạo Phật, nhất là tu thiền cho tất cả quí Phật tử thấy rõ mục đích của đạo Phật. Qua đó, chúng ta biết thế nào là lợi ích chánh, thế nào là những hiệu năng phụ của việc tu thiền. Nhờ thế mới không lầm lẫn khi áp dụng tu tập, đồng thời biết được kết quả thiết thực của việc tu Phật.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 3 10, 2016 4:48 am

Phương pháp ngồi thiền căn bản

Gồm có 3 giai đoạn: Nhập, trụ, xuất.
1. Nhập thiền:
Bạn hãy chọn một nơi bằng phẳng, sạch sẽ, thoáng mát, kín gió. Đối với người cao tuổi thì hãy nên dùng một chiếc gối mềm đặt ở nơi ngồi. Ngồi lên chiếc gối, điều chỉnh thân hình ngay ngắn, giữ xương sống thẳng. Đầu hơi cúi về trước, mắt nhắm hờ, nét mặt bình thản, tự nhiên.
Có hai cách ngồi:
- Ngồi bán già: Nâng chân trái để lên phần đùi của chân phải hoặc ngược lại.
- Ngồi kiết già: Nâng chân trái để lên đùi chân phải, nâng chân phải để lên đùi chân trái, kéo gót bàn chân áp sát vào thân.
Đặt bàn tay phải nằm trên lòng bàn tay trái. Những ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón tay cái vừa chạm nhau, đặt hai bàn tay nằm giữa lòng hai bàn chân.
Nếu lòng bàn chân bên nào trũng nên dùng khăn chêm vào cho bằng.
Dùng mũi hít không khí vào cơ thể và tập trung mường tượng “Không khí trong lành, sạch sẽ tràn khắp cơ thể làm cơ thể trở nên tươi mới, tràn đầy sức sống”. Sau khi nghĩ tưởng như vậy rồi thì thở ra bằng miệng, ngay khi thở ra lại tập trung mường tượng “Tất cả khổ đau, phiền muộn, bệnh tật đều được đẩy ra ngoài qua luồng khí được thở ra”. Thở như thế vài lần từ mạnh rồi đến nhẹ dần. Thở xong ngậm miệng lại, về sau cả việc hít và thở được thực hiện bằng mũi đều đều, nhè nhẹ.
2. Trụ
Có 3 bước căn bản mà người ngồi thiền phải rèn luyện thuần thục thì mới phát huy được hiệu quả tốt nhất của việc ngồi thiền.
Bước 1: Tập trung đếm hơi thở. Sau khi hít không khí vào rồi thở không khí ra bằng mũi bạn hãy dùng ý đếm 1; lại hít vào, thở ra bạn đếm 2; cứ tiếp tục như thế,… bạn đếm đến 10 thì đếm lại từ đầu với con số 1.
Trong quá trình đếm, bạn có thể bị nhầm lẫn số đếm thì đếm lại vòng đếm với con số 1. Sau một thời gian rèn luyện thuần thục thì bạn không đếm số nữa. Bạn hãy chuyển qua bước 2.
Bước 2: Sau khi điều hòa, ổn định hơi thở, bạn hãy tập trung chú ý, theo dõi luồng khí di chuyển trong cơ thể. Khi hít vào, luồng khí lưu chuyển đến đâu bạn hãy chú tâm nhận biết. Khi thở ra bạn cũng cảm nhận luồng không khí lưu chuyển ra sao?



Lưu ý: Bạn hãy giữ hơi thở nhẹ, đều, ổn định trong suốt quá trình ngồi thiền. Ở bước 1 và 2, bạn hãy dừng lại hết mọi suy tư, lo nghĩ,… để giữ sự tập trung đếm cùng việc theo dõi hơi thở một cách thuần thục. Việc làm chuyên tâm này sẽ giúp tinh thần bạn có được sự tập trung có chủ định, trí não khỏe mạnh, tinh tường, minh mẫn. Sau khi nhuần nhuyễn bước 1, 2 bạn hãy chuyển qua bước 3.
Bước 3: Bạn vẫn bắt đầu với việc đếm và theo dõi hơi thở. Sau khi điều hòa, ổn định hơi thở. Bạn hãy dừng lặng việc đếm và theo dõi hơi thở, buông bỏ hết tất cả mọi thứ chạy lăng xăng trong đầu. Bạn hãy giữ tâm an tịnh, bình thản. Lúc bấy giờ, bạn sẽ thấy nội tâm bạn luôn bị xáo trộn, trí não bạn luôn chạy theo mọi thứ điên đảo diễn ra hàng ngày. Chuyện vui buồn, được mất, hơn thua,… Việc đã qua - thời thơ ấu, lỗi lầm ngày trước,… Việc hiện tại - chuyện cơm áo gạo tiền,… Việc chưa đến - ngày mai đám cưới thằng Tí, ngày kia là ngày kị cơm của ông nội con Tèo,… cứ đan xen, nhảy loạn trong đầu. Bạn hãy tỉnh táo, bình thản nhìn những tấn tuồng bi hài của trò đời. Bạn sẽ nhận ra “Ngay thời điểm hiện tại bạn sẽ chẳng thể cùng lúc giải quyết tất cả mọi việc. Mọi việc rồi sẽ qua đi dù có hay không có sự sắp xếp của bạn”. Tôi nói “Mọi việc rồi sẽ qua đi dù có hay không có sự sắp xếp của bạn”, lời nói này có hợp lý không? Tôi sẽ đưa ra một ví dụ rất thực tế. Giả như bạn có dự định “Ngày kia bạn sẽ đi dự đám kị cơm ông nội của con Tèo thì về đêm trời trở lạnh, bạn không may bị tai biến và được nhập viện điều trị”. Dù rằng không có sự hiện diện của bạn thì ngày kị cơm của ông bạn hàng xóm vẫn tổ chức bình thường, điều này có thể xảy ra không? Do đó, bạn đừng quá coi trọng vai trò, sự hiện diện của bản thân vì bạn thật sự không là gì cả. Mạng sống của chính bạn, bạn còn không làm chủ được thì việc sắp đặt, làm chủ mọi việc có giá trị gì? Thế nên bạn đừng tìm về quá khứ vì quá khứ thì đã qua; Bạn cũng đừng tìm đến tương lai vì tương lai thì chưa đến và không một ai dám chắc rằng “Tại thời điểm tương lai đó, bạn còn sống hay đã chết”. Hãy sống tốt và trân quý cuộc sống ở hiện tại. Chấp nhận sự thật đó bạn sẽ bình thản đối mặt với những lo nghĩ, toan tính vẩn vơ. Bạn đừng chạy rong theo những ý nghĩ, những suy tư vì ngay tại thời điểm ngồi thiền bạn sẽ không thể giải quyết được bất kỳ một việc nào cả. Bạn cũng đừng cố xóa những ý nghĩ đó vì ngay khi ý nghĩ này mất đi thì sẽ phát sinh ý nghĩ khác. Tâm trí bạn luôn chộn rộn, đan xen mọi chuyện như thế. Từ trước đến nay, do mãi chạy theo cuộc mưu sinh mà bạn không nhận ra điều đó. Lúc bấy giờ bạn lại nhận ra “Bạn không thật sự làm chủ trí não của chính mình”. Nhận thức rõ như thế bạn sẽ bật ra câu hỏi “Vậy những nghĩ tưởng lăng xăng, những hình ảnh đã qua, những lo toan,… là gì? Tại sao bạn muốn dừng lặng lo toan, giữ đầu óc thảnh thơi mà chúng cứ chạy càn loạn làm cho tinh thần bạn mệt nhoài, rối trí?”. Những suy tư, lo nghĩ, tưởng nhớ,… chính thật là những kẻ trộm. Những tên trộm này sẽ trộm sức khỏe tinh thần của bạn, làm bạn mệt mỏi, chán chường, mất đi sự tỉnh táo, sáng suốt, minh mẫn. Bất kỳ ai khi làm việc trong điều kiện thiếu sáng suốt, mất tập trung,… sẽ dễ gây ra những việc không đúng, tạo nhiều lỗi lầm. Hiểu rõ như thế bạn sẽ phải khắc chế những tên trộm. Bạn không thể bắt hết lũ trộm này và cũng không cần bắt chúng. Vì khi bạn bắt một tên trộm thì đồng nghĩa với việc bạn phải giữ lấy tên trộm đó; Rồi lại có tên trộm khác lẻn vào, bạn đuổi bắt, giữ lại thì tiếp tục có thêm nhiều tên trộm khác vây quanh bạn. Bạn sẽ mệt nhoài với việc đuổi bắt, giữ mà tâm trí không dừng lặng được. Bạn không nên làm vậy. Bạn cứ bình thản, tỉnh táo, tập trung nhìn tên trộm; tên trộm sẽ tự biến mất. Việc này giống như là việc tên trộm muốn trộm của nhà người nhưng người chủ đã tỉnh táo canh giữ thì tên trộm sẽ phải rời đi và những tên trộm theo sau nhìn thấy ông chủ tỉnh táo cũng không dám bén mảng, dòm ngó nhà người nữa. Rèn luyện như thế lâu ngày dài tháng bạn sẽ có khoảng thời gian giữ tâm trí dừng lặng dài lâu thêm. Điều này đồng nghĩa với việc trí não bạn tỉnh táo, sáng suốt và có sự tập trung cao. Tuy nhiên, bạn cũng không thể giữ mãi tâm trí dừng lặng, những tên trộm vẫn quẩn quanh ngôi nhà của bạn. Vì thế bạn sẽ dùng sự tập trung tinh thần để khiến chúng biến mất hoàn toàn. Qua quá trình rèn luyện ít nhiều gì bạn cũng đã có thể kiểm soát được tâm trí, bạn hãy bắt đầu nhớ nghĩ có sự tập trung về những chuyện đã qua với những kí ức, hình ảnh, nghĩ tưởng,… tốt, hay, đẹp. Điều này giúp trí não bạn thư thái, thoải mái, an ổn. Khi kiểm soát tốt tâm trí, bạn hãy nhớ nghĩ về những chuyện không vui, những việc “Trái ý nghịch lòng” mà con cháu đã gây ra,… nhưng bạn đừng chìm vào trong sự buồn lo, sầu khổ. Bạn hãy đi tìm và bắt lấy những khía cạnh tốt dù là nhỏ nhặt trong những việc xấu xa đó để mà cảm thông, tha thứ, bỏ qua những lỗi lầm. Làm được như thế là bạn hoàn toàn thanh thản, thoát ra khỏi mọi ưu tư, phiền muộn. Làm thế nào để tìm ra mặt tốt trong lỗi lầm của con cái? Giả như trong một cuộc tranh cãi người con đã nặng lời xúc phạm, không nghe theo ý kiến của bạn. Điều này khiến bạn rất buồn, bây giờ bạn hãy xét lại vấn đề này ở góc đánh giá khác, tốt hơn. Thực tế là trước đó con bạn vẫn là người con biết vâng lời có lẽ việc tranh cãi khiến con bạn tức giận, đánh mất khả năng kiểm soát nên đã nói lời sai quấy, cay độc. Con cái làm theo ý riêng thể hiện việc chúng đã có ý thức tự lập, khôn lớn. Dù rằng theo đánh giá của bạn thì việc con bạn cố làm chắc rằng chuốc lấy thất bại nhưng những vấp ngã bước đầu sẽ giúp con bạn trưởng thành, mạnh mẽ hơn. Vì bạn rõ biết sự từng trải mà bạn có được cũng chính là kinh nghiệm của những lần thất bại trước đó và học được ở trường đời,… Hoặc là con cái từ bỏ, xua đuổi bạn. Hiển nhiên bạn sẽ rất tức giận, đau lòng và oán hận những đứa con bất hiếu, vô ơn. Nếu bạn vẫn chấp giữ những ý nghĩ đó thì bạn khổ đau hơn và tinh thần bạn sẽ suy sụp. Sự căng thẳng thần kinh sẽ kéo theo nguy cơ tai biến, nhồi máu, đột quỵ,… tìm đến bạn. Bạn hãy chuyển dịch ý nghĩ sang hướng tốt hơn. Việc con bạn ruồng bỏ bạn rõ thật là việc làm sai nhưng tại sao con cái lại hành xử tệ bạc? Bạn hãy xét lại “Phải chăng bản thân bạn cáu gắt, khó ăn khó ở, trái tính trái nết,… khiến con cháu phải xa lánh?”. Nếu thật sự bạn đã sai thì bạn hãy sửa đổi, không bao giờ là muộn cho việc sửa sai lỗi lầm; Nếu con bạn sai thì bạn hãy tha thứ cho con trẻ, sống bình thản. Nếu có thể bạn hãy chân thành nghĩ về những việc hay, hãy nói những điều tốt của con bạn, đừng bêu xấu tội bất hiếu của con cháu. Bởi lẽ chúng là con cháu bạn, chúng không phải là kẻ thù của bạn. Có lẽ con bạn hãy còn trẻ dại, thời gian chúng sẽ lớn lên và việc nuôi dạy con góp phần giúp chúng hiểu rõ tấm lòng của bạn,… Bạn phải rõ biết “Bạn tìm cách hóa giải những chuyện buồn đau không phải chỉ vì con bạn mà vì chính bản thân bạn”. Sự bao dung, tha thứ, vị tha,… sẽ nuôi dưỡng sức khỏe tinh thần của bạn. Khi tất cả những gút mắc, vướng bận, chuyện vui buồn,… trong lòng tan biến thì bạn mới thật sự làm chủ được nội tâm, tâm hồn của bạn. Bạn sẽ có được tâm trạng an lạc, thanh thản.
3. Xả thiền:
Trước khi dừng việc ngồi thiền, bạn dùng mũi hít vào và thở ra bằng miệng vài ba lần (hơi thở từ nhẹ đến mạnh dần). Sau đó, bạn cần làm những động tác xoay chuyển giúp cơ thể giảm những tê mỏi, căng cứng và khí huyết lưu thông bình thường trở lại. Ban đầu thả lỏng thân, xoay người, xoay hông, cổ qua lại. Tiếp theo dùng hai tay chà xát lẫn nhau, dùng tay chà xát vào vùng hông, vùng cổ, mặt, đầu, vành tai. Xoa hai lòng bàn tay vào nhau tạo ra hơi nóng rồi áp hai bàn tay lên đôi mắt. Thao tác này giúp tinh thần tỉnh táo, mắt sáng tỏ hơn và trị được một số bệnh thông thường ở mắt nếu được thực hiện thường xuyên. Duỗi thẳng chân và dùng hai tay xoa bóp hai chân giúp chân không còn tê mỏi. Kết thúc việc ngồi thiền.
Việc xả thiền tùy thuộc vào thời gian ngồi thiền. Nếu chỉ ngồi trong khoảng thời gian ngắn mà có việc gấp cần làm thì bạn chỉ xoay chuyển thân người, hông, cổ, co duỗi chân vài lần là có thể đi lại bình thường. Nhưng khi thời gian ngồi thiền lâu bạn nên chú ý làm tốt, thực hiện kỹ các thao tác xả thiền thì việc ngồi thiền mới đạt hiệu quả cao nhất. Bạn không nên làm thao tác xả thiền qua loa, đại khái rồi đứng lên, bước đi ngay bạn sẽ bị té ngã vì hai chân tê buốt. Thao tác dùng tay chà xát cơ thể cần mạnh nhưng không gấp, cứ thong thả trong từng thao tác.
Nếu có thể bạn hãy sắp xếp việc ngồi thiền hai buổi mỗi ngày với những thời điểm cố định nhằm nâng cao khả năng tập trung tinh thần, làm chủ được các trạng thái tâm lý, cảm giác của bản thân,… Ban đầu, bạn sẽ không thể ngồi lâu vì thế bạn hãy bắt đầu làm quen dần với 20 phút cho một buổi ngồi thiền. Sau đó tăng dần thời gian ngồi thiền lên nhưng cũng đừng cố gắng, gò ép bản thân quá mức. Cốt yếu cho buổi ngồi thiền thành công là ở việc bạn dừng lặng mọi suy tư, lo nghĩ. Ngồi thiền là phương pháp tốt giúp bạn hàm dưỡng nội tâm, nuôi dưỡng sức khỏe thể chất và trí não,… Trạng thái tĩnh tại, dừng lặng của thiền định sẽ giúp bạn khai mở, nâng cao sự hiểu biết về cuộc sống; Sự hiểu biết này ẩn chứa và sẵn có trong tâm hồn bạn, bạn sẽ không học được sự hiểu biết lợi lạc này từ bên ngoài. Tôi vốn là người vụng về, kém trí, ít hiểu biết về cuộc sống. Vì không hiểu biết nhiều nên tôi chập choạng bước trên đường đời. Việc thiền định đã giúp tôi khai mở sự hiểu biết, giúp tôi vững tin đối mặt lòng người đa đoan, muôn lối với một nụ cười bình thản nở trên môi.

Trích "Cánh cửa cuối đường hầm" - VÔ ƯU
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về Linh Tinh

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách