Hành trình khám phá bản thân

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 9 03, 2015 4:41 am

(tiếp theo)
6
Những người mù tôi quen, không biết ai khổ hơn ai.

Như vợ chồng cụ Nhuận.

Hai người lấy nhau trong thời chiến tranh. Sống được đã khó, họ còn sinh ba người con. Hồi ấy còn chế độ tem phiếu. Mỗi lần đi mua hàng, cụ Nhuận quàng đằng trước cái túi to, sau lưng là chiếc ba lô bộ binh, chống gậy lần mò đến các cửa hàng. Không ít lần cụ phải về tay trắng: cửa hàng không có gì để bán. Mua được cũng khổ. Túi trước túi sau căng phồng các loại rau, củ, lại kèm mươi cân gạo. Cụ lần ra bến tàu điện. Tàu đông, không len vào trong được, cụ buộc phải đứng ở bậc lên xuống, hai tay nắm chặt vào hai thanh vịn. Có lần cụ phát hiện có kẻ lần tay vào người móc tiền. Nhanh trí, cụ ngồi sụp xuống, luồn rất mạnh qua chân những người đứng gần, lách vào trong. Lần khác bám hụt tàu, ngã bổ chững không dậy được. Trong những cuộc hành trình mò mẫm để lo cái ăn cho cả nhà, cụ bị xe bò cán gãy cả hai chân. Bác sĩ bảo cụ không thể đi lại được nữa. Nhưng ông già bất khuất không chịu thua. Cụ tự làm những dụng cụ đơn giản, kiên trì tập luyện. Cụ lại đi bằng đôi chân của mình, một mình một gậy gõ cửa các nhà chức trách, xin thành lập Hội người mù Việt Nam.

Hay như cụ Dương.

Vợ cụ mất sớm, để lại năm người con nhỏ. Nhà cụ trước kia ở huyện Đông Anh. Sau nhà có vườn mía. Trẻ con hàng xóm thường rình bẻ trộm từ khi cây còn non. Cụ quát đuổi chúng không sợ. Các con cụ đuổi, chúng cứ nhơn nhơn. Cụ phải vác gậy, bảo con dắt chạy vào vườn. Mía vẫn cứ mất. Cảnh này giống nỗi khổ của vợ chồng cụ Nhuận. Khi còn ở tập thể, cụ bà làm được món ăn nào, mấy đứa trẻ rủ nhau lẻn vào ăn sạch. Có bữa, hai cụ phải ăn cơm với muối trắng.

Năm 1980. Sau khi vợ mất được mười năm, cụ Dương đưa các con về ở trong khu điều dưỡng thương binh hỏng mắt. Lương tháng không đủ sống. Cụ đi buôn lậu. Cứ một ông mờ (sắp mù hẳn) dắt mấy ông mù, lên biên giới phía bắc, sang tận Căm-pu-chia buôn hoa hồi, đồng vụn, gỗ bè… Để trốn thuế, các cụ thường phải nhảy xuống khi xe lửa đang chạy chậm vào ga. Cụ mờ quan sát. Các cụ đứng sẵn ở cửa toa. Nghe tiếng hô “nhảy”, tất cả buông tay, lăn lốc trên mặt đất.

Trong các chuyến đi, khi hàng đã để gọn ghẽ trên toa xe, các cụ chui vào nằm dưới gầm ghế dài, trên là khách ngồi. Có lần mua sẵn bánh đa nướng, các cụ bỏ ra ăn. Gầm ghế quá thấp, bánh thì to. Phải nằm ngửa, đặt bánh lên bụng, bẻ từng mấu nhỏ. Trước khi lên ngủ, các cụ rủ nhau đánh cờ tướng. Cũng ghểnh sĩ, đấu tốt, nhảy mã, bình xe. Cũng cay cú được thua. Buồn tiểu, không có chỗ len ra. Mà toa hàng cũng không có góc vệ sinh. Đành phải đi vào túi nhựa, nhổm dậy, quăng đại về phía đoán là cửa sổ. Hành khách la ó đành bấm bụng nghe chửi.

Lần đi buôn hồi ở Đông Hà, cụ Dương suýt bỏ mạng. Khi xe lửa lên dốc cầu, các cụ đeo hàng vào người, chuẩn bị nhảy. Ông mờ đi cùng nhìn không rõ. Xe đến giữa cầu, ông hô to: Nhảy! May sao lúc đó đám công nhân đang sửa cầu nhìn thấy. Họ hét lên: Không được Nhảy! Tàu đang ở giữa sông! Kể lại chuyện, cụ Dương xuýt xoa:

– Gớm, sao may thế! Hôm ấy mà nhảy thì như buộc đá vào người mà lao thẳng xuống nước!

Trong các nhóm buôn lậu, có một cụ chuyên mặt hàng rượu. Hàng này bị cấm rất ngặt. Đựng rượu vào bong bóng trâu, cho vào ba lô đeo sau lưng, cụ ngang nhiên khua gậy qua các trạm thuế. Trên ngực áo lấp lánh huy hiệu thương binh. Có hôm đã qua được một đoạn, chợt nghe có tiếng chân đuổi theo, cụ vẫn thản nhiên bước tiếp. Có ai đặt tay lên vai cụ, vừa cười vừa nói:

– Này bố! bố rải rượu thơm lừng cả đường. Túi thủng, chảy mẹ nó hết rượu rồi.

Té ra cái bong bóng trân trâu đã thủng từ bao giờ. Anh cán bộ vừa cười chảy cả nước mắt, vừa giúp cụ buộc chỗ thủng. Và nhận xét:

– Đi buôn lậu như cụ cả nước chỉ có một! Lần sau bố cẩn thận hơn nhé!

Những chuyện về người mù nhiều lắm.

Ngay như tôi. Thỉnh thoảng nhớ lại thời gian học ở trường Nguyễn Đình Chiểu, thấy thật khổ.

Khu ký túc xá nữ có gần bốn mươi học sinh, chia làm ba phòng. Khi tới trường, tôi là một cô bé chậm chạp. Bây giờ vẫn thế. điều kiện sinh hoạt ở trường rất kém. Nhất là các bữa ăn. Mỗi suất cơm được chia vào bát to tráng men. Trên cơm là rau, thường là rau muống, gọi là xào, dai như rơm. Loáng thoáng phủ hai miếng thịt thủ đầy lông. Hôm nào khá lắm, có món canh măng chua, từ ngoài cứa sổ đã thấy mùi. Nước chấm được pha bằng nước, muối trắng, chạy qua hàng mì chính.

Tôi nhớ mãi cảm giác được ăn bữa liên hoan duy nhất trong suốt thời gian ở trường. Hôm đó có một phái đoàn Nhật Bản đến thăm. Họ tặng trường một số gà làm giống. Nhưng có lẽ họ mua gà ở chợ nên hầu hết bị rù. Nhà trường quyết định bán một phần cho nhân viên, số còn lại thịt cho chúng tôi ăn cải thiện.

Nhà bếp làm món bún xào.

Tôi vừa ăn vừa xuýt xoa:

– Eo ôi, sao mà ngon, mà thơm thế! Nhưng chẳng thấy thịt bao nhiêu, toàn xương là xương.

Đúng thế, mỗi bát chỉ lèo tèo vài miếng thịt nhỏ. Mấy bạn ngồi cùng bàn thì thầm vào tay nhau:

– Ít – thịt – quá!

– Bún với canh còn nhiều. Đứa nào ăn nữa thì ăn! – Bà bếp trưởng đi qua các bàn nói to.

Chúng tôi hí hửng ăn thật nhanh.

– Cô cho cháu bát nữa. – Nhiều giọng nói nhao nhao.

– Ơ, hết thịt rồi hở cô? Còn mỗi canh với bún thôi ạ? – Một người ngồi cạnh tôi ngơ ngác hỏi.

– Hết rồi. Lấy đâu mà lắm thịt thế!

Chúng tôi tiu nghỉu.

Đúng bữa đó mẹ tôi đến thăm. Tôi khoe:

– Con được ăn thịt gà đấy, mẹ ạ!

– Mẹ biết rồi. Lúc mẹ ngồi chờ ở phòng thầy Thắng, thấy các cô nhà bếp gửi nửa nồi thịt gà to lắm. Chắc để dành cho các con ăn ngày mai.

Cái ngày mai mẹ tôi nói không bao giờ có.

Sau gần hai tháng ở trường, tôi bị ghẻ nước, khắp người ngứa ngáy rất khổ. Nước dùng ở trường khan hiếm. Tôi luôn ở trong tình trạng lo lắng, bận rộn. Cứ đến chiều, đám con gái đổ xô vào mấy cái nhà tắm chung. Tôi chậm chạp nên đến lượt thường chưa tắm xong đã hết nước.

Ăn đói, nhất là thiếu chất, chúng tôi nghĩ đến thứ gì cũng thèm. Vậy mà nhiều bạn học bảo tôi:

– Ở trường chúng em ăn sướng hơn ở nhà.

Những lần mẹ tôi mang quà tới, tôi đều chia cho các bạn. Hết lượt, đến phần mình thì chẳng còn bao nhiêu. Tôi bắt buộc phải tìm cách ăn vụng.

Chị gái tôi mang cho tôi bốn quả ổi găng chín thơm lừng. Tôi giấu ổi vào túi quần áo, chờ lúc vắng người mang ra ăn. Phòng tôi ở cuối hành lang. Buổi tối các bạn tản mát đi mọi nơi. Giấu một quả ổi trong lòng bàn tay, tôi ra hành lang ăn khe khẽ. Đang nhai, chợt cô bé cùng phòng bước đến:

– Chị Tú ăn ổi đấy à? – Cô bé hỏi, giọng đầy hy vọng.

– Không, không. Chị đang đứng chơi thôi.

Tôi ngượng lúng túng chối.

– Thế sao người chị mùi ổi thơm ơi là thơm?

– Chị không biết. – Tôi thực sự bối rối, giấu phắt quả ổi sau lưng, lảng vào phòng ăn thật nhanh…

Hay như cụ Chu Xuân Anh.

Trong chuyến đi làm đề tài ở Hà Lan năm 1985, hai mắt cụ mờ dần. Cụ phải dùng kính lúp để đọc tài liệu. Cuối cùng cụ đành bỏ dở công trình. Năm đó cụ mù hẳn. Con lớn của cụ mới lên tám. Ít lâu sau, Vợ cụ bỏ đi. Hai người ly hôn. Ngày ngày cụ phải tập chống gậy, lần mò đến trường dạy học. mang tiếng là phó giáo sư, tiến sĩ, lương tháng của cụ cũng chỉ có năm trăm nghìn đồng. Tất cả mọi khoản chi tiêu của mấy bố con trông vào số tiền đó.

Hay như cô L.

Có một cặp vợ chồng vô sinh. Lỗi do người vợ. Họ bàn nhau tìm một người mù sinh con hộ. Cô L. được chọn. Hai bên thoả thuận: Sau khi sinh con, cô L. được chăm sóc chu đáo. Lúc đứa trẻ thôi bú, cô được hưởng một khoản tiền và xa con vĩnh viễn.

Chính người vợ thuê xích lô, đưa cô L. đến với chồng. Hợp đồng được thực hiện đúng như thoả thuận. cô L. được đưa về nhà, nhiều năm thương đứa con rứt ruột không bao giờ được gặp mặt.

Còn cô H., cô B., ai khổ hơn ai?

Bố mẹ mất sớm, cô H. ở với anh. Cô khá xinh. Tên anh trai buộc cô phải ngủ với hắn. Sau nhiều lần chống cự, bị đánh quá đau, cô đành chấp nhận. Đã vậy, để khuất phục cô hoàn toàn, tên anh chỉ cho cô ăn mỗi bữa một lưng bát cơm. Cô còn buộc phải tiếp khách làng chơi để thằng đốn mạt ngồi xem và thu tiền. Rất nhiều người, kể cả chính quyền biết chuyện, song không ai can thiệp.

Cụ Nhuận nghe kể, tiện dịp về tận địa phương, làm ầm lên. Cô được đưa đi học chữ nổi. Ở tập thể, mỗi bữa cô cũng chỉ ăn lưng bát cơm. Hiện nay, cô H. sống ra sao, tôi cũng không biết. Tên anh mạt hạng không hề bị xử lý.

Cô B. ở ST. Thành hội người mù gợi ý về quyền làm mẹ của người mù không chồng. Cô B. có mang. Cả nhà mắng chửi, sỉ nhục. Cô nhất định giữ đứa con. Bị đuổi khỏi nhà, cô lang thang ăn xin. Thành hội đứng ra quyên góp, giúp đỡ cô, cũng chẳng được là bao. Hai mẹ con lấy quán chợ làm nhà…

7
Đối với tôi, điều khó khăn nhất khi viết cuốn sách này, là làm sao cho bạn đọc hiểu gần đúng công việc thầy trò tôi đang làm. Phương pháp của chúng tôi ngày càng đơn giản, ngày càng tách rời tri thức, kinh nghiệm, vốn liếng mấy nghìn năm của nhân loại. Nó đang dần dần đi theo con đường riêng của nó. Chúng tôi sống bình thường với gia đình, với cộng đồng. Phương pháp không đòi hỏi phải kiêng kỵ điều gì, không cần tập công phu trong những quy định khắt khe. Hàng ngày chúng tôi tập chút ít ở bất cứ tư thế nào, thời gian nào, ở đâu, tuỳ mỗi người.

Nhiều lần thầy trò chúng tôi đi Côn Sơn không phải để tìm đến một vùng địa linh nào đó. Chúng tôi muốn sống với nhau như một gia đình lớn ở vùng có núi đồi, có rừng cây và khí hậu trong lành, yên tĩnh. Những lần gần đây nhất (giữa năm 2000), chúng tôi bỏ các bài tập. Chỉ đi chơi, trò chuyện. Nếu gọi là tập, chúng tôi tập cho mọi sinh hoạt hàng ngày, lúc ăn, lúc nghỉ, lúc đi dạo. Song kết quả cao hơn rất nhiều so với những năm ngày đêm luyện tập công phu.

Thày tôi bảo:

– Chúng ta đang trở về với tự nhiên, dần dần là tự nhiên, như ta vẫn thế. Vạn vật, trong đó có các loài sinh vật sinh ra từ tự nhiên. Một số loài sinh sống thoải mái mà không buộc phải nhìn bằng mắt như con người và các động vật có mắt khác. Chúng ta là thành viên của vạn vật, cũng có thể không cần đôi mắt.

Những người mù, kể cả những người bỏ mắt muốn nhìn lại, ban đầu cần tập hai bài cơ bản:

* Bài thứ nhất: làm quen và điều khiển các hiệu ứng vật lý của cơ thể. Có bốn hiệu ứng chính: Nóng, căng giãn, tê, chuyển động. Có thể ngồi, hoặc nằm thoải mái, thở nhẹ nhàng bình thường như bạn vẫn thở. Hình dung, theo dõi cả cơ thể nóng lên. Sau ba phút, bạn chuyển sang tập các hiệu ứng còn lại. Mỗi hiệu ứng cũng tập từ hai đến ba phút. Tuỳ mỗi người, có một trong bốn hiệu ứng là được.

* Bài thứ hai: Chia ra làm ba bước.

Bước 1: Làm cho cả cơ thể nương theo nhịp thở của phổi. Khi hít vào, bạn hình dung, theo dõi cả cơ thể nở ra. Khi thở ra, cả cơ thể co lại.

Bước 2: Làm cho cả cơ thể tự thở. Bạn hình dung, theo dõi cả cơ thể nở ra, co lại không phụ thuộc vào nhịp thở của phổi.

Bước 3: Làm cho toàn bộ tế bào cấu trúc nên cơ thể tự thở. Bạn hình dung, theo dõi toàn bộ tế bào của mình nở ra, co lại.

Tôi tin chắc khi cuốn sách này đến tay các bạn, có rất nhiều người mù được hướng dẫn chi tiết hơn trên các phương tiện truyền thông và các phương tiện khác nhìn đã nhìn lại được.

Chân lý vô cùng đơn giản. Điều đó rất nhiều người biết. Song thông thường, mọi người tìm hiểu chân lý theo những tiêu chí có trước của mình, của cộng đồng. Đó là cách tốt nhất để xa rời chân lý. Cũng như sự thật chỉ có một. Nhưng ai cũng nhìn sự vật, sự việc theo cách riêng của mình, nên chẳng bao giờ thấy được sự thật.

Thầy trò chúng tôi phải mất gần năm năm mới tìm được cách tập đơn giản nhất. Kết quả rất cao. Người mù không chỉ sớm nhìn lại, mà còn tự chữa được tất cả các dạng bệnh mãn tính, dù nhẹ hay nặng.

Phương pháp của chúng tôi quan niệm sự sống là thống nhất. Sự sống có mặt ở cả các vật thể hữu cơ và vô cơ, có mặt ở cả các tồn tại không có nguồn gốc lý – hoá. Vật chất cũng vậy. Không chỉ các hình thái tồn tại có thể đo kiểm được mà cả các hình thái không có cấu trúc đều là vật chất. Đây là chiếc chìa khoá mở nội dung các bài tập và là nguyên lý của phương pháp.

Tôi nhấn mạnh: Tất cả những điều nói trên đều chỉ mang chút ít dáng dấp của sự thật. Kết quả của thầy trò chúng tôi cho đến bây giờ không thể diễn đạt cho gần đúng bằng bất kỳ khái niệm nào.

Ta tạm chấp nhận với nhau quan niệm về sự sống và vật chất như tôi trình bày. Nếu thế, có thể rút ra hệ quả: Vạn vật dù ở quy mô, kích thước, khoảng cách nào cũng lưu trữ thông tin đầy đủ của nhau, giao lưu, chuyển đổi, cập nhật thông tin với nhau. Quá trình này diễn ra hoàn toàn tự động, không phụ thuộc vào bất cứ yếu tố, điều kiện, khoảng cách nào.

Các bài tập cơ bản của Phương pháp giúp người mù dần có được cơ chế giao lưu tự động với vạn vật. Trước hết là với các hình vật trong không gian mà người mù tham gia sinh hoạt.

Như ở chương 5 tôi đã nói về hai cách nhìn cơ bản của người mù. Đó là thấy hình vật bằng thông tin hình ảnh và thông tin không hình ảnh. Khi người mù và vạn vật giao lưu thông tin đầy đủ sẽ thấy các hình vật trong không gian sinh hoạt rất rõ, đủ để hoạt động như người sáng mắt. Tập luyện đến mức đó, người mù không nhất thiết chỉ nhìn bằng các dạng thông tin. Người mù thấy không gian đang tham gia sinh hoạt tự nhiên như nó vốn có, dù ở chỗ quen hay lạ.
Sửa lần cuối bởi hoangthuynam vào ngày Thứ 5 Tháng 9 03, 2015 10:59 am với 1 lần sửa trong tổng số.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 9 03, 2015 4:46 am

(tiếp)
8
Mấy năm gần đây, mẹ tôi làm hướng dẫn viên du lịch.

Một lần mẹ tôi đưa khách vào Huế. Trong đoàn có ông bà Bo–re, người Thuỵ Sĩ. Nghe mẹ tôi kể về công việc của thầy trò tôi, ông bà rất ngạc nhiên. Mẹ tôi còn nói thêm là thầy trò chúng tôi có khả năng khám bệnh từ xa. Chắc vì tò mò, ông bà cho mẹ tôi ghi đầy đủ họ, tên, ngày tháng, năm sinh, địa chỉ nơi sinh sống, đề nghị kiểm tra bệnh cho cả hai.

Thầy tôi và tôi mất hai tiếng khám bệnh cho ông bà Bo-re. Sau đó Thầy đưa hai ca bệnh đến lớp cho các cụ thực tập. Kết quả được fax sang Thuỵ Sĩ. Mấy tuần sau, chúng tôi nhận được thư trả lời. Ông bà Bo-re cho biết họ đã đi kiểm tra Tây y và khám ông lang người Trung Quốc. Kết quả đều trùng khớp với thông báo của thầy trò tôi. Sau đó, chúng tôi nhận được một khoản tiền tặng cho chương trình. Ông bà Bo-re còn nhờ chúng tôi khám bệnh cho hai người con. Kết quả cũng tốt.

Từ đầu năm 1997, thầy trò chúng tôi có được một số khả năng đặc biệt. Trong đó có khả năng khám, chữa bệnh, dù người bệnh ở gần hay xa. Chúng tôi không có bất kỳ phương tiện nào. Người bệnh chỉ cần cho biết họ tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ nơi ở. Nếu có thêm tên tuổi của một hoặc hai người thân (vợ, chồng hoặc con), độ chính xác càng cao.

Những người có khả năng khá trong nhóm có thể nhìn thấy hình ảnh với độ nét rất cao của nội tạng, các tổ chức thuộc các hệ giải phẫu của Tây y, trong quá trình sinh hoá. Thậm chí có thể nhìn thấy rất rõ các cấu trúc ở cấp phân tử, hoặc nhỏ hơn. Khả năng này giúp cho việc xác định các tổn thương, phân loại bệnh có độ chính xác cao. Các hình ảnh nhìn thấy là hình khối nổi, tất cả mọi phía đều hiện rõ đồng thời với cấu trúc bên trong. Thông tin về bệnh cùng lúc có cả quá khứ, diễn biến hiện tại và tương lai.

Mùa hè năm 1999, thầy trò chúng tôi có thêm khả năng khám đồng thời với chữa bệnh, dù người bệnh ở bất cứ vùng địa lý nào. Tất nhiên không cần gặp mặt. Rải rác mấy năm qua, trong tất cả các ca bệnh ung thư hoặc nghi ung thư đã có kết luận của bệnh viện, qua khám ở Nhóm Mắt, chúng tôi chưa kiểm tra sai ca nào.

Như ca bệnh của bác Hội, ở khu điều dưỡng thương binh hỏng mắt. Bệnh viêm K trả bác về để chết ở nhà, theo nguyện vọng của gia đình. Bác trong tình trạng trụy tim, gần như không còn mạch đập và đau dữ dội sau ca mổ cắt khối ung thư cuối đại tràng. Cơ quan và gia đình đã bàn về việc chuẩn bị tang lễ. Ít ngày trước đó, cụ Bạo và tôi đã kiểm tra bệnh cho bác Hội. Chúng tôi kết luận bác không bị ung thư. Vì đau nhiều và chưa tin, bác vẫn vào bệnh viện để mổ.

Cụ Bạo gọi điện cho tôi, thông báo về tình trạng nguy kịch của bác Hội. Cụ đề nghị tôi cắt cơn đau cho bác, để bác ra đi nhẹ nhàng. Tôi dùng thủ thuật đã được học để làm. Cụ Bạo làm thủ tục trợ tim, tăng sức cho người bệnh. Tất cả đều làm từ xa.

Thật bất ngờ, bác Hội tỉnh lại và phục hồi khá nhanh. Cơ quan gọi điện đến viên K, yêu cầu xem xét lại. Bệnh viện cho xe đến đón, tiếp tục điều trị cho bác Hội. Ra viện, bác tham gia tập dưỡng sinh tự chữa bệnh với nhóm Mắt. Qua mấy tháng bác lên bàn mổ một lần nữa để nối lại đại tràng, bỏ ống xông. Đến nay (tháng 8 năm 2000), sau gần ba năm, bác Hội vẫn sống khoẻ mạnh.

Thông thường, những người bệnh nặng đã hết phương cứu chữa mới tìm đến thầy trò chúng tôi.

Từ khi có được khả năng khám chữa bệnh, Thầy tôi đã xác định, nhắc nhở học trò: chỉ nhận những ca bệnh để nghiên cứu, phục vụ cho Chương trình ánh sáng của người mù. Chúng tôi khuyến khích mọi người bệnh học Phương pháp, tự chữa bệnh cho mình.

Có điều lạ, là những người bệnh rất nặng lại khỏi nhanh. Như trương hợp ông Nguyễn Đình Cán ở phố Đội Cấn. Ông bị bệnh to tim độ ba, xơ vữa động mạch vành. Ở tuổi ngoài bảy mươi, hàng năm ông phải điều trị bệnh viện nhiều lần cộng khoảng trên dưới sáu tháng. Ông bị đau thường xuyên, ngồi dậy, đi lại phải có người đỡ.

Tình cờ Thày tôi gặp ông Cán ngồi đợi khám bệnh ở Trung tâm khí công. Trong khi chờ đến lượt, ông bị đau thắt tim, cơn đau lan toả lên vai và cánh tay. Thầy tôi đề nghị giúp đỡ ông. Chưa đến mười phút, cơn đau hết. Từ hôm đó, người nhà ông Cán xin thầy trò tôi chữa. Trong ba tháng, mấy thầy trò có đến nhà ông bốn năm lần. Bệnh ông được cải thiện nhanh. Ông bỏ dần thuốc, có thể tự ngồi dậy, đi lại, sinh hoạt độc lập. Sau đó ông đã có thể tự xách nước tưới vườn. Gần nửa năm tính từ ngày gặp Thầy, ông Cán đã đi xe đạp, đưa đón cháu đi học; tự đến bệnh viện cách nhà hơn năm cây số để kiểm tra định kỳ. Tháng 5 năm 1998, ông theo thầy trò chúng tôi lên Côn Sơn . Ông đã bỏ hẳn thuốc, không phải ăn kiêng, leo núi như một người khoẻ mạnh.

Bà Đặng Thị Nhơn ngoài 70 tuổi, cũng ở phố Đội Cấn. Bà bị còng gập lưng đã ba năm, rất sợ gió, sợ nước. Con dâu bà nhờ thầy trò tôi. Chúng tôi chữa từ xa, không gặp bệnh nhân. Một tuần sau, bà đứng thẳng, sau đó đi lại bình thường. Mấy thầy trò đến nhà bà, giải quyết nốt bệnh sợ gió, sợ nước. Kết quả rất tốt.

Ông Lan ở Cống Vị, hiệu trưởng trường đại học bưu điện. Ông bị viêm thanh quản, mất tiếng nói. Đôi khi nói được, tiếng không rõ, vùng họng rất đau. Chỉ sau hai buổi tập, ông nói rõ hơn. Một tuần sau trở lại bình thường.

Những trường hợp bệnh nặng như kể trên không ít. Hầu hết là bệnh mãn tính, kể cả những bệnh hiện vẫn còn nan y. các bệnh nhân bị tiểu đường, huyết áp cao hoặc thấp, thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình, suy thận, viêm đa khớp,… nếu kiên trì tập đúng Phương pháp đều có thể khỏi bệnh, sức khoẻ ổn định lâu dài.

Không nói đâu xa, trường hợp cụ Vũ Thị Tưởng, vợ Thầy, là một minh chứng rõ ràng,về kết quả của Phương pháp. Cụ bị rối loạn tuần hoàn não dạng thiểu năng, tiền đình thiếu máu trầm trọng. Cụ thường xuyên bị đau đầu, nằm ngồi ở tư thế nào nhà cửa cũng quay, đi lại bập bõm. Cụ còn bị gai đôi cột sống, huyết áp thường xuyên ở mức 80/50.

Đã gần sáu năm nay (năm 2000), cụ Tưởng bỏ hẳn các loại thuốc. Thỉnh thoảng bị bệnh thời khí hoặc bệnh cũ nhắc lại, cụ tập và tự xử lý được, Cụ đi xe máy bình thường; có lần đi về quê xa gần 200 cây số khứ hồi.

Tôi chỉ kể sơ lược về một số ca bệnh nặng. Có một số bệnh nhân, thầy trò tôi chưa giúp được gì nhiều. Thậm chí có những ca kiểm tra sai bệnh. Điển hình là ca bệnh ông Nguyễn Quang Hải, cựu chiến binh Quân nhạc. Giữa năm 1998, nhóm Mắt và những người học dưỡng sinh lên tập ở Côn Sơn. Đoàn có gần 50 người. Giữa đợt ông Hải bị đau vùng bụng giữa. Cơn đau ngày càng dày. Thầy trò chúng tôi kiểm tra đi kiểm tra lại, kết luận ông bị viêm màng bào màng bao ruột non và ruột già. Gần hai ngày sau phải thuê xe riêng, có bác sĩ đi kèm, đưa ông về bệnh viện 108 Hà Nội. Chiếu chụp X quang cũng không phát hiện ông Hải bị bệnh ở đâu. Bệnh viện quyết định mổ phanh bụng để tìm bệnh, mới biết ông bị thủng thượng vị. Ông Hải được cứu sống. Ở Côn Sơn, biết tin về ca bệnh của ông Hải, Thầy tôi quyết định thông báo với cả đoàn và nhận phần dốt nát về mình.

Mà dốt thật. Trong những ca bệnh kiểm tra sai, thường rơi hầu hết vào những người thân của tôi. Hai chị tôi bị sốt xuất huyết, thầy trò tôi bảo là cảm cúm. Mẹ tôi ngã gãy xương đòn và ba xương sườn. Do bị bó bột sai kỹ thuật, các đầu xương gãy chồng lên nhau. Thầy trò tôi lại thấy các đầu xương chỉ chệnh chút ít. Cháu trai con chị lớn của tôi viêm V.A có mủ, chúng tôi bảo là sốt do vi rút. Dù vậy tôi thấy cần nói thêm về trường hợp của mẹ tôi. Bệnh viện kết luận là tay phải của bà sẽ thành tật, không mang nặng và cử động bình thường được. Nhưng chỉ sau nửa năm tập dưỡng sinh, bà đã có thể giơ tay lên qua đầu, tập thể dục và ít lâu sau, bà đã đánh được cầu lông.

Tôi rất ấm ức. Nếu tính tỷ lệ sai đúng dựa vào kết quả khám của tây y, các ca bệnh chúng tôi kiểm tra đúng khoảng 70%. Ngay cả ca ông Hanxơ, thầy giáo người Đức của mẹ tôi, thày trò tôi cũng chỉ nói đúng về bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Sự tiến triển của thời gian sống lại dự báo sai.

Mãi gần đây tôi mới hiểu ra: có một cơ chế bảo vệ tự động cho công việc của thầy trò. Nếu việc khám và chữa bệnh cho người thân của tôi cũng khả quan như các người bị bệnh khác, tôi sẽ bị vướng vô cùng. Sống phụ thuộc, chắc chắn tôi sẽ phải thoả mãn mọi yêu cầu về việc chữa trị không chỉ cho gia đình, mà còn rất nhiều người có quan hệ họ hàng, bạn bè.

Có lẽ đến đây bạn đọc sẽ có một câu hỏi: Không có máy móc thiết bị , không gặp người bệnh, làm thế nào có thể thấy đúng bệnh. Tôi xin trả lời: rất đơn giản, đó là cơ chế nhìn của người mù.

9
Con cò bay lả bay la

Bay ra Hà Nội có nhà Khâm Thiên

Quê cò Nam Định – Ý Yên

Mẹ cò đỏ mắt về duyên của cò

Cò Rằng mẹ chớ có lo

Nhóm Mắt nơi ấy – tổ cò mẹ ơi

Từ nay con có chân trời

Nhân duyên đã hoá tình đời của con

Cụ Dương làm bài thơ trên tặng cụ Nhung.

Cụ Nhung đến với nhóm Mắt vào giữa năm 1997 do người nhà có quen biết Thày giới thiệu. Cụ đã hỏng hẳn mắt trái. Mắt còn lại sắp loà. Gia đình cụ ra Hà Nội tập dưỡng sinh, hy vọng cải thiện được bên mắt còn lại, chí ít cũng còn tự sinh hoạt được. Cụ lên Hà Nội từng đợt mười ngày. Tình nhân của Nhóm Mắt, ý nghĩa của chương trình, kết quả của bản thân và những người trong nhóm đã gắn bó hoàn toàn cụ với người mù. Giữa năm 1998, cụ để bố mẹ già ở lại quê, bán đàn lợn, cho thuê ruộng, lên Hà Nội tham gia hẳn vào chương trình. Thời gian đầu, Nhóm cử người đưa đón cụ đi học. Khi mắt còn lại nhìn khá hơn cụ tự đi. Sau đó, cụ mua xe đạp, có thể di bất cứ đâu trên đường phố nườm nượp xe, kể cả ban đêm.

Từ tháng mười năm 1999, nhóm Nguyễn Thái Học chia làm ba tổ nhỏ. Ba nhóm Cầu Giấy cũng bắt đầu tập thường xuyên. Cụ Nhung đạp xe đến tất cả các nhóm, dù mùa hạ hay mùa đông, trời mưa hay nắng. Riêng ở Cầu Giấy, cụ Nhung và cụ Tưởng hướng dẫn tập là chính. Thầy thỉnh thoảng mới đến thăm. Cứ có thêm người mù nào nhìn được lại, dù mới thấp thoáng, cụ Nhung cũng mừng đến chảy nước mắt. Giúp người mù luyện tập để có sức khoẻ và nhìn lại trở thành lẽ sống, là nguồn hạnh phúc không vơi cạn của cụ.

Hiện nay trong chương trình, ngoài những người bệnh được tách ra tập riêng, có ba dạng về mắt: những người mù hoàn toàn; những người sắp loà; những người thị lực giảm sút nhanh và có nguy cơ mù. Tất cả người bệnh ở hai dạng sau đều đã qua điều trị hoặc Tây y, hoặc Đông y, châm cứu. Đến với chương trình càng muộn, họ càng được cải thiện nhanh. Đôi mắt những người sắp loà (phần lớn cao tuổi) giữ được ở mức không xấu đi. Những người mắt kém thị lực không sút tiếp; có trường hợp cải thiện nhanh đến bất ngờ. Đó là em Nguyễn Thị Thuỳ, 14 tuổi, ở nhóm dưỡng sinh cụ Nhung và cụ Tưởng hướng dẫn. Trước khi đến tập, ngồi học ở bàn đầu, em cũng không thấy chữ viết trên bảng. Chỉ sau hai tuần lễ, ngồi xuống bàn hàng thứ tư, em đọc rõ.

Tôi biết ngoài những người mù hoàn toàn, Thầy có quan tâm đến những người sắp hỏng mắt. Đã có lần Thầy cho tôi cùng làm việc với bà Hoàng Mai, thạc sỹ, ở viên mắt Trung Ương. Bà Mai rất chú ý đến kết quả (lúc đó còn rất khiêm tốn) của chương trình. Bà cho biết những trường hợp mắt sắp hỏng mà Tây y chưa có cách nào can thiệp có hiệu quả là rất nhiều. Trên đường về bà nói với người bạn cùng đi:

– Tôi thấy thầy trò họ đặt vấn đề và làm việc rất nghiêm túc. Mong sao họ thành công.

Đó là nhà khoa học thứ hai, sau giáo sư y khoa Vi Huyền Trác, thấy công việc của chúng tôi không hoang tưởng, chưa kể phó giáo sư, tiến sỹ Chu Xuân Anh, người tham gia Chương trình bền bỉ đã năm năm. Thầy bảo tôi:

– Sau này, khi chương trình Mắt mở rộng, trong việc ứng dụng chữa bệnh, những người có nguy cơ hỏng mắt sẽ được ưu tiên hàng đầu.

Điều tôi thấy lý thú là những người tham gia chương trình hoặc đi bên cạnh theo dõi, trình độ học vấn rất chênh lệch. Như tôi và cụ Nhung, bình thường làm sao có thể gặp và trò chuyện với các ông bà có học hàm, học vị cao. Song kết quả của công việc làm chúng tôi hoàn toàn tự tin.

Đến với chương trình, trở thành thành viên không thể thiếu được, có lẽ chỉ có cụ Nhung. Còn những người sáng mắt khác, đến theo cách riêng của mỗi người. Nhóm xe ôm như Thầy tôi gọi đùa; đến nay còn lại năm cụ. (Cụ Tưởng không được xếp vào nhóm này. Những cụ kia có xe máy, lúc cần đèo các cụ trong nhóm đi tập).

Người đầu tiên tôi muốn nói đến là cụ Trần Tường, tuy cụ đến nay so với các cụ khác. Cụ Tường bị viêm, rối loạn chức năng gan rất nặng. Cụ phải bán cả xe máy để lo chạy chữa Tây y, Đông y. Da cụ xạm mặt sần sùi, gan to. Cụ phải theo một chế độ ăn kiêng chặt chẽ.

Là bạn ít tuổi của thầy, gắn bó đã nhiều năm, cụ Tường xin sang nhà Thầy, cùng tập với nhóm dưỡng sinh. Thầy trực tiếp hướng dẫn. Chỉ vài tuần sau, bệnh cụ lui rất nhanh, sau đó khỏi hẳn. Từ đó cụ rất chăm chỉ đến tập cùng nhóm Mắt.

Cụ Tường làm nghề sửa chữa ti vi và nhiều loại thiết bị điện tử. Cụ chữa rất giỏi nên quanh năm vùi đầu vào công việc. Nhưng nhiều đợt đi Côn Sơn, cụ vẫn có mặt, tận tình giúp đỡ người mù. Nhiều khi vì giỏi chuyên môn, cụ cũng khổ. Hết người này đến người khác trong Nhóm nhờ chữa máy. Đã không lấy tiền công, cụ còn gặp chuyện bực mình. Có lần cụ đến tận nhà chữa ti vi cho cụ T. trong Nhóm Mắt. Mải mê với công việc, lúc nghỉ tay cụ mới thấy là mình đang bị theo dõi. Bà vợ của cụ chủ sai ông em và đứa cháu ngồi ở hai góc nhà, xem ông thợ có làm việc gì khác không. Cụ Tường rất cáu. Mấy hôm sau , cụ T. mang tiền trả công. Cụ Tường kể lại sự việc trên, không nhận và nói:

– Cháu giúp cụ không phải vì tiền. Cụ có trả tiền triệu, cháu cũng vứt qua cửa sổ!

Có điều rất oái oăm, nhiệt tình của cụ Tường với mọi người thường đem đến kết quả không mấy hay ho. Cụ mua máy bơm nước cho nhà tôi, máy không chạy, phải đổi cái khác. Nhà Thầy có việc gì, cụ cũng xắn tay vào giúp. Thầy sửa nhà, làm thêm một bưồng ở tầng ba. Cụ Tường đưa một nhóm thợ quen đến làm. Trời chỉ mưa kéo dài vài tiếng, mấy bức tường ở buồng riêng của Thầy đã bị thấm ướt. Mưa qua ngày, buồng sũng sĩnh nước. Rồi đến cả trần cũng thấm; có góc nước nhỏ giọt tong tong, phải lấy xô, chậu hứng. Thầy bảo cụ Tường gọi ông bạn thợ đến. Ông ta giải thích rất hồn nhiên:

– Thì nhà em cũng thế! Em làm ở một ngôi nhà có sáu kỹ sư thay nhau giám sát thi công, thế mà mái vẫn thấm.

Thầy và cụ Tường không biết đằng nào mà nói. Đành mời ông thợ giỏi và có trách nhiệm kia ra quán uống bia!

Tháng 2 năm 1999, Thầy bị tai nan giao thông. Một chiếc xe ô tô con đâm thẳng vào xe máy của Thầy. Xe máy bị gãy nát càng, bánh trước yếm nhựa. Chỉ còn hai ngày là đến Tết Nguyên Đán. Cụ Tường nhờ một người gọi là bạn đem xe đi chữa gấp. Sau này mới biết, ông bạn vàng kia thay toàn đồ nội địa, tính giá cắt cổ như đồ Nhật…

Chương trình có vẻ rất có duyên với giới hội hoạ. Có tới bốn hoạ sĩ (chưa kể một người đang học đại học Mỹ thuật ở nước ngoài) đến học và tham gia. Cụ Phan Cẩm Thượng, ngoài 40 tuổi, dạy ở trường Đại học Mỹ thuật, một học giả uyên thâm về hội hoạ và kiến trúc cổ. Cụ giỏi tiếng Hán cổ, tiếng Nôm, sử dụng được tiếng Trung Quốc hiện đại, tiếng Anh. Cụ mắc một căn bệnh không tìm ra được tên gọi. Quanh năm uống thuốc bắc, song cơ thể hầu như lúc nào cũng mỏi mệt. Da rất xấu. Thầy hướng dẫn tôi kiểm tra bệnh cho cụ (từ xa), không chỉ một lần. Quả là bệnh của cụ Thượng rất hiếm gặp. Tạm thời gọi đó là thiểu năng hệ thống. Ở tất cả các tổ chức (cơ quan) của cơ thể, Các tế bào hết tuổi tồn tại được thải loại chậm; các tế bào mới sản sinh hầu như không trưởng thành đúng hạn (luôn là tế bào non). Cũng có một cách gọi khác: sự rối loạn hệ đồng hồ sinh học chức năng.

Như cụ Tường, các buổi cụ Thượng đến tập ở Nhóm Mắt, Thầy trực tiếp hướng dẫn. Sau đó, cụ được học chương trình chuyên cao, không đầy đủ. Bệnh cụ lui chậm, nhưng rất chắc. Khoảng trên dưới một năm, cụ đã có thể làm việc thoả sức, đá bóng tuần hai buổi. Và không cần dùng thuốc.

Cụ Thượng không tham gia Chương trình, song rất quan tâm đến công việc Thầy làm. Sau này, khi đã tách ra tập ở nhóm Dưỡng sinh tự chữa bệnh, thỉnh thoảng biết Thầy đưa người mù lên Côn Sơn, cụ điện thoại:

– Thầy có cần nạp năng lượng (tiền) không ạ?

Thường Thầy bảo không cần. Song cụ vẫn tìm cách đóng góp để nuôi chương trình. Lúc nửa triệu (vài lần), lúc cả một trăm đô –la. Cụ nói Thầy:

– Em trả quá ít để chữa khỏi bệnh.

Một lần, Thầy đến nhóm Dưỡng sinh. cụ Thượng khoe:

– Bây giờ, vì nguyên nhân nào đó bị mù, em cũng không sợ!

Cụ kể: đúng là dù nhắm mắt, cũng có thể nhìn cả phía sau. Hơn nữa, có thể kiểm tra từ xa hành vi của cô con gái duy nhất. Làm gì, ở đâu vào đúng thời điểm đó!

Các cụ Vũ Kim Dung và Võ Quốc Thắng ngay từ những ngày đầu đã say mê chương trình. Hiếm có ai tận tuy, hết lòng với người mù của Nhóm Mắt như hai cụ.

Tốt nghiệp đại học Kinh tế, một số nơi gọi đi làm, cụ Thắng từ chối. (Ai cũng biết trong những năm này , sinh viên ra trường hiếm có người có được việc làm tốt, đúng ngành học). Cụ Thắng tạm nhận công việc tiếp thị, vừa tự nuôi mình, vừa có nhiều thời gian tự do để đến với Nhóm.

Hai cụ bòn mót từng vài trăm nghìn đồng; nhiều khi có cả tiền triệu, vài triệu góp vào Quỹ chung. Mở lớp học dưỡng sinh, học phí thu được, các cụ cũng đưa vào Quỹ.

Cụ Dung thường nói với Thầy:

– Công việc mấy thầy trò đang làm rất đẹp. Chúng em đi theo vì lẽ đó, không vì một ham muốn, vì lợi ích riêng. Chỉ khi nào Thầy không cho đi tiếp, em mới chịu thôi.

Lần khác cụ nói:

– Đi vào Chương trình, riêng em có được rất nhiều. Được cho nghề em say mê suốt đời. Em càng vẽ càng thấy tranh mình ngày càng khác trước.

Thực ra, mất đến gần hai năm, quan hệ giữa ba thầy trò không được mặn mà như mấy năm đầu. Lúc còn làm phương pháp cũ, Thầy yêu cầu mỗi người phải ngắm mình, sửa mình để ngày càng hoàn thiện tư chất, nhân cách. Qua ứng xử, giao tiếp, Thầy thấy cụ Dung, cụ Thắng vẫn tự thấy mình tốt quá, nhân ái quá. Sau một sự việc hai cụ vất vả, xả thân ra giúp một thành viên trong Nhóm, Thày không khen mà còn chê. Cụ Dung giận Thầy, đùng đùng bỏ đi, không chào hỏi. Hai cụ vẫn đến Nhóm đều, giữ thái độ im lặng, lánh xa.

Làm phương pháp riêng của người mù một thời gian, chính Thầy bỏ dần rồi gạt hẳn những tiêu chí loài người tự đặt ra để đánh giá mình, đánh giá người khác. Thầy giao những việc quan trọng trước mắt và lâu dài cho cụ Dung, cụ Thắng. Quan hệ lạnh nhạt lập tức được gỡ bỏ.

Tôi thắc mắc:

– Liệu hai cụ có đảm đương công việc được không?

Thầy bảo:

– Bây giờ đối với thầy, ai cũng như ai. Xấu- tốt, nhân ái – độc ác, cao thượng – hèn hạ… chỉ là những khái niệm sai lệnh, khái niệm chết. Không có ai chỉ là thế này hoặc thế khác trong suốt cuộc đời. Biết người đúng như họ là thế, đặt vào đúng việc, đúng lúc ai cũng làm được.

Thày còn bảo:

– Chúng ta đã có kết quả xác định: Người mù nhìn lại được. Vì thế ai giải thích thế nào về Phương pháp cũng được. Nói là chúng ta làm mò, gặp may; hoặc chúng ta đang làm khoa học tâm linh, thần bí cũng thế cả. Chúng ta trả lời mọi người bằng kết quả và sẵn sàng lặp lại kết quả cho bất cứ nhóm người mù nào. Thế là đủ…

Cụ Chu Hồng Quý là một học sĩ tự do. Cũng như cụ Nhung, cụ chưa bao giờ nghi ngờ kết quả cuối cùng của chương trình. Và cũng như cụ Nhung, cụ Quý hết lòng với công việc theo khả năng của mình, dầm dề yêu thương mọi người, mà không nghĩ là mình tốt. (Dầm dề là tiếng Thầy dùng để nói về tính cách của hai cụ).

Cụ Quý thiên về làm tranh sơn mài, ký gửi ở các gallery. Nhiều lúc tranh bán chậm, lại bị cắt xén tiền dã man, cụ khá lấn bấn. Lúc tranh bán chạy, cụ nghĩ ngay đến Nhóm Mắt. Ít thì một hai trăm nghìn đồng, nhiều thì năm trăm, cụ góp vào quỹ. Không ít lần bị từ chối, song cái tình của cụ hồn nhiên quá, Thầy đành bảo ghi vào sổ.

Tôi muốn nói thêm chút nữa về Nhóm xe ôm. Tất cả sau một thời gian học, đều có khả năng khám, chữa bệnh từ xa. Họ nhắm mắt, có thể nhìn rõ các tạng phủ theo giải phẫu cơ thể và bệnh học của Tây y. Chỉ có khác, họ thấy các tổ chức bị bệnh và các tổ chức khác trong quá trình sinh hoá.

10
Ngày 28.10.2000, thầy trò chúng tôi kỷ niệm sáu năm ngày bắt đầu Chương trình. Đến lúc này, ở hai nhóm Nguyễn Thái Học và Cầu Giấy, có 37 người mù theo học. Hai mươi tư trong tổng số đó đã có tín hiệu hoặc đã nhìn lại được từng phần.

Có thể tạm chia mức độ nhìn lại làm ba nhóm.

Một là những người thường xuyên nhìn thấy và ngày nào cũng thấy ít nhất mười lần trong ngày (có lúc còn tinh hơn mắt thường). Cũng trong nhóm này, một vài người có khi vài ngày mới nhìn thấy ít lần. Tất cả có 6 người. Ở nhóm thứ nhất, cụ Bích là người xem được ti vi hàng ngày. Tôi và cụ Bạo chỉ thỉnh thoảng mới thấy rõ một ít cảnh vật trên màn hình.

Hai là những người không nhìn thấy thường xuyên. Nhóm này có 12 người. Như nhóm một, thường vào lúc bất chợt, các cụ nhìn rất tinh. Song họ vẫn nửa tin nửa ngờ, không chắc là mình đã nhìn lại được.

Ba là những người chỉ thỉnh thoảng mói nhìn thấy, có khi cả tháng không thấy gì. Có 6 người. Đến nhóm tập, bảo họ quan sát người và vật lúc tĩnh lúc di động, họ khăng khăng:

– Mắt mũi chúng tôi thế này còn nhìn gì mà nhìn!

Nể tình lắm, các cụ thở dài:

– Thôi thì chúng tôi đoán mò vậy. Được thì được, không được thì thôi!

Mấy cụ đoán mò khá tài. Lúc rõ, họ thấy được cả dáng người đứng, (có thay đổi tư thế), kiểu dáng, màu sắc áo quần, tay nào cầm hoặc không cầm vật gì, để ở tư thế nào. Đồ vật cũng vậy. Thầy tôi gọi đùa các cụ là nhóm đoán mò.

Đó là thực tế phải chấp nhận khi làm việc với người mù. Những năm trước, tôi cũng vậy. Rất nhiều lần nhìn thấy, độ chính xác khá cao, cũng không ít lần tôi tự hỏi: “Liệu có đúng là mình nhìn lại được không?”. Bởi trong sinh hoạt hàng ngày, tôi còn va quệt nhiều. Có lúc chảy cả máu, tím bầm da thịt. Mới thấy, hơn sáu năm trời, Thầy tôi kiên nhẫn biết mấy.

Trong buổi họp mặt ngày 28 tháng 10, có mời giáo sư y học vi Huyền Trắc. Bác đánh giá cao chương trình và rất tin ở kết quả của công việc. Bác sẽ viết một số bài gửi các tạp chí khoa học trong và ngoài nước. Những buổi làm việc riêng với giáo sư, tôi nhận xét:

– Bác Trắc thật là nhà khoa học dũng cảm.

Đúng vậy. Cách đây ba năm, bác đã khẳng định thầy trò Nhóm Mắt đang đi đúng hướng, rất mong chúng tôi sớm có kết quả có thể xác định được. Hơn năm mươi năm là bác sĩ điều trị, làm giảng viên rồi trở thành giáo sư dạy các trường Đại học Y và nghiên cứu khoa học, bác Trắc là một trong những nhà khoa học đầu ngành về tế bào học. Điều đáng quý là dù có bề dày hoạt động khoa học như thế, bác Trắc không lấy các tiêu chí có sẵn để tìm hiểu, đánh giá về kết quả của Phương pháp phục hồi chức năng của người mù. Thái độ khách quan đã giúp bác hiểu được một phần công việc và kết quả của thầy trò tôi. Bác là nhà khoa học đầu tiên đưa ra kết luận: người mù (dù đã bỏ hai mắt) nhìn lại là việc có thật.

Không hiểu Thầy tôi nhận xét đùa hay thật về bác: giáo sư Vi Huyền Trắc sẽ đi vào lịch sử nhân loại như Crit-xtôp Cô-lông tìm ra Châu Mỹ.

Tôi không nghĩ như thế. Thầy tôi chưa bao giờ đánh giá cao công việc Thầy làm cho người mù. Thậm chí Thầy còn bảo: Giúp người mù nhìn lại, cũng đại loại như Thầy quét nhà, giặt giũ, cơm ngước cho vợ con lúc họ đau yếu, hay viết một cuốn sách!

Song với những người mù đã nhìn lại được, và những người sáng mắt được thường xuyên chứng kiến kết quả của Nhóm Mắt, lại khác. Họ thấy thầy tôi như một nhân vật thần bí, không làm cách nào hiểu được. Họ còn định đặt pháp danh (một kiểu phong thánh) cho Thày. Thầy tôi thương và luôn buồn cười vì sự ngây thơ của các học trò. Trong một buổi làm việc ở Côn Sơn với nhóm của giáo sư Vi Huyền Trắc và một số người mù, Thầy tôi tự giới thiệu:

– Tôi tên là…(tên thật), 60 tuổi, vị trí xã hội: quyền phó thường dân dự bị, là nhà văn quèn, loại hai hay loại ba gì đó…

Sau này bác Trắc có nhận xét rất hay cách đánh giá của số đông về Chương trình:

– Toa có cho người sáng mắt chứng kiến những kết quả sờ sờ ra đấy, họ cũng không tin đâu. Họ còn mù hơn cả người mù!

Thầy tôi đang làm việc với cái phần thiệt thòi nhất và có lẽ đau khổ nhất của nhân loại. (Theo thông tin của Hội người mù Việt Nam, ở nước ta có hơn 60 vạn, cả thế giới có khoảng bốn triệu người mù). Dũng cảm đúng ra giới thiệu với người đời một công việc hoang đường của hoang đường, không thể ví Crit-xtôp Cô-lông ngang hàng với giáo sư vi Huyền Trắc được.

Châu Mỹ rồi trước sau gì cũng có người tìm ra, vì nó là vùng đất có thật. Còn người hỏng mắt, triệu năm trước đã mù, triệu năm sau vẫn vâỵ. Sao không ai tìm cách trả lại ánh sáng và sự bình đẳng cho họ. Các giải pháp theo hướng của y học hiện đại chỉ có thể trợ giúp người mù được chút ít. Bỏ các phương tiện hỗ trợ, người mù vẫn hoàn toàn là người mù. Dù có được cải thiện đôi chút trong sinh hoạt, người mù vĩnh viễn biến thành nô lệ của máy móc.

Tôi có nghe nói về công trình mới được công bố. Hơn 300 nhà khoa học đa ngành ở Mỹ cộng tác trên 30 năm, đã có kết quả ban đầu. Một người đàn ông ngoài 70 tuổi, bị mù hoàn toàn, đã nhận ra một chữ H cao 5cm bằng tính hiệu ánh sáng. Ông được chỉ định đi tới chỗ đặt cái mũ,. đội lên đầu con ma- nơ-ra, ở ngang hông có hơn 4kg máy.Tất cả đều được nối mạch với nhau. Ông già được huấn luyện cách sử dụng các thiết bị, cách nhận ra và đọc các ký hiệu ánh sáng trên màn hình. Chưa thấy nói kết quả đó được ứng dụng cho người nào khác.

Gần đây Chương trình lại có thêm những tín hiện về người mù có thể nhìn được dù không tập, hoặc tập mà không hiểu mình đang làm gì. Như nhóm đoán mò ở thôn Trung, xã Dịch Vọng, Cầu Giấy. Trước đây các cụ tập một tuần một buổi, có người hướng dẫn. Thỉnh thoảng Thầy có tới, chỉ để thăm hỏi. Sau mấy tháng hè, nhóm tập hai tuần một buổi. Chỉ mình cụ Nhung đến. Năm thành viên của nhóm vẫn đinh ninh là mình đến nhà cụ Mạo họp phân hội người mù để lấy điểm thi đua. Gặp nhau, họ nói chuyện trên trời dưới bể cả tiếng đồng hồ. Mà buổi tập chỉ có 90 phút. Lúc tập, người nào cũng nghĩ về câu chuyện riêng tư. Hoặc ngồi co chân lên ghế nhổ râu, tay gì cũng mặc. Dừng tập, họ lại chuyện tiếp. Hỏi về nhà các cụ có tự tập không. Các cụ hồn nhiên bảo: Có nhớ gì đâu mà tập!

Điều lạ lùng xảy ra lại không rơi vào năm thành viên chính thức. Đó là ông Thiện, một người mù gần 60 năm, ở cạnh nhà cụ Mạo. Thảng hoặc, ông sang nhóm uống nước, góp chuyện. Có một lần duy nhất ông im lặng khi cụ Nhung dẫn bài bốn hiệu ứng vật lý. Thế mà ông đoán mò giỏi nhất, gần như lần nào cũng đúng đến cả những chi tiết rất bất ngờ. Các cụ lại hồn nhiên nhận xét:

– Vì ông ấy là thầy bói!

Ở nhóm Nguyễn Thái Học, cụ Khởi chỉ tập có ít buổi, cũng đã thấy lúc thấp thoáng, lúc gần rõ mặt người và một số vật dụng. Nhiều lần, cụ thấy Thày từ xa, kể cả lúc Thày đứng khuất sau bức tường.

Gần đây nhất (tuần từ 13-19 tháng 11 năm 2000), cụ Oai mới tham gia tập hai buổi đã thấy lại ánh sang. Buổi thứ ba có Thầy, cụ nhìn thấy hình khối người đang ngồi. Rất hay, cụ khẳng định là mình nhìn thấy, chứ không đoán.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 9 03, 2015 7:54 pm

(tiếp)
11
Năm 2000, nhóm Nguyễn Thái Học mất hai thành viên: cụ Hoàng Văn Hưởng và cụ Nguyễn Nam Thắng. cụ Hưởng mất hồi tháng ba, thọ 88 tuổi. Cụ Nam Thắng mất vì bệnh tim ở tuổi 74.

Cụ Hưởng vào nhóm, tập theo kiểu được chăng hay chớ. Cụ ham đánh cờ tưởng hơn. Nhiều lần cụ nghỉ tập cả tháng để luyện cờ và đi thi đấu. Năm 86 tuổi, cụ đoạt giải khuyến khích cấp thành phố về cờ tưởng. Dù tuổi cao lại không kiên trì tập dưỡng sinh, cụ vẫn khoẻ mạnh hồng hào và đã đạt được ước mơ của mình: một lần nhìn lại. Đúng là cụ nhìn được một lần, trong đêm. Đang ngủ, thấy cả gian phòng đều sáng, mọi đồ vật hiện lên rất rõ, cụ giật mình tỉnh giấc. Ngỡ là mình đang mơ, cụ nhồi hẳn dậy, véo đùi thật đau. Vẫn thế. Mọi thứ quen thuộc cụ dùng tay sờ thấy hàng ngày, vẫn ở đấy thật rõ. Còn ngờ, cụ tát vào má mình. Không mơ thật. Cụ kể với cả nhóm, nửa tin nửa ngờ.

Các cụ ở Nguyễn Thái Học ai cũng tiếc nhớ cụ Nam Thắng. Là trung tướng, giữ những trọng trách đặc biệt trong quân đội và dân sự, cụ sống giản dị, liêm khiết. Đến với Nhóm Mắt, cụ tự coi là thành viên bình đẳng với mọi người, tập, tham gia mọi sinh hoạt, kể các câu chuyện vui tếu rất hay.

Cụ Dương cứ xuýt xoa trầm trồ:

– Nhóm mình bé tẹo, lại có cả một ông tướng!

Cụ Nam Thắng kể với mọi người: Quân y 108 xác định là cụ bị bệnh hệ thống.

Hồ sơ bệnh án cá nhân nặng hơn 8kg. Tim thường có cơn co thắt động mạch vành. Huyết áp cao. Bàng quang có sỏi. U xơ tuyến tiền liệt… Đã có lúc Quân y viên hội chẩn, quyết định mổ để cắt ổ lao ở bàng quang. Cụ không đồng ý. Mắt cụ bị mổ ba lần. Khi đến Nhóm, cụ còn nhìn lờ mờ. Một mắt đã lép hẳn. Cuối năm 1998, Cụ cho mổ bên mắt còn lại, thay thể thuỷ tinh. Cụ đã đến nhà thăm, phát hiện thể thuỷ tinh mới thay bị đặt lệch. Hết tuần cụ mù hẳn. Bệnh viện kiểm tra, đúng như thế. Các giáo sư, bác sĩ tham gia ca mổ rất lo. Phần thì biết rằng không còn làm gì thêm được nữa, phần thì sợ bị khiển trách. Cụ Nam Thắng vẫn tươi tỉnh, bảo bác sĩ trưởng khoa mắt:

– Các cháu và các giáo sư đã làm hết mình. Bác sẽ tập quen dần với cuộc sống của người mù!

Từ đó, tuần nào cũng hai buổi, cụ đến tập với Nhóm Mắt. Thầy tôi đùa:

– Thế là các thầy thuốc đã tặng hẳn cho chúng ta một vị trung tướng!

Một thời gian sau, cụ bỏ dần thuốc rồi bỏ hẳn.

Cụ vẫn đến bệnh viện khám định kỳ, lĩnh thuốc tiêu chuẩn, cất vào tủ thuốc gia đình. Bệnh đi tiểu dắt nhiều lần trong ngày và trong đêm đã khỏi hẳn. chỉ còn tim, thỉnh thoảng vẫn có cơn co thắt. Cụ để sẵn thuốc và nước ở bàn, ngồi tập để cắt cơn. Không lần nào cụ phải đụng đến thuốc. Gia đình, cơ quan, những người quen biết rất lo cụ sẽ suy sụp sau khi bị mù. Ai cũng ngạc nhiên vì thấy cụ ngày càng khoẻ. Hồng hào, tươi vui như chưa từng bị tước đoạt ánh sang của đôi mắt.

Không ít lần cụ đã nhìn lại được. Khi thì rõ cốc cà phê cụ pha, đặt trên bàn. Khi thấy lúc này lúc khác đồ đạc trong nhà. Có lần, đêm dậy đi vệ sinh, cụ ngạc nhiên vì mọi người không tắt đèn, cửa tủ bếp cũng quên không đóng. Thấy cả cái tủ lạnh cũ ở góc quen, bàn ăn… Cụ đến tận nơi kiểm tra bằng tay từng thứ. Đúng là cụ nhìn được. Cụ tắt đèn. Tất cả vẫn rõ trong ánh sáng trong và mỏng manh, như ánh trăng rằm. Sự việc kéo dài ước tới 15 phút. Hôm sau, cụ gọi điện kể lại với cô bác sĩ trưởng khoa mắt ở Quân y viên. Cô ngập ngừng giải thích:

– Cháu nghĩ là võng mạc bên mắt còn lại tự gắn với nhãn cầu, nên bác nhìn được.

Cụ thắc mắc:

– Nếu vậy, bác nhìn được thường xuyên chứ? Sao chỉ có 15 phút?

Cô trưởng khoa lung túng:

– Dạ, hiện tượng đó ngoài hiểu biết của cháu.

Cụ Nam Thắng chưa tin hẳn là bằng cách nào đó mình có thể sinh hoạt lại như người sáng. Song cụ tham gia Chương trình bền bỉ, và theo tôi nghĩ, cũng quyết liệt như khi cầm quân đánh giặc.

Đầu tháng 6 năm 2000, thầy trò chúng tôi vừa lên Côn Sơn được một ngày thì cụ Nam Thắng mất. Thầy điện cho cụ Kim Dung và Quốc Thắng lo chu tất việc tiễn đưa, như với cụ Hưởng. Ai cũng ngỡ ngàng về cái chết đột ngột của cụ. Ở Côn Sơn về, Thầy và tôi đến thăm gia đình cụ Nam Thắng. Cụ bà kể: mấy hôm trước khi mất, ông đã mấy lần bị đau tim, khó thở. Thuốc vẫn để trước mặt, nhưng ông ngồi tập, tự chữa. Tối mồng 1 tháng 6, ông lại đau. Xe cấp cứu của Quân y viện và cơ quan đến, nói mãi ông mới chịu đi. Bệnh viện kết luận ông bị viêm hô hấp trên, Hôm sau ông vẫn tỉnh, đi lại bình thường. Buổi trưa ông ăn ngon lành một bát to miến lươn. Nghỉ dậy, ông cầm quạt đi chơi các phòng bệnh. Ba giờ chiều ông lại bị đau ngực, đưa vào phòng cấp cứu. Ông hôn mê sâu và mất.

Trong một buổi tập sau đó, Thầy bảo tôi mời cụ Nam Thắng về lớp học ( Việc gặp người đã khuất rất đơn giản. Cái chết là dạng chuyển dạng tồn tại của cá thể, từ vật chất có cấu trúc sang vật chất không cấu trúc. Thông tin và toàn bộ chi tiết của cá thể ở dạng sau vẫn lưu trữ đầy đủ ở dạng cá thể khác). Cụ đến, chào từng người. Vẫn gương mặt phúc hậu, tươi tắn như khi còn sống. Cụ nói:

– Tôi chết không có gì ân hận. Việc chung việc riêng đều đã trọn vẹn. Chỉ tiếc là mọi người làm đám ma to quá. Giá tiền mua hoa phúng để cho nhóm Mắt đi Côn Sơn thì tốt biết mấy. Dung, Thắng thay mặt Nhóm đến phúng viếng tôi cũng quá tiêu chuẩn.

Thầy tôi bảo: Nếu cụ Nam Thắng chịu vào bệnh viện từ mấy hôm trước, chắc sẽ được cứu sống Nhưng di chứng về não rất nặng. Những tháng năm còn lại, cụ hoàn toàn lệ thuộc vào bệnh viện, thuốc men, người thân. Ông già biết điều này nên chọn cách ra đi không phiền lụy đến ai.

Cách ứng xử với bệnh tật của cụ Nhuận lại khác hẳn. Cụ bị tiểu đường và u xơ tuyến tiền liệt. Cụ rất chăm đi khám bệnh và uống thuốc, kết hợp cả xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu. Cụ còn mời cả bác sĩ đến điều trị ở nhà riêng, kiểm tra đi kiểm tra lại ở cơ sở tư vấn y tế tư nhân. Nghe lời Thầy, cụ tập theo một phác đồ đặc biệt để chữa tiểu đường, bỏ dần thuốc, giảm ăn kiêng. Bệnh lui. Lượng đường tiểu và đường huyết hạ tới mức an toàn. Đầu năm 2000, cụ bị tai biến nhẹ não phải. Khối u xơ tuyến tiền liệt to dần. Cuống lên, cụ kéo theo cả nhà đi ba bệnh viện. bệnh tiểu đường tái phát. Mấy tháng liền, và chỉ mong được mổ để cắt khối u.

Thầy đến thăm cụ thường xuyên và bảo cụ không phải mổ, bệnh sẽ lùi dần. Song vì quá lo, cụ vẫn chờ quyết định của Tây y, uống các loại thuốc đắt tiền. Kể cả uống mật gấu, tốn tiền triệu để làm teo khối u.

Ở tuổi 79, kể cả những lúc tưởng đang bệnh nặng, cụ Nhuận vẫn hồng hào và hầu như không sút cân. Hiện cụ đang bình phục, đã bỏ ống xông, không phải mổ, lượng đường huyết trở lại mức an toàn.

Thầy tôi đưa hai ca bệnh của cụ Nam Thắng và cụ Nhuận ra trước lớp. Thầy nói riêng với tôi:

– Cụ Nhuận còn làm khổ mình, khổ gia đình, chạy chữa đến đồng xu cuối cùng rồi mới chết!

Ban đọc kính mến. Nếu là bạn, bạn chọn cách nào?

Thực ra công bằng mà nói, nếu không tập quyết liệt bằng mọi cách, cụ Nhuận không được như bây giờ. Tay trái và chân trái bị liệt nhẹ, mới đầu mới di chuyển phải có người ôm xốc nách. Cụ thiết kế hệ thống tay vịnh trong nhà, ngoài hè phố tự tập đi. Như hồi bị thương vào mặt, vào tay. Như hồi lần lượt bị xe bò cán gãy hai chân. Cụ nhờ một bác sĩ dắt đi bộ quanh khu tập thể. Hở ra lúc nào tập lúc ấy. Ít tháng sau cụ sinh hoạt trở lại, không cần người phục vụ.

Chỉ tiếc một điều, cụ Nhuận bỏ qua lời khuyên của Thầy. Tập vừa sức, đúng phương pháp, sẽ có kết quả mong muốn. Cụ quyết liệt dung ý chí, làm những việc không hợp với tuổi tác, vượt sức ở một cơ thể đã già nua. Cụ Nhuận tiếp tục đi bệnh viện, mời vác sĩ tư chữa các bệnh Tây y không chữa được.

Càng ngày cụ càng suy sụp, gần như quên hẳn phương pháp đã giúp mình rất nhiều. Cụ chìm trong thuốc men và các liệu pháp vơ bèo vạt tép.

12
Không biết lần thứ bao nhiêu, tôi lại nổi cơn điên. Tập bản thảo chữ nổi đang viết dở tôi xé tan tành.

Bấy giờ là tháng 5 năm 2000.

Tôi và Thầy đi dạo, rồi vào quán bia quen. Câu chuyện dẫn tới nội dung Chương trình và những người làm Chương trình. Từ mấy Côn Sơn trước đó, tôi vẫn ấm ức vì thấy càng tham gia công việc, mình càng bé đi. Hoá ra những năm qua, bao nhiêu công sức vất vả, bao cuộc vật lộn với chính mình, để có kết quả như bây giờ, tôi chỉ còn là con số không.

Tôi hỏi Thầy:

– Vị thế của em trong Chương trình là gì?

Thầy trả lời:

– Là tất cả. Mà cũng không là gì cả!

Tôi hẫng hụt, thấy như mình bị vứt ra đường. Như Thầy không còn quý mến, tin cậy, đã từng cùng tôi làm tất cả để người mù nhìn lại.

Dù đã gạt bỏ được nhiều vướng mắc về những ham muốn danh vọng, tiền tài, quyền lực, nhưng tôi vẫn là một con người bằng xương, bằng thịt như bất cứ ai. Tôi vẫn thích nổi tiếng, được mọi người trọng vọng và nhiều nhu cần thông thường khác. Tôi cũng là người đời. Ai cũng muốn khẳng định mình, chiếm đoạt riêng cho mình những thứ ao ước và cả những thứ ngoài tầm tay, hoặc chỉ để thỏa mãn là mình hơn hẳn đồng loại. Tôi thành nô lệ của mọi ham hố. Song dù sao, tôi cũng không cam chịu mình trở thành con số không.

Biết tôi xé bản thảo, Thầy không nói gì. Tôi càng ấm ức. Đến tháng 8 năm 2000, bao nhiêu trang văn bản thảo viết tiếp, tôi xé nốt. Tôi không cần biết mình hay hay dở, đúng hay sai. Tôi giận mình, giận Thầy. bao điều khôn ngoan, tốt đẹp học được, tôi vứt vào sọt rác cùng mớ bản thảo tơi tan.

Cũng như bao lần khác, Thầy kiên nhẫn chờ tôi dịu dần. Thầy không trách mắng, cũng không giảng giải. Tôi biết Thầy không dựa vào tiêu chí để đánh giá hành động của tôi, cũng như của mọi người. Trên đời này chẳng có gì động được đến Thầy. Tôi thế nào, Thầy thấy cũng được.

Có lần Thầy nói:

– Nếu chúng ta lập nên một hệ thống tiêu chi, các giá trị mới để nhìn nhận, đánh giá người đời, định giá bản thân thì ta rơi luôn vào vòng luẩn quẩn của cái gọi là đúng, là sai, là tốt, là xấu, là thiện hay ác…

Những việc Thầy tôi làm, lời Thầy nói tôi đều hiểu. Song tôi làm không được như thế. Tôi cứ đào bới, vật lộn với mình đủ mọi trạng thái, hết ngày này qua tháng khác, năm này qua năm khác. Có lúc tưởng mình đã thông thoáng, rũ bỏ được bao nhiêu cóc cáy. Rốt cuộc mình vẫn nguyên là mình.

Những cơn điên của tôi rồi cũng qua nhanh. Như sấm chớp kèm theo mưa rào. Bình tĩnh lại, tôi thấy mình chẳng hay cũng chẳng dở. Và chắc chớp giật mưa giông vẫn còn thập thò ở nơi nào đó.

Khoảng bốn năm gần đây, ngày nào Thầy cũng đến làm việc ở nhà tôi. Mỗi buổi khoảng trên dưới hai tiếng. Nội dung học vô cùng phong phú và không có giới hạn. Tôi là học trò đầu tiên được tiếp cận với mọi dạng vẻ thông tin, các giải pháp mới dẫn dắt kết quả của Chương trình .

Nhiều buổi Thầy chỉ ngồi nói chuyện vặt. Hoặc Thầy hướng dẫn tôi viết cuốn sách này. Những hôm đi dạo, thường Thầy ở phía sau, chếch trái hoặc phải. Chúng tôi đi ngang dọc khắp khu bàn cờ Nam Thành Công mới. Vừa đi tôi vừa kể với Thầy tôi thấy những gì xung quanh. Cũng như lúc ngồi xem ti vi tắt tiếng, thấy cảnh, thấy người tôi tả lại. Hay lúc đọc chữ đen trắng, thấy thế nào tôi đọc thế, không suy diễn không sợ đúng sai.

Thầy đối với tôi dịu dàng như một người mẹ, đôi lúc nghiêm khắc như một người cha. Thầy hơn tôi 36 tuổi nhưng trông bề ngoài rất già. Những người trong làng không biết rõ về gia đình tôi, thỉnh thoảng gặp mẹ tôi đi chợ, hỏi:

– Ông ngoại cháu Tú mới ra chơi hả bác?

– Ấy, tôi vừa thấy ông hai ông cháu dắt díu nhau qua đây.

Trong sinh hoạt hàng ngày ở nhà, ở các nhóm Mắt, ở Côn Sơn, tôi không thấy bóng dáng tuổi già ở Thầy. Thầy không phụ thuộc vào nếp sống, vào thói quen cồ định (trừ tật nghiện thuốc lá với bia) với bất cứ ai ở tầng lớp nào, Thầy cũng thoải mái, bình đẳng và rất hay pha trò cho mọi người cười vui. Gần mười năm, dù đã thuộc tính Thầy, tôi vẫn luôn bị lừa về những chuyện bịa vô hại của thầy.

Tôi không giấu Thầy điều gì, dù là chuyện bí mật thầm kín nhất không thể nói với người thứ hai. Bao giờ Thầy cũng lắng nghe, kể cả chuyện nghiêm trọng và các chuyện mách lẻo trong nhà ngoài ngõ, thượng vàng hạ cám.

Như đã nói, Thầy sinh ra tôi lần thứ hai. Dường như tôi chỉ còn là hình hài giống Nguyễn Thanh Tú. Tôi còn được bọc kín không lâu nữa bằng một cô gái mù vô danh, tránh sự tò mò tọc mạch của người đời, kể cả người thân. Rồi đây nếu cần, tôi thích điều gì cũng được. Danh tiếng, của cải, người đời gọi là thánh chẳng hạn.

Thầy không tiếc tôi thứ gì. Vậy mà tôi luôn hờn dỗi, cãi Thầy như hát hay, dù biết rất rõ không có Thầy, tôi chỉ là cô gái mù thảm hại, suốt đời dựa dẫm, ăn bám vào mẹ, vào các chị. Thậm chí có lần giận hờn vô lối, tôi nói:

– Thầy có chết em cũng không khóc đâu.

Thầy cười hiền:

– Để xem!

Chẳng cần phải chờ. Ngay giáp Tết âm lịch – trưa 28 tháng chạp năm Mậu Dần (1998), ở nhà tôi về khoảng vài phút, Thầy bị ô tô đâm gãy nát phần đầu xe máy. Những người chứng kiến sau này kể là Thầy bị hất tung lên, lộn bốn vòng trên mặt đường. May sao có cô buôn hàng đồng nát quen chạy vào báo. Chị lớn tôi hớt hải chạy ra. Tôi mếu máo, ra vào như người mất hồn. Ít phút sau, chính Thầy gọi điện cho tôi:

– Thầy vẫn sống, chỉ xây xát vài chỗ vặt! Thầy đang ngồi uống bia ở quán gần chỗ xảy ra tai nạn, chờ làm biên bản.

Nghe giọng Thầy tôi dịu đi, nhưng vẫn nức nở khóc. Lúc bình tĩnh lại, tôi kiểm tra toàn bộ cơ thể, các phủ tảng của Thầy. Đúng là không có gì nghiêm trọng. Tội nghi nách có vấn đề, song thông tin không rõ. Dù thế nào, Thầy cũng biết lo cho mình, nghĩ vậy tôi yên tâm.

Thực ra, Thầy rất đau. Nằm, ngồi, đứng dậy, trở mình, thở mạnh lại đau dữ dội. Bố con cụ Chu Xuân Anh, vợ chồng cụ Hoàng Văn Bạo và các học trò mù đến chúc tết, Thầy vẫn ra ngoài ngồi tiếp, lại còn uống cả rượu với cả khách. Lần lượt nhóm xe ôm gồm có cụ Tường (người đến chỗ Thầy gặp nạn rất sớm), cụ Quý, cụ Dung, cụ Thắng đến thăm. Còn tôi, trước và sau tết, mẹ tôi đưa đến với Thầy. Thầy không cho báo tin với nhóm Mắt, Cụ nào gọi điện hỏi, tôi đều trả lời:

– Thầy về quê cụ ạ!

Khoảng 8 giờ tối ngày 30 tết, Thầy gọi điện cho tôi:

– Tú ơi, Thầy ra cổng ngồi chơi đây.

Tôi hoảng lên:

– Thầy vẫn còn đau thế, đừng đi.

– Thầy thấy hoàn toàn bình thường, như chưa hề bị tai nạn.

Đến 10 giờ đêm, Thầy bị đau lại. Hai giờ đồng hồ khoẻ mạnh chỉ như một thông điệp chỉ ra khả năng thầy trò chúng tôi có thể làm bất cứ việc gì đó có kết quả tức thời. Không phụ thuộc vào điều kiện nào.

Sau đó ít lâu, qua điện thoại Thầy bảo tôi kiểm tra lại lá lách của Thầy. Lúc đó tôi mới biết phần cuối nách bị chảy máu, hơi sưng. Không thuốc men, không tập dưỡng sinh tự chữa, Thầy phục hồi rất nhanh. Mồng 6 tết, Thầy lại đi xe máy đến đón tôi lên lớp tập với cả nhóm.

Thế là hàng ngày tôi lại được gặp Thầy.

Tôi quý Thầy như thế, rồi vẫn lùng bùng, giận hờn vô lối, vẫn cãi lại. Cuộc giằng giật để thoát khỏi vòng luẩn quẩn của những thói thường đã cóc cáy trong mình mới giai dẳng làm sao.

13
Cuối năm 2000, chị thứ hai tôi đi lấy chồng. Ngôi nhà bốn buồng chỉ còn hai mẹ con, như rộng hẳn ra. Và còn Bi nữa, con chó yêu, người bạn của tôi.

Mẹ Bi là chó Nhật, bố là chó ta. Là con út trong đàn bảy con, Bi còi nhom. Đã vậy, đã hết thời chó Nhật lên ngôi, ông bà chủ tống mấy mẹ con ra hiên, cho ăn được chăng hay chớ.

Bi đến với tôi, nằm lọt thỏm trong hộp bìa đựng rượu chai. Thả ra đất, mẹ đi băm băm mãi mới hết mấy viên gạch lát nền. Bi đứng gọn trong long bàn tay của tôi, như một cục bông trắng. Riêng đuôi lại trụi, dựng ngược như cái que. Mẹ tôi nuôi Bi bằng cơm nhá và sữa bò. Em ăn rất khoẻ. Ổ của Bi là một cái rổ nhựa, lót quần áo cũ. Phải bế đặt vào. Không tự nhảy ra được, Bi cứ nằm kêu chin chít như chuột.

Mấy tháng sau, Bi mắc bệnh đường ruột rất nặng. Tiêu chảy mấy ngày liền, cuối cùng em đi ra máu. Kiệt sức, muốn di chuyển , Bi phải lê nhích từng li một .

Thầy tôi cho Bi vào giỏ xe máy, đem về nhà .

Nếu không có Thầy và cụ Tưởng, chắc Bi chết. Bi được cho nằm buồng riêng của Thầy ở vườn. Nó chỉ còn thoi thóp, hai mông, đuôi bết phân và máu. Hàng ngày cụ Tưởng lau rửa, cho Bi ăn nước cháo. Thầy nhờ cô dược sĩ quen tiêm cho Bi mấy liều B12 và B1. Ngừng được bệnh đường ruột, Bị bị chớm liệt phổi. Bế lên, đầu Bi nghẹo cứng về một bên. Tim đập yếu dần, hơi thở gấp gáp dần. Cả hai nhà đều thương. Thầy đùa: Phải lập ban lễ tang, chuẩn bị đưa Bi về nơi an nghỉ cuối cùng. Có mấy ý kiến khác nhau về việc xử lý xác Bi. Nhà tôi vườn rộng. Tôi xin mẹ cho chôn Bi ở gốc một câu khế. Mẹ tôi đồng ý.

Vậy mà một tuần sau em đã được xuất viện. Mẹ tôi phải dùng kéo cắt trụi lông ở đuôi và mông em. Phải mất mấy ngày, Bi rất khó tính, cứ cau cáu. Ăn trả bữa ít hôm, Bi bình phục. Từ đó em lớn nhanh như thổi.

Nhà Thầy nuôi một con chó thuần giống Nhật Bản. Các chị Tùng Cương, Tùng Ngọc xin Thầy lấy tên con chó trong cuốn truyện Thầy viết đặt cho em, nên nó là Bim, Bim hơn Bi một tuổi, lông rất dài, vừa quăng vừa lượn sóng, mảng trắng mảng đen.

Bim được cả nhà yêu thương, chăm bẵm. Thầy bảo: cầu tự mãi mới được một thằng cu! Anh chàng khá thông minh. Hiểu được nhiều từ thông thường, nó còn biết liên hệ, suy đoán.

Bim có tật đi tè vặt, thỉnh thoảng lại đái bừa ra chỗ nọ chỗ kia trong nhà. Mỗi lần như thế, Thầy ngồi đọc sách hoặc đi đâu về, không nhìn Bim. Nói rất khẽ:

– Không biết đứa nào đái dầm nhỉ?

Dù đang làm gì, Bim cũng chui lọt vào góc xa gầm giường, im thít. Cứ lặp đi lặp lại như thế.Nhưng Bim không chịu sửa chữa khuyết điểm. Lúc đã ba bốn tuổi, một hôm Bim trèo lên giường cụ Tưởng, đái ra cả chiếu, ra chăn bông. Suýt nữa bị đuổi đi không nuôi nữa. Bim rất thích ra khỏi cổng sắt đi chơi. Muốn đi phải mở khoá. Không cần nhìn Bim, chỉ cần nói khẽ: “chìa khoá đâu nhỉ”, Lập tức anh chàng chồm đứng hai chân sau xin lấy xin để. Thường thì Thầy xích Bim vào, dẫn đi dạo, lúc nào cũng có mấy tờ giấy loại cầm tay, phòng khi cậu ta ỉa ra đường thì hứng lấy. Thay cho mấy từ chìa khoá, chỉ cần ngồi hay đứng đâu đó, nói bâng quơ: “Giấy đâu nhỉ”, Bim lại chồm lên cuống quýt xin đi chơi.

Cũng như Bi, anh Bim đã một lần suýt nhìn “bầu trời xanh lần cuối”. đó là khoảng tháng 4 năm 1995. Thầy đang làm việc ở Sài Gòn. Bị bệnh đường ruột, tiêu chảy kéo dài không kiểm soát được, Bim kiệt sức dần, rồi liệt hai chi sau. Cụ Tưởng đèo chị Tùng Cương bế em đến viện thuốc thú y. Ông tiến sĩ của Viện nhìn con chó, lắc đầu:

– Bệnh này ở chó Nhật chưa có thuốc chữa. Nếu gia đình áy náy vì bỏ mặc nó, tôi kê cho đơn thuốc tốn khoảng vài trăm nghìn đồng. Theo tôi là tốt nhất nên đem cho nhà hàng, tránh cho nó khỏi đau đớn kéo dài. Giả dụ có cách nào đó chữa khỏi, nó cũng bị tàn tật suốt đời.

Tùng Cương ôm chặt Bim, khóc ầm lên. Mấy người làm việc ở các phòng gần đó đổ xô đến, tưởng có chuyện gì nghiêm trọng.

Thương quá, lúc về đến nhà, cụ Tưởng bảo Cương, Ngọc:

– Các con đừng quá thất vọng. Vẫn còn một cách nữa. Để mẹ tin vào cho bố.

Cụ Tưởng lại nhờ cô y sĩ quen tiêm cho Bim mấy liều B12-B1 để em có thời gian đợi. Ở nhà vườn, hễ có người nào ra thăm, Bim lại cố lết bằng hai chi trước hướng tới, đôi mắt hạt nhãn đau đáu cầu xin cứu giúp.

Và cũng như Bi, chuyện lạ lại xảy ra. Bim khỏi từng giờ. Cắt cơn tiêu chảy, Bim tập đứng lên bằng cả bốn chân. Sau hai ngày đêm ở nhà vườn, vừa chợt khỏi bệnh, Bim vào , dù lông em còn bê bết phân, bóc mùi khủng khiếp. Bim ăn trả bữa, tự đi lên gác tìm buồng hai chị.

Thầy ở Sài Gòn ra, Bim đã hoàng toàn khở mạnh, vẫy đuôi ư ử đón bố tưởng gãy cả cột sống!

Bim sống quý tộc hơn Bi. Cậu được mẹ và các chị tắm cho thường xuyên. Mùa đông cậu có ổ bằng đệm mút bọc vải đặt trong thùng bìa kín, có đèn điện sưởi. Cơm có bát, có thìa riêng. (Có những ngày Bim biếng ăn, phải dung thìa xúc đưa lên tận mồm. Lại còn phải nịnh: Bim ăn hộ chị (hoặc mẹ) nào). Có lúc còn phải nhá thức ăn, mớm như nuôi trẻ thơ. Ăn uống xong có khăn lau mồm. Ra đường chơi, về nhà có khăn lau chân.

Bi cũng có bát ăn riêng, song uống nước lã. Gần đây cụ Tưởng thấy Bi sống dưới mức nghèo khổ (tuy thức ăn được cấp theo ý muốn), mua cho em tấm đệm bằng mút bọc. Thày mua chiếc thùng bìa, bỏ đệm vào, làm nhà mùa đông cho Bi.

Anh Bim nhát như cáy, sợ cả mèo cả chuột cả gián. Em Bi nhỏ con hơn, lại dữ như hổ. Bảng thành tích phê bình bằng răng của Bi có tới gần hai chục người. Soát xét lại những người bị cắn, Bi có lý của Bi. Kể cả cu Mía, cháu gọi tôi bằng dì và cu Tôm, con chị hàng xóm. Hai đứa bé trêu chọc Bi quá đáng. Bi cắn để tự vệ. Đã hơn một lần, Bi bị người trong nhà doạ đập chết. Vậy mà Bi vẫn sống. Nó đặc biệt yêu Thầy, rồi đến tôi. Hàng ngày Thầy dành ít phút nhảy với nó. Ít có cô bạn nhảy nào hết mình đến vậy. Nhảy quanh Thầy bằng hai chi sau, tung mình xoay trên không vài vòng. Lại còn thỉnh thoảng vừa nhảy vừa hát oăng oẳng ầm nhà. Hàng xóm tưởng ai đó bắt bi để giết thịt. Đang nhảy hay như thế, đôi lúc bất chợt Bi ngồi xuống gãi đùng đùng, hoặc bắt rận. Thầy nhận xét:

– Cô bạn rất lịch sự!

Nó thuộc cả tiếng xe máy của Thầy. Từ xa, có đã nhận ra, ngong ngóng đợi. Bi yêu không vụ lợi. Thầy hầu như không bao giờ cho ăn. Cụ Tưởng, cụ Nhung, Tùng Cương, Tùng Ngọc cũng vậy. Nó yêu tất cả thắm thiết.

Rất hay là Bi vô sinh. Nếu nó đẻ đều đều, chắc mẹ tôi không nuôi nó nữa. Như Bim em, một con chó ta, nuôi trước Bi. Mỗi năm Bim-em đẻ hai lứa. Nó trở nên mụ mẫm, đần độn vì đẻ nhiều. Mệt mỏi vì các đàn con của nó. Đến lúc mẹ tôi hầu như nhiều lúc không chịu nổi. Thầy gợi ý đem cho nhóm Mắt. Tôi giãy nảy, không chịu. Thầy bảo:

– Thầy yêu cầu người đến bắt đem theo ống tiêm và thuốc ngủ. Bim-em sẽ được chết nhẹ nhàng.

Đến ngày hẹn, cụ Thắng đèo cụ Kiều đến. Họ làm gì tôi không biết, chỉ thấy loáng sau Bim-em đã nằm gọn trong bao tải. Hôm đó là ngày tập của Nhóm. Thầy đèo tôi đến lớp. Lên mấy bậc thang (buồng tập ở tầng bốn), tôi dừng lại níu tay Thầy, khóc ầm lên:

– Thầy ơi, Thầy dắt em sang cứu Bim đi. Em không cho giết đâu!

Mọi người dỗ dành rất lâu, tôi mới hơi nguôi. Các cụ áy náy mãi, dù buổi trưa hôm ấy, Bim-em đã nằm gọn trong bụng mọi người. Ai cũng khen thịt Bim-em sao mà ngon thế!

Lại nói về Bim. Chàng có mối tình đầu tuyệt vọng với cô Mít hang xóm, một cô chó ta. Gọi là tuyệt vọng, vì chủ của Mít xin đâu được một cậu Bec-giê to vật vã. Từ đố nàng cứ một năm hai lứa, quên hẳn chàng. Nhưng Bim không quên, lần nào đi qua cửa sổ hay cổng nhà Mít, chàng cũng dựng ngược hai chân, chồm chồm gọi nàng, chửi bới ầm ĩ thằng cướp vợ. Tên hộ pháp kia cũng không vừa. Hắn đón Bim đằng trước, đằng sau nhà, bám lên chấn song cửa gầm gừ răn đe. Cuộc chiến kéo dài đến tận bây giờ và chắc có tiếp tục cho tới khi cả ba đứa đã lên chức cụ… chó!

Bim và Bi chỉ gặp nhau có một lần, lại đúng vào lúc ốm thập tử nhất sinh, nằm cách ly ở nhà vườn. có thể coi như hai đứa chưa hề gặp nhau. Vậy mà mỗi lần Thầy ở nhà tôi về, làm xong thủ tục đón mừng bố, Bim hít lấy hít để hai ống quần và chân. Đó là những chỗ có nhiều mùi Bi nhất. Bi rất thích ôm và nằm sát chân Thầy.

Hai đứa chúng nó phát minh ra kiểu tình yêu – từ – xa mới. Đó là mối tình hơi. Thầy tôi nói vậy.

Chẳng biết hai cục cưng có yêu nhau không. Điều chắc chắn là chúng như những tín hiệu đầu tiên báo rằng Chương trình Ánh sáng của người mù sẽ không chỉ đạt những mục tiêu đề ra ban đầu.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 9 03, 2015 8:12 pm

(tiếp)
14
Tôi đã viết về Thày tôi quá nhiều, vẫn cảm thấy như chưa nói được điều cần nói.

Hơn sáu năm, Thầy thay đổi nhiều mà học trò ít nhận ra. Thầy như gần gũi với mỗi người, lại cũng càng cách biệt. Thầy không còn chăm lo từng bữa ăn, giấc ngủ cho từng người. Lên Côn Sơn, Thầy để tất cả tự do sinh hoạt, tập luyện. Chẳng còn dẫn tập, chỉ đường đi nước bước. Thầy bảo:

– Các cụ càng buông tôi ra, quên tôi đi càng khá hơn.

Các cụ lắng nghe và vẫn túm chặt lấy Thầy.

Bạn lâu năm, đám anh chị em ruột thịt đông đúc của Thầy thưa vắng dần. Có gặp,chẳng biết nói gì. Có ngồi ăn cùng nhà ai đó, Thầy chẳng biết gắp miếng nào. Những mối quan tâm, những ham muốn, vật lộn với kiếp sống của họ ở ngoài Thầy. Nhiều người bảo Thầy hâm. Thầy nhận ngay danh hiệu sang trọng ấy. Hâm quá, Thầy tự nói về mình. Trong tay có một nghề được cả xã hội trọng vọng, danh tiếng và tiền bạc ở tầm với, lại buông bỏ nhẹ không. Bao thời gian, công sức và cả tình yêu dồn vào một công việc vô vọng. Như đội đá vá trời. Hâm!

– Thầy hâm thật, Tú ạ! – Thầy nói, và cười tươi.

Tôi rất thích nụ cười của Thầy. Nó hiền và rất thật. Khi Thầy nghiêm mặt, đáng sợ luôn. Ấy là với mọi người. Tôi khống sợ!

Một lần giáo sư Vi Huyền Trắc nói với Thầy, trước mặt tôi:

– Đúng là toa hâm, nhưng không như vậy, không ai làm nổi việc moa đang làm đâu.

Tôi đã nói, giáo sư là một trong số ít người hiếm hoi hiểu và tin vào công việc của thầy trò tôi. Tất nhiên, hiểu theo cách của cụ , một nhà khoa học ham nghiên cứu về thế giới tâm linh.

Tôi chưa vao giờ thấy Thầy tôi hâm cả. Không chỉ ở cái cách thầy điều chỉnh Chương trình có kết quả ngày càng nhanh. Mà trong cung cách sinh hoạt, ứng xử, dù là ai cũng thấy có gì gần gũi, không hề có khoảng cách nào với Thầy.

Thầy tôi rất thích uống bia, bia hơi bình dân, giá rẻ. (Thầy bảo: trình độ Thầy chỉ có thế. Tôi biết là Thầy không có đủ tiền uống các loại bia khác). Thầy có hai quán bia quen cùng phố và một quán – bia – thân – yêu (Thầy gọi thế) ở gần nhà tôi. Mỗi lần đi dạo Thầy trò tôi thường tạt qua. Quán xá đủ hạng người. Từ các hạng chức sắc đã nghỉ hưu hoặc đương chức, đến dân buôn, cửu vạn, có cả anh hùng được Nhà nước sắc phong và lưu manh chuyên nghiệp, không chuyên.

Thầy trò chuyện với ai cũng được, cùng cười vui hết cỡ vì câu chuyện, lời nói đáng cười. Nhiều người thích mời bia hoặc trả tiền cho Thầy, dù không mời trước.

Ở quán bia- thân – yêu, Thầy cũng có một số người quen, dù thi thoảng chúng tôi mới đến. Có một cụ tên là Phan, ngoài tám mười tuổi. Cụ thấy tôi đeo mắt nhựa, rất thương cảm. Tưởng thầy trò là hai cha con, cụ hỏi:

– Cháu thứ mấy của anh đấy?

– Dạ, cháu thứ tám bác ạ. Đẻ theo kế hoạch cũ.

Thầy tôi trả lời, nét mặt rất thành thật.

Cụ Phan kêu lên!

– Đẻ lắm thế!

Cụ yên trí tôi là con thứ tám của Thầy. Từ đó Thầy đặt tên cho cụ là Cụ-tám-con.

Mỗi lần gặp lại, cụ tươi cười chào:

– Hai bố con khoẻ không?

Thầy tôi nói khẻ:

-Tú chào Cụ-Tám-con đi! Có lần mẹ tôi ra quán mua bia. Trong khi chờ, bà trò chuyện với cụ Phan. Mau miệng, bà để lộ chúng tôi là hai thầy trò, cụ vẫn hỏi:

– Thế nào. Hai bố con có khoẻ không?

Cụ còn mời, lúc nào thuận tiện, hai cha con đến nhà chơi.

Lắm lúc thấy rất trẻ thơ. Nhất là khi nhảy với Bi, chơi với Mía. thầy như cùng trang lứa với chúng.

Mía rất thích chơi với ông giữa. (Thầy tôi bảo Mía gọi thế. thầy giải thích: không phải ông nội, ông ngoại. Ông già rồi không còn là ông trẻ . Nên là ông giữa). Anh chị tôi nuông chiều Mía. Tên thật cháu là Đỗ Minh Hoàng. Khi mang bầu, chị tôi chỉ thèm ăn mía. Cả nhà gọi đùa thành tên. Bố mẹ Mía không tiếc con thứ gì. Cháu có nhiều đồ chơi đắt tiền. Nhưng nó không thích là mấy. Gặp ông giữa ở nhà tôi, nó chơi không biết chán máy bay, tên lửa, tàu thuyền ông gấp cho. Hai ông cháu la hét, chiến đấu quyết liệt bằng mấy thứ đồ chơi không mất tiền. Nó sẵn sàng bỏ mọi thứ, sán đến bên ông. Ông cháu ba hoa, bốc khoác tận trời.

Có những buổi hai ông cháu dung que hương (hương cúng) bắn ma. Ma chết nhe răng giãy đành đạch, chết hự một cái (lời Mía tả). Rồi hai ông cháu tập võ. Cũng chụm chân, vòng tay bái tổ, xuống tấn, vận khí, phát chưởng công, chỉ công kêu choèn choẹt. Rồi chơi đá bóng. Mới đầu là bóng bằng nhựa hoặc cao su. Sau chỉ là quả hồng xiêm xanh rụng ở sân nhà. Hai ông cháu chia gôn sút chí mạnh “vào rồi”, “không vào”, các đối thủ thi nhau hét toáng. Mía bao giờ cũng thắng, rất hả hê.

Chỉ thế thôi mà Mía mê ông như điếu đổ. Vốn tham ăn, vậy mà món kẹo sô-cô-la là rất thích, nó vẫn để dành phần ông Giữa. Nó dặn đi dặn lại cả nhà: “không ai được ăn đấy”. Nghĩ thế nào nó hạ giọng nói thêm: “Nhưng bảo ông Giữa đừng ăn hết để phần Mía một ít”.

Cầm mấy miếng sô-cô-la bé tẹo, nghe tôi kể về lòng dũng cảm của Mía, Thầy nhấn lại chú bạn nhỏ: “Ông đã hít đến mười lần. Rất ngon, Mía ăn hết đi.”

Thầy tôi thế đấy. Rất đời thường, nhưng với một số người lại cách vời, huyền bí. Không huyền bí sao trong tay chẳng có gì, lại làm cho người mù nhìn thấy? Ngay cả việc Thầy ăn, uống, sinh hoạt cũng đáng đặt dấu hỏi. Mấy năm đầu, Thầy ăn ngày càng ít dần. Các trò đều thấy xót xa. Rồi cũng quen. Vài năm trở lại đây, thực đơn cả ngày của Thầy gồm hai quả trứng gà nhúng, một gói nhỏ bột đậu xanh hay bột ngũ cốc vài chục gam. Có hôm còn lười đến mức bỏ cả nửa gói cháo ăn tối. Hiếm hoi lắm Thầy mới ăn thêm một miếng gì đó (kể cả thịt), chút ít hoa quả. Bia hơi thì mỗi ngày dùng từ bốn đến năm vại. Có điều Thầy ngủ hơi khiếp. Nhiều ngày liền, cụ “chợp mắt” từ 6 giờ tối đến 6 giờ sáng. Cụ tự nhận xét: Thầy ngủ như trẻ sơ sinh! Thầy già đi nhiều. Râu, tóc, lông mày sắp bạc trắng cả. Nhưng trọng lượng cơ thể vẫn như xưa, da lúc nào cũng đỏ hồng. Và vẫn có thể đi xe máy cả trăm cây số không thấy mệt.

Thế mà bảo Thầy là người bình thường ai tin được.

Cả mấy cụ ở Nhóm Mắt Nguyễn Thái Học cũng vậy. Thầy đã nhiều lần nói rất rành mạch về Phương pháp, về con đường đang đi, về việc bắt ma quỷ, thần thánh bỏ ngâm rượu, nếu có. Chẳng ai tin. Thầy nói mặc Thầy. Thầy nói Thầy nghe. Dứt khoát phải có cái gì đặc biệt, là cái gì chứ? Thầy-không-là-gì-cả, không có khả năng kỳ lạ nào, nói vậy sao lọt tai được.

Tôi biết Thầy tôi cô đơn, giữa cuộc đời thừa mứa bon chen, ham hố, thủ đoạn. Tôi hiểu từng lời, từng việc Thầy làm dù có khó hiểu đến mấy. Mà Thầy không cần ai an ủi. Thầy như cỏ cây, như nước, khí trời hoà nhập với tất cả, tạo nên sự sống mới ở chính những con người đầy bệnh tật, mù loà.

Thật ra không ít học trò của Thầy có nhiều khả năng đặc biệt mà dù theo môn phái nào, luyện tập công phu hàng chục năm cũng khó mà có được. Nhưng Thầy tôi không muốn mọi người sa đà vào những cám dỗ tầm thường: nổi tiếng vì những biểu diễn khả năng mà con người không có, thành thày chữa bệnh, thầy dự báo… Thầy khuyến cáo mọi người không nên kiếm tiền, kiếm danh, chạy theo những ham hố muôn đời của con người, dù có tài đến mấy. Thầy nói thẳng:

– Chúng ta không có gì để ban phát, cứu giúp ai. Chương trình Ánh sáng của người mù không làm dịch vụ từ thiện, nhân đạo…

Đến đây Thầy lại nói vui:

– Cụ nào có tiền, hãy tập cho quỹ chung cũng biết cách thở: không cần thì co lại, cần thì nở ra vô tận!

Quỹ chung của thầy trò Nhóm Mắt cũng là chuyện khó hiểu. Bằng mấy năm trời đi Côn Sơn vài chục lần, mãi đến tháng 4 năm 2000, Thầy mới yêu cầu các cụ đống tiền ăn. Tuỳ khả năng kinh tế của mỗi người, đóng bao nhiêu cũng được. Cũng khoảng đó, chúng tôi mới mượn được ô tô để đi. Tiền bồi dưỡng lái xe, thuê khách sạn và các chi tiêu khác quỹ chung vẫn chịu. Có đợt đi đông kéo dài cả tháng, tiêu gần 10 triệu đồng. Thường thì đi nhóm nhỏ hết trên dưới một triệu. Gần đây có tới năm, sáu chuyến đi mỗi năm.

Chỉ có một lần Thầy đồng ý cho lập phòng khám chữa bệnh ở phố Nguyễn Thái Học khoảng hơn một tháng (1998) có thu tiền. Không nhận tài trợ thường xuyên, không người giàu có nào bảo trợ, chẳng biết tiền ở đâu ra. Có thắc mắc thì Thầy bảo:

– Quỹ cũng học phương pháp dưỡng sinh phục hồi chức năng của người mù. Nó biết Thầy bịa ra cái gì là có cái đó.

Cụ Bích có lần nói đùa: Môn học của ta là bịa-tạc-học!

Không nói đâu xa. Tháng 1 năm 2000 quỹ chỉ còn một triệu năm trăm ngàn đồng (không kể số tiền mười triệu gửi Ngân hang, đã năm năm chưa lần nào động đến. Đó là khoản lớn nhất Chương trình nhận được, của ông bà Nguyễn Công Quang và Lý Lệ Hoa). Trong năm thầy trò đi Côn Sơn sáu lần – chưa kể lần đi qua hai năm 2000-2001, quỹ vẫn còn gần một triệu. Mà không phải chi tiêu quá tằn tiện. Bia hơi uống thoải mái. Mỗi đợt bao giờ cũng có một, hai bữa ăn cải thiện.

Tiền đến cứ như trong trò ảo thuật. Chỉ khác, đó là những đồng tiền thật, tiêu được.

15
Chúng tôi có một chuyến đi Côn Sơn hai thế kỷ, cũng là xuyên hai Thiên kỷ. Ở Hà Nội đi sáng 30-12-2000, trưa 8-1-2001, thầy trò có mặt ở nhà.

Tôi không biết kể về kết quả chuyến đi như thế nào cho gần đúng. Nhìn bề ngoài thì chúng tôi vẫn thế: tự sinh hoạt, tự đi không gậy trên những đoạn đường khác nhau, tìm vào quán chỉ định trước, vào chùa theo cổng chính hoặc cổng phụ. Ra cũng vậy, không được trở lại đoạn đường đã đi, cổng vừa vào (chùa có một cổng chính, hai cổng phụ).

Rồi tả người tả cảnh, ngắm mây trời dày hay mỏng, màu gì, trời nắng hay dâm (lúc ngồi trong nhà), nếu nắng, vệt chiếu đến đâu…

Lần này mẹ tôi bảo tôi béo ra, khen Thầy:

– Bác nuôi cháu mát tay thật!

Quả vậy, mấy thầy trò có một đợt an dưỡng thật thoải mái.

Có một hiện tượng trước đây đôi lúc tôi thoáng trải qua, ở Côn Sơn lần này như được khẳng định thêm. Trong sinh hoạt hay đi trên đường, tôi không thấy thông tin hình ảnh, thông tin nhắc. Không gian chung quanh trở nên chông chênh, mất hoàn toàn những điều kiện lâu nay đối với tôi như chỗ dựa tin cậy. Tôi hơi hoang mang. Rồi ngạc nhiên thấy mình đi nhanh hơn, chính xác hơn. Thầy bảo:

– Nếu không quen, mọi người không biết là Tú nhìn bằng hai mắt nhựa! Tú đi đàng hoàng, tự nhiên như người sang mắt.

Thực ra không phải lần nào cũng được như thế. Nhưng cứ dày lên, dày lên. Thầy bảo tôi tạm để vậy, không phân tích, so sánh.

– Chúng ta cần người mù sinh hoạt bình thường như mọi người là đủ. Còn nếu giữ các khái niệm, các điều kiện ràng buộc, chúng ta đánh vật với Chương trình vài chục năm may lắm cũng chỉ có số ít người mù nhìn lại. – Thầy tôi nói.

Thầy cho chúng tôi chạm thử vào CÁI KHÔNG CÓ GÌ. Định hướng cho cách tiếp xúc, quan sát xong Thầy bảo:

– Chúng ta vẫn chưa thoát khỏi thói quen đặt tên cho sự vật theo ý mình. Chưa khá được!

Đúng là chưa khá được. Những trò giỏi nhất của Thầy vẫn chỉ xác định được là có dấu hiệu nhìn lại. Chưa ai nhìn được thường xuyên, sinh hoạt bình thường. Song qua mấy lần đi Côn Sơn gần đây nhất, dường như thầy trò chúng tôi đã chạm được vào cái gọi là CƠ CHẾ TỰ ĐỘNG của Tự nhiên.

Ngày 19-11-2000, Thầy gợi ý với nhóm Nguyễn Thái Học, từng người tự thử nghiệm cơ chế nói trên. Thử vào việc gì tuỳ ý chọn. Chữa bệnh không cần chữa. Làm cho một người hay một nhóm người thay đổi lối sống, hành vi làm phiền, thậm chí làm hại người khác… Chỉ cần biết tên tuổi, địa chỉ của họ. Định hướng nội dung việc cần làm và theo dõi hàng ngày hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp.

Tôi thử ngay hôm đó.

Hàng xóm giáp vách nhà tôi có ba cặp vợ chồng ở chung. Một cặp bố mẹ, hai cặp con và hai đứa cháu nội. Nhiều năm nay họ nghiện cãi nhau. Mỗi ngày một đến hai trận. Bảnh mắt ra đã ầm ĩ, không bố mẹ thì các con. Có khi tất cả cùng tham gia. Toàn chuyện không đầu không đuôi. Mỗi trận đấu khẩu kéo dài cả giờ, kèm theo tiếng đập phá. Mẹ con tôi và các nhà ở gần đến khổ. Chẳng ai có ý định can ngăn, vì họ sẵn sàng chửi luôn cả người khác.

Thật lạ, kết quả gần như ngay lập tức. Cả tháng trời, họ chỉ va vấp nhau vài lần thoáng qua. Có lần tưởng bùng nổ to, song chỉ ít phút lại yên. Ông bố giảm bớt những lần say rượu gần bất tỉnh. Hai đứa cháu ít quấy, nên không bị quát nạt, bị đánh như trước. Mọi khi cứ có người ở nhà, họ lại mở đài mở băng hết cỡ, dù không ai nghe. Chỉ hàng xóm là ong hết cả đầu. Từ cuối tháng 11 năm 2000. họ vẫn mở, song chỉ vừa đủ người trong nhà nghe tiếng. Đến nay (19-2-2001), cuộc thử nghiệm đã tròn ba tháng. Chỉ một lần ầm ĩ nhất là cuối ngày mồng một tết ta. Cặp vợ chồng con cãi nhau chí tử vì mấy trăm nghìn đồng tiền mừng tuổi của đứa con. Hôm sau họ lại anh anh em em ngọt xớt.

Kết quả vừa kể và kết quả những năm qua đôi lúc làm tôi thấy mình cũng oai, cũng có vai trò gì đó mà không ít người thèm khát. Tôi thú thật với Thầy.

– Không sao cả – Thầy bảo – Oai vệ một chút, thấy mình cao hơn một chút cũng được. Còn làm việc với mọi người, phải chấp nhận cả những thứ ta không thích, không cần. Kể cả nếu thiên hạ thổi ta lên tận mây xanh!

Thầy trò tôi ngày này qua ngày khác âm thầm thử nghiêm, nhặt nhạnh từng dấu hiệu xác định đúng các bước đi của chương trình.

Có mấy cuộc thử nghiệm nữa, cũng cho thấy kết quả.

Phía trước nhà Thầy, có hai vợ chồng trẻ ở nông thôn ra thuê trọ. Họ có cô con gái khoảng hai tuổi. Đứa bé khóc ề à dai dẳng cả ngày lẫn đêm, kèm tiếng gào không thay đổi: “Mẹ ơi, bê…ê…” . Buổi tối và ban đêm thật khó làm việc, khó ngủ với nó.

Tuy chưa gặp mặt, Thầy tôi cũng biết cháu bé bị một bệnh khá hiểm nghèo, Thầy giúp nó. Tuần đầu con bé khóc thưa dần. Tuần thứ hai trở đi, nó chịu ăn chịu chơi và đã biết cười. Thảng hoặc nó khóc thưa vì lý do gì đó, giọng nó khoẻ, có sinh lực. Mãi một tháng sau, Thầy mới gặp hai mẹ con cháu dắt nhau đi chơi. Bà mẹ trẻ bảo:

– Con khoanh tay chào ông đi.

Đứa bé làm theo. Nhìn cháu Thầy giật mình: mặt nó quắt queo như mặt bà già. Da xanh mướt và khô. Nó chỉ bằng đứa trẻ một tuổi.

Tình cờ nói chuyện với người anh họ lớn tuổi của cháu bé, Thầy mới biết trong dòng họ ngoại của nó đã có vài trường hợp bị bệnh máu trắng hoặc u ác. Bố mẹ Phương Huế – tên bé – ở quê không sống nổi, định gửi con cho bà ngoại, ra thành phố kiếm ăn. Nó không chịu, khóc đến lả người. Đành phải cho đi cùng. Nhưng nó quấy thế, không làm ăn gì được. Vậy mà sau khi bớt khóc, nó đã chịu về quê ở với bà, suốt ngày chạy chơi.

Bố mẹ Phương Huế không hề biết và không bao giờ biết Thầy tôi đã làm gì để giúp cháu. Phía sau nhà Thầy có một gia đình hai con. Họ ít cãi cọ, nhưng khi có ba bốn thành viên ở nhà, lại ầm ầm như chợ vỡ. Đứa em gái sinh sau anh nó sáu bảy năm. Nó luôn vờ khóc khiến thằng anh nhiều lần bị đòn oan rất đau. Không phải là khóc, nó hét đanh đảnh, giọng mỗi lúc một cao vút, lên đến cung bậc nghệ sĩ ô-pê-ra thượng thặng cũng xin thua. Tiếng hét – khóc của nó như mũi dùi xuyên vào tai hàng xóm. Thỉnh thoảng đến nhà Thầy, tôi cũng đượng thưởng thức giọng nữ cao không hề có ấy.

Kết quả gia đình phía sau không nhanh bằng gia đình phía trước .

***

Tôi chỉ kể thêm một việc nữa để nói về cái tạm gọi là CƠ CHẾ TỰ ĐỘNG. Có vẻ nó có thật!

Tết Tân Tỵ này (2001), cụ Nhung về quê nghỉ dài ngày. (Thầy cho nhóm Mắt nghỉ gần một tháng).

Đầu năm cụ sang chúc tết ở làng bên. Cụ gặp người anh họ xa tên là Hoàng Văn Hoan, mù từ ba tháng tuổi, di chứng của bệnh đậu mùa. Năm nay anh Hoan năm mươi nhăm tuổi. Hai anh em trò chuyện, cụ Nhung bảo:

– Có một phương pháp dưỡng sinh giúp người mù tự lo sức khoẻ và nhìn tại. Mấy năm nay em học ở Hà Nội, cùng mấy nhóm người mù khác. Nhiều người hết bệnh và đã nhìn lại chút ít. Anh có học thì em hướng dẫn.

– Anh xin học – Anh Hoan nói.

Buổi đầu tiên cụ Nhung dẫn tập bài Bốn hiệu ứng vật lý. Chỉ đến hiệu ứng thứ hai thì dừng lại. Rồi cụ kiểm tra kết quả. Anh Hoan thấy được màu sắc, kiểu áo khoác, chất liệu vải cụ đang mặc. Áo của cụ trùm kín cả cổ tay. Cụ hỏi:

– Anh thấy tay em có đèo già không?

Anh Hoan nói ngay:

– Hai tay cô đeo vòng đồng hồ.

– Anh xem đồng hồ đeo ở tay nào?

– Tay trái.

– Anh có khẳng định là ở tay trái không?

À, không. Cô đeo đồng hồ tay phải.

Con trai anh Hoan lên mười cũng ngồi xem. Cụ Nhung hỏi cháu:

– Bố cháu nói có đúng không?

Thằng bé lắc đầu.

Cụ vén hai tay áo lên, để lộ cái đồng hồ và chiếc vòng. Thằng bé trố mắt, ngạc nhiên vì bố nó nói đúng.

Anh Hoan nhìn như cung cách của người mù.

Mấy buổi tập sau (cũng chỉ là bốn hiệu ứng vật lý), cụ Nhung hỏi về nhiều thứ, anh Hoan nói lúc đúng lúc sai. Để xác định chắc chắn là anh Hoan đã nhìn lại được, cụ nghĩ ra một cách thử khó. Cụ giơ một bàn tay lên, lúc mở hai ngón, lúc mở bốn ngón, anh đều nói đúng.

– Bây giờ anh bắt chước em nhé. – Cụ Nhung phấn chấn bảo.

– Cô cứ thử đi!

Cụ Nhung đưa tay lên, lúc nắm lúc mở, lên cao xuống thấp và làm một số tư thế khác. Làm chậm. Anh Hoan đưa tay theo, không sai mấy. cụ Nhung còn gặp bé Giang 6 tuổi và cụ Vin ở một xóm khác. Giang mù bẩm sinh. Cả nhà Giang vô cùng ngạc nhiên vì lần đầu cậu bé thấy khá chính xác màu sắc những thứ cụ Nhung đưa ra hỏi, cả hình dáng , kích thước và tên gọi của một số vật dụng. Mấy tháng sau, Giang được nhận vào học ở một Trung tâm nuôi dạy trẻ em mù ở thành phố Hồ Chí Minh. Chú được mang biệt danh Giang-thông-thái vì nhìn được bằng đôi mắt hỏng và biết rất nhiều thứ vượt lứa tuổi.

Cụ Vin không bằng Giang, song cũng thấy thấp thoáng như mấy cụ ở nhóm Cầu Giấy.

Chưa có nhiều trường hợp như anh Hoan và ông Thiệu (Dịch Vong), cụ Vin, bé Giang (Ý Yên – Nam Định). Kết quả cũng chưa được lắp đi lắp lại ổn định. Khẳng định điều gì lúc này cũng là quá sớm.

***

Sau tháng tám, theo thầy, tôi được giao công việc đọc lập: phụ trách nhóm Mắt ở phố Nguyễn Thái Học. Cụ Tưởng làm nhiệm vụ đưa đón tôi đến lớp hàng tuần. Thầy vắng mặt trong nửa năm.

Nhóm Nguyễn Thái Học lúc ấy thường xuyên có hơn mười người, hầu hết là các thương binh đã tập nhiều năm. Thỉnh thoảng mấy bà vợ bị bệnh của các cụ cũng đến lớp tập.

Tôi không tự coi mình là cô giáo, dù các cụ học viên muốn như thế. Đến lớp, có buổi tôi dẫn tập, có buổi tôi phân công luân phiên mấy cụ đã nắm chắc phác đồ cơ bản hướng dẫn mọi người. Công việc có vẻ đâu vẫm ra đấy, như khi Thầy có mặt . Nhưng đó chỉ là bề ngoài.

Hầu như không có cụ nào hướng dẫn đúng bài đã học. Thực ra, họ không cố ý làm sai. Họ chỉ không hiểu được Thầy và thực chất của PHƯƠNG PHÁP. Lẽ thường, ở tất cả mọi công việc, người ta bắt đầu từ việc dễ đến việc khó, từ đơn giản đến phức tạp. Thương pháp dành cho người mù làm ngược hẳn. Sau nhiều năm thực hành trắc nghiệm, các bài tập, cách tập đã lược giản đến mức tối đa, thời gian một đợt, một buổi tập cũng rát ngắn chỉ còn ít phút.

Mọi người trong nhóm chỉ nghiêm chỉnh tập đúng cách khi có mặt Thầy. Ngay khi tôi hướng dẫn, một vài người đã tự ý tập lại những phác đồ Thầy đã bảo phải loại bỏ. Để các cụ dẫn, còn tệ hại hơn. Nhớ được những gì đã từng được học, họ băm trộn, biến báo thành một bài thật dài, đôi khi tới nửa giờ, bốn mươi lăm phút. Chỉ nhắm mắt ngồi nghe cũng ê ẩm cả người. Có nhắc để sửa, họ cãi: “chúng tôi tập toàn những thứ Thầy đã dạy”. Đó là lúc ở lớp, họ còn nể nang cô giáo đôi chút. Ở nhà, ông nọ mách ông kia cách mở rộng, thêm bớt vào mỗi bài tập, say sưa ứng dụng sự tìm tòi hàng ngày. Tệ hơn cả, chính cụ trưởng lớp nghe xui khôn xui dại, tham gia tập chui với một vài thành viên cũ của Chương trình. Họ tập bài hô hấp vận khí hổ lốn, ăn cắp một chút của phương pháp Y-ô-ga, một chút của khí công, một chút của Thiền.

Tôi thật buồn và mệt mỏi và phải làm việc với những người như thế. Họ ham hố, mong sớm tới đích hơn người khác. Thầy đã hoài công nhắc nhở: “Muốn đi đường xa tới đích, phải biết bỏ lại những phương tiện đã giúp ta vượt qua từng chặng. Có ai còn cõng cả con thuyền đã đưa ta qua sông mà đi tiếp?”

Cái giá họ phải trả cho sự ham hố không rẻ. Mấy người hăng hái nhất miệt mài tập những bài không chính thức đều có biến động xấu về bệnh tật. Họ lại quay về với bệnh viện với thuốc men, sau một thời gian dài tự làm chủ sức khoẻ của mình. Cụ trưởng tràng đi lạc đường quá xa. Sau này, cụ xin Thầy cho bổ sung chính thức bài tập hổ lốn vào phương pháp. Bị kiên quyết từ chối, cụ xin từ chức, rời bỏ nhóm.

Làm việc với nhóm thương binh hỏng mắt, tôi càng thấy sự kiên trì của Thầy, tình thương của Thầy với người mù là không có giới hạn. Bị thương tật nặng (có người mất 98% sức khoẻ, được coi là liệt sỹ sống), nhiều năm sống trong bóng tối, mất thăng bằng, họ đòi hỏi mọi ưu tiên, rất dễ nổi khùng, bất chấp phải trái. Không ít thương binh trong nhóm đã thấy lại ánh sáng, nhìn được mặt vợ con, người thân. Có người còn xem được cả truyền hình. Song cũng có một vài người vẫn mù hoàn toàn. Họ ấm ức, tự gọi mình là hội mù tịt. chương trình mở rộng ra Quận hội người mù Cầu Giấy, Hoàn Kiếm. Người mù xã hội sinh sống tản mạn, rất cơ cưc. Thầy phải lặn lội đến dạy từng nhóm nhỏ dăm ba người. Tôi và cụ Nhung, cụ Tưởng vợ thầy đươc phân công đến hướng dẫn các nhóm tập mới. Kết quả rất nhanh ở các lớp học thuộc Cầu Giấy, Hoàn Kiếm được thông báo với nhóm Nguyễn Thái Học. Không phải ai cũng mừng. Nhất là các cụ tự nhận ở hội mù tịt, trong đó có cụ Nhâm. Những buổi đầu đến với Chương trình, Cụ Nhâm hồ hởi nói: “chỉ cần một người trong chúng tôi nhìn lại được là có thể coi như thành công, có thể tuyên bố để thiên hạ biết việc chúng ta dám chống lại cả trời”. Lần lượt là cụ Trần Công Nhuận, rồi đến tôi, cụ Hoàng Văn Bạo, cô Thu Trang cụ Khởi và nhiều người nữa có kết quả, cụ Nhâm không vui, mà buồn. Nghe thông báo về các nhóm mới tập, cụ làu bàu thở dài: “việc ở đâu đâu nhà giời, bố ai đến tận nơi hỏi rõ thực hư ra sao”. Chính từ cụ và một hai người a dua, đã lọt ra những lời thậm thụt thông hay về Thầy. Vẫn theo học đều đều, cụ tung ra nhận xét: “nhìn thấy hay không chẳng biết. Thôi thì cứ tập để lấy cái sức khoẻ”. Không phải không có người gật gù tán thưởng.

Tháng 9 băn 2004, báo Tiền Phong đăng bài viết dài kỳ vể kết quả của Chương trình. Tác giả Phùng Nguyên còn rất trẻ. Anh đã đến tận nhà gặp cụ Bạo, cụ Hạ và Thu Trang. Sau đó, anh lên Côn Sơn cùng ăn ở với nhóm người mù đang tập luyện. Bài báo viết có tiếng vang rộng rãi. Số người mù và người bệnh tìm đến với Chương trình rất đông, kể cả ở một số tỉnh miền Trung, miền Nam. Vậy mà có gia đình ở Yên Bái lần tìm không ra địa chỉ. Một gia đình khác cũng ở Yên Bái cử người lên tận Hà Nội hỏi. Vòng vo mãi, họ đến được nhà ông Nhâm. Ông bảo là có tham gia tập, nhưng không có kết quả. Dù vậy, những người khao khát ánh sáng vẫn kiên trì cuộc kiếm tìm.

Cùng khoảng thời gian vừa kể trên, Thầy tôi bị bệnh nặng. Khối u ác ở bàng quang khiến cụ đi tiểu ra máu tươi kéo dài, nhiều lần bị tắc niệu đạo, rất đau đớn. Không đi bệnh viện, không dùng bất cứ loại thuốc gì, Thầy âm thầm tự chữa cho mình bằng chính phương pháp cụ tìm ra cho người mù. Dù thầy kín tiếng, rồi cũng có người biết. Hơn hai năm sau bệnh Thầy mới lui, sức khoẻ hồi phục dần. Thời gian ấy, khi nào khá hơn đôi chút, Thầy lại đến với người mù, mỗi năm vẫn tổ chức cho mọi người đi Côn Sơn ít nhất một lần. Vậy mà suốt thời gian đó, ở nhóm Nguyễn Thái Học, không ai nghĩ đến việc thăm hỏi Thầy, dù chỉ một lần. Một cú điện thoại cũng không.

Tôi cũng được giao hướng dẫn lớp học dài hạn, mỗi tuần một buổi vào sáng chủ nhật tại nhà. Tôi không có thói quen ghi chép nên không nhớ được có bao nhiêu người học đã đến rồi đi. Nhưng có một trường hợp khá đặc biệt làm tôi nhớ lâu.

Một hôm, giáo sư vi Huyền Trắc mời thầy trò tôi đến chơi. Đúng giờ , Thầy và tôi có mặt. Phòng khách khá rộng của giáo sư chật kín người, phải kê thêm dãy ghế phụ ở lối sang buồng bên. Tôi đi trước, đến thẳng chỗ để hai chiếc ghế trống. Vừa ngồi xuống, tôi lướt qua những người có mặt, theo cách riêng. Nhận ra chú Cao Giang ở nhà xuất bản Thanh Niên, tôi chỉ cho Thầy chỗ chú ngồi, tả gương mặt và chiếc kính cận chú đeo, bộ quần ác chú mặc. thực ra, tôi mới chỉ quen chú qua điện thoại, nhìn chú ở đầu máy bên kia.

Cuối buổi gặp, giáo sư như tình cờ nhờ tôi kiểm tra bệnh cho mấy người đang học khí công ở nhà ông. Được tôi đồng ý, hai bệnh nhân ngồi ở dãy ghế phụ tự giới thiệu tên, không nói đang mắc bệnh gì. Cả hai đều là đại tá quân đội, một đương chức, một đã nghỉ hưu.

Khoảng mười phút sau, tôi nói với đại tá Nghĩa ở Học viện Kỹ thuật Quân đội: “Gan chú đã bị nhiễm chất đọc hoá học đã lâu, thuỳ lớn bị teo và khô. Chú đang mắc thêm bệnh tiểu đường”. Bệnh nhân thứ hai bị xơ gan cổ chướng và loãng dịch mật. Quá ngạc nhiên, giáo sư đề nghị tôi khám thêm cho người thứ ba cô kỹ sư Vân. Tôi đắn đo, hỏi người bệnh có cần biết sự thật không. Bệnh nhân đồng ý. Cô Vân có một khối u ác ở phổi phải; vú bên đó đã bị cắt bỏ.

Cả ba bệnh nhân trên đều đã có bệnh án, sau đó tôi mới biết.

Một tuần sau hai vị đại tá, cô kỹ sư, và một số người khác đến nhà tôi xin học. Chú Cao Giang đến muộn hơn. Chú bị thiểu năng tuần hoàn não, rối loạn tiền đình, huyết áp không ổn định, chỉ một đến hai tháng, mấy người bị bệnh nặng đã có cải thiện rõ rệt. Đến khi xét nghiệm lại với tôi. Rất lạ, thấy bệnh đã ổn định dần, họ im lặng rút khỏi lớp và không một lần liên hệ với tôi. Rất lạ, tôi hay nhớ đến họ, không hề oán trách. Họ rời bỏ giáo sư Vi dễ dàng đến thế thì việc quay lưng lại với một cô gái mù có gì lạ. Mẹ tôi có lần hỏi: “Thầy trò con định làm không công cho thiên hạ đến bao giờ”. Thật khó trả lời. Riêng ở nhà tôi cũng có đến cả trăm người đến học rồi đi. Hơn mười năm qua, số người đến với các lớp dưỡng sinh do Chương trình mở nhiều gấp nhiều lần thế. Rất hiếm lớp học mọi người tự nguyện đóng góp học phí. Cũng hiếm như thế, số người có hoàn cảnh khá giả bỏ tiền ra ủng hộ Chương trình. Kinh tế gia đình Thầy tôi ngày càng eo hẹp. Còn tôi, ao ước có đủ khả năng nộp tiền ăn ở hàng tháng cho mẹ cũng rất xa vời. Thầy tôi chủ trương không thương mại hoá phương pháp. Nhưng Thầy cũng chủ trương chỉ giúp không cho người mù và người nghèo; có thể đàng hoàng nhận tiền của người bệnh khá giả, giàu có để mở rộng Chương trình cho người mù và giúp đỡ những người quá nghèo. Không có sự tự định, đặt giá nào cả. Tất cả dựa vào sự tự giác của mọi người.

Thật buồn là những người có lòng hiếm như sao ban ngày. Bằng ấy năm, chỉ vài người khỏi bệnh hiểm nghèo chi ra dăm ba triệu đồng. Số người ủng hộ không điều kiện đếm trên đầu ngón tay. Nghe nói các thầy khí công, thầy nhân điện kiếm tiền rất dễ; có người còn giàu có. Không hiểu họ làm cách nào.

Tôi đã bước sang tuổi ba mươi vẫn phải ăn bám mẹ. Đó là một trong những điều ấm ức tôi chưa có cách gỡ. Đôi khi tôi mong Thầy đừng quá khắt khe trong việc nhận những đồng tiền xứng đáng với công sức bỏ ra. Chỉ cần lấy ước chừng một nửa hoặc một phần ba phần tư khoản chi phí người bệnh phải bỏ ra nếu điều trị Tây y hoặc Đông y, cả thầy cả trò đều ung dung, không phải lo lắng miếng ăn hàng ngày. Hầu hết những người tìm đến học đều mắc bệnh nan y. Không ít trường hợp bệnh viện đã từ chối điều trị. Nghĩ thì dễ, nói ra thật khó. Tôi gợi ý riêng với Thầy. Thầy cũng lúng túng, lắc đầu: “Đành phải vậy thôi, Tú ạ. Thế nào ta cũng gặp những người biết nghĩ”. Cái người biết nghĩ thầy trò tôi chờ đến nay vẫn chưa thấy đâu…

Cuối cùng thì hai gia đình ở Yên Bái cũng tìm đến được với Chương trình. Ở ngay thị xã có em Phạm Tú Vinh, 17 tuổi, bị mù bẩm sinh. Vinh có anh trai bọ hỏng một mắt do tai nạn, cùng đến xin học. Em Nguyễn Thị Liên ngoài 20 tuổi bị bệnh viện điều trị nhầm thuốc, hỏng cả hai mắt. Họ đến vào dịp có đợt đi Côn Sơn, được đi luôn. Chuyến Côn Sơn này còn có bé Huy 5 tuổi, mù do đẻ non, bà Nguyên bà Tĩnh ở Hà Tây, mắt hỏng đã bốn, năm chục năm.

Côn Sơn tháng 10 năm 2005 khẳng định một lần nữa những kết quả tưởng như tình cờ rải rác trong mấy năm trước. Cả năm người mù đều có kết quả tại chỗ, ở nhiều mức độ khác nhau. Bà Nguyên, Bà Tĩnh, cô Liên đều thấy được ánh sáng, hình vật tuy còn khá mờ. Tú Vinh mấy ngày đầu dường như rất kém, đến gần giữa đợt có thể một mình đi buông khắp các ngõ ngách của khách sạn, tự tìm đến người quen ở các buồng trong những hành lang ngang đọc.

Bé Huy nổi trội hơn cả. Đôi mắt của bé bị khô, teo lép. Trước khi đi Côn Sơn, bố mẹ đưa bé đến nhà tôi xin học. Chỉ ba ngày sau, Huy đã thấp thoáng nhìn thấy. Không thể gọi Huy là học trò được. Từ lúc đến cho tới khi về, nó luôn chân luôn tay luôn mồm. Bắt đầu nhìn thấy thấp thoáng, nó đi như chạy ra ngõ. Dù bố hoặc mẹ nhắc nhở, chưa buổi nào Huy chịu ngồi yên một chỗ lấy vài phút. Sau khi ở Côn Sơn về, tuần nào Huy cũng có người đưa đến “học” ở nhà tôi. Nó tiến bộ hàng ngày. Rất đặc biệt là tuy bị mù bẩm sinh, Huy nhận ra màu sắc khá hơn tất cả những người khác.

Cũng như Vinh, bé Huy được gia đình chiều chuộng quá mức, có thói quen không nghe lời bất cứ ai. Huy có cả một buồng riêng để chật đồ chơi, toàn những thứ đắt tiền của người ngoài. Trí nhớ của Huy khá đặc biệt. Tất cả số điện thoại của những người quen biết bố, me, các khách hàng rất đông, chỉ đọc một lần là Huy nhớ. Lâu dần, Huy trở thành cuốn danh bạ sống cho cả nhà. Bố mẹ mua cho Huy một chiếc điện thoại di động, cho dùng thoải mái. Có tháng cậu bé lên năm chi gần hết một triệu đồng cho gọi điện thoại chơi!

Sau lần đi Côn Sơn về, cả Huy, anh em nhà Vinh và mấy người khác tiếp tục học lớp dài hạn ở nhà tôi. Khoảng nửa năm sau, được thưởng một chiếc ô tô chạy bằng ắc quy, Huy đã có thể tự lái ra ngoài ngõ đông người, đôi khi còn cho cả các anh lớn tuổi lần lượt ngồi lên xe. Vinh gần như không nhúc nhích. Hắn quen sống dựa dẫm, ỷ lại, đến quần áo cá nhân cũng không tự giặt được. Thế mà khi ở Côn Sơn, sểnh ra một chút anh chàng lại tự mò đến chỗ các chị tiếp tân của khách sạn, cầm tay, đặt tay chỗ này chỗ khác để chữa bệnh! Trong khi hắn không được học lấy một buổi nào, không có chút khái niệm nào về bệnh.

Tôi cứ lo mãi về Huy và Vinh. Ngay bố Vinh cũng nhận xét: “cái thằng này mà nhìn được, không biết nó thành thứ gì”. Cũng như tôi đã từng lo cho một vài người mù khác. Khi nhìn được, lại có một số khả năng đặc biệt hiếm, những người chỉ biết nghĩ đến mình, lại đầy ham hố, thèm khát tranh đoạt tiền bạc, danh vọng sẽ ra sao. Liệu họ có sống một cuộc đời bình thường ,lương thiện như mọi người khác.

Gần đây (đầu năm 2006), Vinh có khá hơn, Vinh đang có những chuyển biết rất đáng mừng.

Hồi Thu Trang ở Cầu Giấy vượt lên, tôi rất phấn khởi. Bây giờ lại đến Quang Huy. Bé cũng nhìn được khá thường xuyên như Trang. Nhưng có sự khác nhau: Quang Huy chưa đến tuổi đi học, lại không hề tập luyện một buổi nào.

Xin hãy nhớ lại trường hợp của cháu Giang, ông Hoan, bà Vin ở quê cụ Nhung. Và ông Thiệu ở Cầu Giấy. Đó là những người mù hoàn toàn, cũng không hề tập dưỡng sinh phục hồi chức năng mà thấy lại được ánh sáng. Dự cảm của thầy trò tôi về một CƠ CHẾ TỰ ĐỘNG của Chương trình ÁNH SÁNG CỦA NGƯỜI MÙ có vẻ đúng.

***

Trong năm 2005, tôi gặp khá nhiều người lạ.

Mở đầu là mấy chị biên tập, phát thanh viên đài Truyền hình thủ đô. Đọc báo, các chị tìm đến dưỡng sinh, tìm hiểu Phương pháp. Tiếp đó là một nữ bác sỹ ở bệnh viện Xanh Pon, đi cùng với một bác sỹ người Pháp. Ông người Pháp làm việc ở tổ chức phi chính phủ, sang khảo sát để giúp trang thiết bị y tế cho một bệnh viện ở Hà Nội và mấy tỉnh thành khác. Nghe nói về một phương pháp lạ, ông muốn tìm hiểu và nếu có thể, tham gia trắc nghiệm kết quả. Thầy trò tôi lên lịch, hẹn bác sỹ ở Côn Sơn gần nhất. Lâu, chắc gặp trục trặc gì đó, không thấy ông ta hồi âm.

Riêng buổi gặp mặt, toạ đàm với toà soạn báo khoa học và đời sống, Thầy bảo tôi ở nhà. Cụ Bạo đi cùng Thầy.

Rồi đến nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải. Thấy Đài truyền hình Việt Nam gọi ông như thế, còn ông nghiên cứu gì không được giới thiệu. Qua mấy lần điện thoại, ông đến nhà gặp tôi, thuyết phục tôi đồng ý ghi hình để giới thiệu trong mục chuyện lạ Việt Nam. Ông rất kiên trì. Nhưng tôi kiên quyết từ chối. Tôi không tiện nói thẳng: Công việc thầy trò tôi làm không phải dể biểu diễn mua vui cho những kẻ tò mò.

Tiến sỹ khoa học Phan Đăng Nhật lên tận Côn Sơn tham gia tập luyện. Ông muốn tìm hiểu sâu về Phương pháp. Tiến sỹ đang làm việc ở Trung tâm bảo tồn văn hoá và kỹ thuật truyền thống. Ông cho biết Trung tâm đã có hai ba héc-ta trên đất Thái Nguyên để đặt trụ sở và đã quy tụ được gần một chục ngôi nhà sàn cổ của nhiều dân tộc thiểu số. Là nhà khoa học thực nghiệm, ông rất thận trọng khi tiếp cận với Phương pháp. Trước khi lên Côn Sơn, ông đã làm việc riêng với Thầy tôi. Cuộc trao đổi có ghi âm. Sau đó ít ngày, trong buổi làm việc khác, ông nhận xét với Thầy: “Hình như ông còn điều gì chưa nói hết với tôi”.

Thắc mắc của ông tiến sỹ cũng là thắc mắc của nhiều người.

Đấy cũng là cái khó khi muốn phổ biến rông rãi Phương pháp. Thầy tôi đã mấy lần viết tài liệu ở mức đơn giản nhất về nguyên lý cơ bản, nội dung, các bước tập dưỡng sinh. Nhưng không lần nào cụ ưng ý. Tôi biết Thầy không hề muốn giữ bí mật. Dường như việc làm cho mọi người hiểu đúng Phương pháp là điều không thể. Tiến sỹ Phan Đăng Nhật chỉ ở Côn Sơn với thầy trò tôi có ít ngày. Trước khi về, ông ngỏ ý sẵn sang giúp đỡ Chương trình trong phạm vi khả năng của mình. Trước mắt, thầy trò có thể đưa nhóm lên tập ở Thái Nguyên, đỡ được môt khoản tiền thuê khách sạn. Ông rất kín đáo, không có nhận xét gì về công việc đang tìm hiểu.

Có một ông tìm đến thầy trò tôi với mục đích khá lạ lùng. Ông xin được góp một tay để làm cho người mù nhìn ổn định, nghĩa là sinh hoạt bình thường như người sáng mắt. Mấy lần bị Thầy từ chối, ông đi cửa sau, đến thuyết phục tôi. Ông hứa sẽ nhờ đấng nọ đấng kia làm nốt cái phần thầy trò tôi chưa làm được. Ông còn mời hai thầy trò cùng cộng tác với ông mang lại ánh sáng cho mấy chục người mù ông đang thường xuyên giúp đỡ. Lớp học đó sẽ được đặt tên dưới sự bảo trợ của các tổ chức có uy tín, trong đó có UNICEF ở Việt Nam. Công trình ÁNH SÁNG CỦA NGƯỜI MÙ sẽ được đăng ký chính thức. Tương lai rất sáng sủa. Tôi lễ phép đề nghị ông dùng khả năng đặc biệt làm cho người mù ông quen biết có kết quả thật cao. Thầy trò tôi còn đang mò đường, đành kiên tâm theo đuổi đến cùng công việc đã bắt đầu hơn mười năm.

***

Ông tốt bụng vừa kể trên đã đánh trúng vào ao ước cồn cào bao năm của tôi. Quả bây giờ tôi đã là cô Tú khác hẳn với cô Tú mù hơn mười năm trước. Tôi không còn hoàn toàn mù và có khả năng giúp đỡ nhiều người khác. Mỗi lần nghe tôi lên lớp, hướng dẫn, giảng giải cho học viên, mẹ tôi trầm trồ khen với Thầy: “Con bé thật chững chạc, thông thái, đâu ra đấy”.

Nhưng tôi vẫn chưa có kết quả cuối cùng.

Nó ở đâu, cái kết quả ấy?

Tôi biết, công việc thầy trò tôi theo đuổi, dù có mất vài chục năm, cả đời người hay vài thế hệ mà có kết quả mong muốn, cũng chưa phải là quá dài. Song hàng ngày phải đối mặt với những lúc còn tăm tối, va quệt, quờ quạng, sống theo trì trệ của người mù làm tôi đau đớn. Sự đau đớn cả thể chất, cả tinh thần rình rập, trở đi trở lại. Tôi vẫn phải quằn quại vượt qua mình mỗi ngày, mỗi giờ.

Cuối cùng rồi tôi cũng tìm được lối thoát: Phải biết chờ đợi. Tôi đã không mất hy vọng tìm lại ánh sang, giờ tôi đã có nó. Tôi biết chờ đợi trong công việc, trở thành người có nhiều để cho, tôi sẽ có kết quả mong muốn.

Bạn có chia sẻ niềm tin ấy với tôi không?

Bạn có chia sẻ rằng tôi còn là người mù?

Làng Láng
Tháng 5 / 2001 — tháng 2 / 2006
Nguyễn Thanh Tú
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 7 Tháng 9 05, 2015 7:55 pm

Phương pháp tập luyện ngày nay đã được sửa đổi rất đơn giản so với 10 năm trước, vậy xin Cô Tú viết cách hướng dẫn tập luyện thành phương pháp phổ biến trên mạng cho những người mù ở nước ngoài không có phương tiện về VN để học, biết đâu họ nhờ phương pháp đã qua kinh nghiệm của cô mà thành công, thì cũng là kết qủa từ công lao của Thầy và nhóm Ánh Sáng Cho Người Mù ở VN khởi xướng.
Nếu có video hướng dẫn nhóm người đang tập, trong thời gian hướng dẫn 4 bài, để phổ biến toàn thế giới thì các người mù trên thế giới được nhìn thấy ánh sáng thì công đức vô lượng.
Các địa điểm tập ở Hà Nội, hy vọng Thầy Vương Văn Liêu đến giúp đỡ về phần hướng dẫn tự chữa bệnh theo KCYĐ, và thầy có thể thực hiện quay video 4 buổi học. Chúng tôi sẽ gửi tiền về cho Thầy Liêu trả chi phí quay 4 video .

Thân
doducngoc
admin
Site Admin
 
Bài viết: 6644
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi admin » Chủ nhật Tháng 9 06, 2015 8:37 am

Thầy kính mến.
Em rất cảm động đọc bài này. Đây là một nghĩa lớn của Thầy trò cô Tú, cũng như Thầy có tấm lòng BỒ TÁT, thương yêu con người, muốn truyền hết cho mọi người, không bao giờ Thầy ham danh vọng.
Em chưa biết địa chỉ của cô Tú cũng như nhóm này.
Còn nếu biết được địa chỉ của nhóm và quay được video ( nếu được phép), em cũng có thể ủng hộ được kinh phí.
Em luôn ghi nhớ công ơn to lớn của Thầy, chẳng biết lấy gì báo đáp.
Môn KCY Đ của Thầy ngày càng được nhiều người quan tâm không chỉ là người dân mà còn nhiều người có chức, vị cao.
Người dân Việt Nam đang dần được hưởng lợi lạc từ KCY Đ.
Học trò
Vương Văn Liêu
admin
Site Admin
 
Bài viết: 6644
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 9 10, 2015 10:49 am

TỨC GIẬN VÀ CHỊU ĐỰNG
Khi ta chưa thấu hiểu cơn giận, dù có điều khiển được nó thì cũng chỉ là giải pháp tạm thời mà thôi.


Cơn giận từ đâu tới....
Mỗi khi nổi giận ta thường cho rằng chính người kia là thủ phạm đã làm cho ta giận, như thể cơn giận đang ở trong ta là do họ đem tới vậy. Vì thế ta luôn tìm mọi cách để trả đũa, dù ít nhất là một câu nói hay một hành động khiến người kia phải đau điếng hay tức giận thì ta mới hả dạ. Ta cho rằng mình phải làm như thế thì mới mạnh mẽ, để họ không còn dám chọc giận mình nữa. Sự thật là càng trả đũa thì cơn giận càng lớn mạnh và khiến ta càng đuối sức. Vì khi giận năng lượng trong ta bị đốt sạch, cơ thể liên tục phóng thích ra các chất kích thích adrenaline và cortisol gây rối loạn chu trình sinh học của cơ thể, nhất là nhịp tim và hơi thở tăng dồn dập. Ta sẽ rơi vào tình trạng "hôn mê tạm thời", nhìn mọi thứ đều sai lệch, suy nghĩ không sáng suốt và không kiểm soát nổi mọi hành vi của mình.

Nếu thế hệ trước, gần nhất là cha mẹ, có mang tính nóng giận thì ra khó thoát khỏi sự trao truyền từ nhiễm sắc thể (DNA). Ta còn chịu sự "tưới tẩm" từ cách nói năng và hành động hằng ngày của họ. Môi trường lớn lên và làm việc cũng đóng góp đáng kể cho tính cách nóng giận hình thành trong ta. Sự nuông chiều và nể trọng cũng rất dễ khiến ta có thói quen muốn gì được nấy hay muốn chứng tỏ quyền lực trước mọi người, vì thế chỉ cần có chút vấn đề không là ta lập tức nổi giận ngay. Ngoài ra, ta còn bị ảnh hưởng sâu nặng bởi tâm thức xã hội, nên ta luôn cho rằng nổi giận là bản năng tự vệ của con người, nhờ nó mà người khác mới không dám uy hiếp mình. Ta còn xem đó cũng là cách giải tỏa cảm xúc để ta lấy lại sự cân bằng mỗi khi gặp điều phiền toái. Nhưng thực chất là ta đã thất bại. Ta chưa thuần phục được bản tính hơn thua cố hữu, không biết cách giãi bày sự không hài lòng một cách hiểu biết hơn và đang làm cho tình trạng càng tồi tệ hơn.


Chuyển hóa cơn giận
Sau mỗi cơn giận, ta thường cảm thấy hối tiếc và ray rứt vì những phản ứng dại dột và thấp kém của mình. Ta biết mỗi lần tức giận là mỗi lần ta đánh mất hình tượng đẹp và làm suy giảm niềm tin yêu trong mắt người khác, nên lòng cứ dặn lòng sẽ không để cho cơn giận thao túng mình thêm lần nào nữa. Thế nhưng khi gặp chuyện trái nghịch, nhất là tổn hại đến quyền lợi hay danh dự, là cơn giận cứ không hẹn mà đến. Ngay lúc ấy dù được người khác nhắc nhở ta cũng gạt ngang, lý trí cũng phải đứng lặng chào thua cảm xúc. Từ thất bại này đến thất bại khác, ta dần trở nên căm ghét cơn giận của mình. Rồi có khi ta quay sang trách giận cha mẹ trao chi cái tính làm khổ mình khổ người như thế.

Thật ra, nếu hạt giống giận trong ta không được nuôi dưỡng thường xuyên thì nó không đủ sức làm cho ta khổ. Ta đã vô tình tạo ra nó từ những điều bất như ý nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày mà ta không hay biết như: kẹt xe, xếp hàng mua đồ, gọi điện người thân không nhấc máy, thức ăn không vừa miệng, người kia quên chào hỏi... đến những phiền toái do chính mình gây ra như: mở nhầm chìa khóa, uống nước bị bỏng miệng, trượt chân ở cầu thang, tìm mãi không ra quyển sách, hồi tưởng về quá khứ đau buồn... Nếu ta không quan sát và hóa giải bớt những phản ứng chống đối một cách âm ỉ từ những việc như thế, thì cơn giận chắc chắn sẽ hình thành như một quy luật tự nhiên. Khi nguồn năng lượng giận gần như được mạc định trong tâm thức, chỉ cần một hành động không dễ thương hay một hoàn cảnh trái ý nho nhỏ cũng đủ khiến cho nó bị kích động. Nó sẽ nhanh chóng biến thành con giận dữ dội mà chính ta cũng rất bất ngờ. Khi phát hiện ra cơn giận đang nổi lên và sắp sửa "bung" ra thành lời nói hay hành động, ta hãy mau chóng tìm cách tách ly ra khỏi đối tượng vừa mới tác động vào cơn giận của mình. Lý tưởng nhất là ngồi trong căn phòng yên tính, hay dạo bước trên con đường râm mát. Trong trường hợp không thể thể tách rời khỏi hoàn cảnh thì ta hãy ngồi yên đó, cố gắng đừng mở lời nói thêm một câu hay một từ nào, dù ta cho đó là lời giải thích thỏa đáng. Mọi hành vì xảy ra trong cảm xúc giận hờn đều sẽ khiến ta hối tiếc sau này. Ta hãy cố quên đối tượng kia đã làm hay đã nói điều gì với ta, mà chỉ chỉ đem hết tâm ý tập trung vào hơi thở để làm lắng dịu cơn bão cảm xúc. Nếu ta đã có sẵn kỹ năng theo dõi hơi thở để định tâm thì chỉ 15 phút sau là ta sẽ vượt khỏi. Cũng như khi căn nhà của ta bất ngờ bị cháy thì ta chỉ cần lo chữa cháy để cứu lấy những tài sản quý báu bên trong, chứ đừng vội vã truy cứu hay trừng phạt kẻ mà ta đã tình nghi đã đốt nhà. Chuyện đó "hạ hồi phân giải".
Hơi thở là điểm tựa rất an toàn mỗi khi ta bị những cơn bão cảm xúc tấn công mà ta không biết phải làm sao. Tuy nhiên, nếu cứ sử dụng mãi cách này thì ta sẽ không bao giờ hiểu rõ bản chất cơn giận của mình. Không hiểu rõ cơn giận thì muôn đời ta cũng không thể chuyển hóa được nó, sẽ mãi bị nó phiền nhiễu. Cho nên, sau khi luyện tập được thói quen nhìn lại bản thân mình mỗi khi nổi giận, thay vì tìm cách trả đũa, ta hãy dành nhiều thời gian để quan sát cơn giận của mình. Hãy chú tâm quan sát tiến trình từ khi cơn giận biểu hiện lên bề mặt ý thức, thôi thúc ra hành động, đến khi nó tan biến. Khi có kinh nghiệm, ta sẽ phát hiện ra cơn giận vốn không có thật. Nó chỉ là nguồn năng lượng được sinh ra từ vài sai sót trong sự vận hành của guồng máy tâm thức như: nhận thức sai lầm, trí tưởng tượng phóng đại, cảm xúc nhạy bén, các giác quan không được phòng hộ cẩn thận. Nên chỉ cần duy trì khả năng quan sát tiến trình ấy lâu bền, bằng thái độ không thành kiến, từ từ ta sẽ thấy rõ những gì đã tạo nên cơn giận và dễ dàng chuyển hóa nó.
Tuy nhiên, lỗi thường mác phải là ta mong muốn mình sẽ hết nóng giận ngay khi bắt đầu luyện tập. Một thói quen được hình thành trong thời gian quá dài thì không thể thay đổi trong một sớm một chiều được. Tiến trình quan sát cơn giận có thể đem tới cho ta những khó chịu bất ngờ trong giai đoạn đầu, nhưng dần dà ta sẽ quen và còn cảm thấy rất thú vị như đang xem một bộ phim hành động. Ta cứ ngồi đó quan sát cơn giận của mình nổi lên một cách tự nhiên, nhưng khác với mọi lần là ta có quan sát. Lẽ dĩ nhiên, cơn giận vẫn cứ xảy ra theo tốc độ riêng của nó và ta không có ý đuổi theo để dập tắt. Ta chỉ quan sát để thấu hiểu cơ chế hoạt động của nó như thế nào thôi. Mỗi lần quan sát sẽ cho ta một cái thấy mới mẻ về bản chất vô thường của cơn giận. Nhận thức sai lầm trong ta từ đó sẽ rơi rụng. Ta cần kiên nhẫn luyện tập để điều chỉnh lại cơ chế hoạt động của tâm thức, chứ không phải muốn trấn áp hay điều khiển cơn giận. Khi ta chưa thấu hiểu con giận, dù có điều khiển được nó thì cũng chỉ là giải pháp tạm thời mà thôi.
Có thương đừng giận
Ta cũng đừng vội thỏa mãn với kết quả thực tập ban đầu, dù ta không còn gì để giận như trước nữa. Thậm chí, ta có thể mỉm cười thật tươi để nghe lời quở trách của sếp hay hành động bất cẩn của một bạn đồng nghiệp. Hãy đợi đấy! Khi về đến nhà, nếu bất ngờ ta bị người thương nghi ngờ hay phán xét một cách vô căn cớ, thì cơn giận năm xưa có thể sẽ quay trở về ngay lập tức. Thế nhưng, ta lại hay biện minh rằng "có thương mới giận". Ta nghĩ đối với người dưng nước lã thì như thế nào, ta cũng mặc kệ, ta chẳng quan tâm vì họ chẳng liên quan gì đến ta. Đằng này, một người sống với ta chừng ấy năm trời, lúc nào cũng tin yêu và sẵn sàng cho họ tất cả, mà họ lại đối xử với ta như thế thì đó là sự xúc phạm rất nặng nề. Nhưng sự thật là ta đang tức tối trước những "đòn tấn công" mà ta không hề có ý thức phòng thủ. Vì ta cho rằng khi ta đã hết lòng với ai thì người đó không được quyền làm cho ta tổn thương.
Đòi hỏi một người đừng bao giờ có những lầm lỡ với ta, chỉ vì ta đã từng nâng đỡ hay hiến tặng cho họ quá nhiều thứ thì đúng là một ảo tưởng. Thử đổi lại vị trí ấy xem ta có làm như thế được không? Đời sống ngày càng nhiều áp lực, chỉ mỗi khó khăn kinh tế thôi cũng đủ khiến người khác mất hồn mất vía rồi, nên việc bỏ bê bản thân và hành động sai sót cũng rất đỗi thường tình. Nếu ta là người có hiểu biết và đang bình ổn thì hãy giúp họ tươi tỉnh lại, để họ nhận diện ra chính mình và sự mầu nhiệm của cuộc sống đang hiện hữu.
Chứ lẽ nào ta lại muốn quẳng tiếp vào họ cơn thịnh nộ nảy lửa để thiêu đốt họ thêm? Trừ phi không tự chủ được mình, chứ ta đừng bao giờ cố gắng giả bộ nổi giận để mong bên kia thức tỉnh và hành động đúng đắn trở lại. Không ai thích đón nhận những cảm giác nặng nề và khó chịu cả. Dù biết mình có lỗi và không thể phản kháng ra mặt, nhưng họ sẽ rất mệt mỏi và bất mãn ta. Không cẩn thận thì cách đó có khi bị hiểu lầm là thái độ trừng phạt không thương tiếc, nên họ sẽ nuôi hận trong lòng và sẽ làm cho tình trạng tồi tệ hơn.
Nên nhớ, phiền não vốn rất tinh tế. Nếu không có một kỹ năng quan sát thật tốt thì ta khó mà phát hiện hết sự vận hành của nó. Để rồi một ngày nào đó ta không thể ngờ cơn giận cuồng điên bỗng từ đâu tràn ra như thác lũ. Cũng do ta thường quá chủ quan tưởng mình không còn giận hờn nữa, hoặc nghĩ rằng mình chỉ giả bộ để ra uy, hay cố gắng trình diễn để lấy lòng kẻ khác, mà ta không thấy những đợt sóng tức giận đang ngấm ngầm bên trong. Mỗi ngày một chút, năng lượng giận hòn kết tinh thành một khối rất lớn mà người ta thường gọi đó là nội kết. Khối nội kết này gần như chi phối mọi hành vi của ta. Lúc nào nó cũng khiến ta cau có hay gây sự với đối tượng ấy, mặc dù họ chẳng làm gì ta cả. Hóa ra, ta đã không hiểu hết cái tâm cố chấp và chưa đủ độ lượng của mình, dù trong ý chí ta cho rằng những chuyện ấy không đáng chi cả. Thế mới biết, thấu hiểu hết những ngõ ngách sâu kín trong tâm còn quan trọng hơn là dập tắt được một cơn giận.
Cho nên, khi nào ta vẫn còn quá quan trọng và luôn tìm cách nâng niu cái tôi của mình thì cơn giận sẽ vẫn còn. Trong khi đó, tình thương chính là "khắc tinh" của cơn giận.
Cơn giận cũng vô thường
Nắng bừng vỡ màn sương
Mời lên tâm tỉnh thức
Càng nhìn lại càng thương
Chịu đựng
Nhẫn nhục không phải là thái độ hèn nhát, mà đó là sự thực tập mở rộng dung lượng trái tim để chứa đựng được những khó khăn lớn.
Chấp nhận để đi tới
Khi nghe bác sĩ báo tin đã bị ung thư, thông thường ta sẽ hốt hoảng và gào khóc kên: "Ồ không, không thể nào như thế được. Tôi có làm gì đâu mà phải bị ung thư. Tại sao không phải là ai khác mà lại là tôi". Ta còn tưởng là mình không thể sống nổi khi nhận được hung tin ấy. Nhưng rồi chừng vài tuần hay vài tháng sau, ta cũng học cách chấp nhận được sự thật mình đã bị ung thư. Dù phải cần có những phương thuốc thích hợp để chữa trị lâu dài nhưng tế bào ung thư đã chậm phát tán, vì ta đã tạo được năng lượng hòa thuận với chúng mà không ra sức kháng cự hay ghét bỏ nữa. Theo y khoa, tiến trình trị liệu đã bắt đầu xảy ra. Chấp nhận mình có bệnh là can đảm nhìn vào những khó khăn của cơ thể mình trong thực tại để kịp thời cứu giúp, chứ không phải là thái độ bỏ cuộc. Cũng vì chạy theo những tham vọng hay vì ý thức chủ quan mà ta đã để cho cơ thể mình xuống cấp trầm trọng. Đến khi nó không còn đủ sức để phục vụ cho ta nữa thì ta lại bực tức, trách móc và căm ghét nó. Đó là thái độ thiếu hiểu biết và thiếu tình thương với chính mình.
Có nhiều người tỏ ra rất tự tin khi tuyên bố: "Tôi không bao giờ chấp nhận thất bại". Đó là lời tuyên bố rất ngây thơ, vì không ai mà không từng thất bại dù họ đang rất thành công. Nên nhớ, những điều kiện đưa tới sự thành công có khi nằm ngoài tầm tay, ta không thể cưỡng ép nó đến với ta khi ta chưa tìm ra sự liên kết đúng đắn. Tất nhiên, cảm giác thất bại rất khó chịu. Ta vừa mất mát những gì mà mình hết lòng đầu tư, vừa tỏ ra bình thản trước mọi người. Nhưng tất cả sức ép đó đều do chính ta tạo ra. Nếu ta biết nhìn đúng đắn và khoáng đạt hơn về vị trí của mình và bản chất của đời sống thì chắc chắn ta sẽ bớt ép uổng mình phải như thế này hay thế kia. Như khi ta phạm lỗi, dù đã được người ấy tha thứ, nhưng ta lại không chấp nhận bản thân mình. Ta không thể nào tin nổi một người có hiểu biết vững chãi như ta mà lại vướng vào lỗi lầm không đáng ấy, nên ta căm ghét và muốn trừng phạt nó. Cũng bởi vì ta áp đặt mình phải luôn hoàn hảo, trong khi bản thân còn rất nhiều chỗ yếu kém cần được ta nhìn nhận và chăm sóc. Chấp nhận yếu kém là trung thực với chính mình, là vượt qua được những thói quen đặt để hay sự đối phó không cần thiết.

Khi ta đã luyện tập được thói quen chấp nhận những yếu kém của chính mình, chấp nhận được những điều không như ý xảy ra theo nguyên tắc nhân quả và duyên sinh của cuộc sống, thì ta cũng sẽ dễ dàng chấp nhận những vụng về và lầm lỡ của kẻ khác. Nhìn lại, ta thấy phần lớn lý do không chấp nhận của ta chỉ vì ta thấy người kia không còn gì hay ho để cho ta hưởng thụ, hoặc ta không muốn sự xấu xa của họ làm ảnh hưởng đến danh dự của mình. Chứ không phải vì ta muốn giúp họ cố gắng để tiến bộ hơn như ta giải thích. Nếu ta thật lòng vì cuộc đời họ thì sự chấp nhận kia không phải là thái độ dung dưỡng cho thói hư tật xấu. Trái lại, nó còn giúp họ có thêm niềm tin và nghị lực để vượt qua bản thân. Vì họ thấy mình vẫn còn giá trị trong mắt người thương và họ còn tin tưởng tình thương chân thật luôn vượt ra khỏi sự sòng phẳng. Nên dù ta có chấp nhận hay không chấp nhận thì sự thật vẫn cứ diễn ra theo tiến trình của nó. Nếu chọn lựa thái độ chấp nhận, không tiếp tục tránh né hay chống đối nữa, tức là ta đã bắt tay vào tiến trình tìm hiểu sự thật và tháo gỡ. Vấn đề dù vẫn còn đó, nhưng ta không còn thấy nặng nề và khó chịu nữa. Ta sẽ đủ kiên nhẫn tìm thêm điều kiện thích hợp để giúp nó được chuyển hóa.
Khả năng chịu đựng
Tùy vào nhận thức của mỗi người và thói quen luyện tập mà khả năng chấp nhận rất khác nhau. Có những vấn đề người khác chấp nhận một cách bình thường nhưng ta lại phản kháng kịch liệt, và ngược lại. Ngay cả chính ta cũng liên tục thay đổi mức độ chấp nhận. Có những điều tưởng chừng ta không bao giờ chấp nhận, nhưng bây giờ ta lại thấy cũng được; và có những điều ta đã từng chấp nhận một cách rất dễ dàng, nhưng sau này ta lại than chịu hết nổi. Khi chấp nhận được ta thường cho rằng tại đối tượng kia dễ thương; còn khi không chấp nhận được thì ta lại đổ thừa tại họ tăng thêm mức khó chịu. Chứ ta không hề nghĩ rằng chính cơ chế tâm thức của ta đã không còn giữ nguyên trạng thái ban đầu. Có thể nhận thức của ta đúng đắn hay lệch lạc hơn, trí tưởng tượng tạm dừng hoạt động hay phóng đại hơn, cảm xúc suy yếu hay mãnh liệt hơn, và những phiền não trong ta đã tan biến hay phát triển hơn. Vì vậy, ta đừng quá tin vào sự chấp nhận hay không chấp nhận hôm nay của mình. Dù ta đang rất ổn khi thực hiện một quyết định, nhưng với thời gian thì chính ta và đối phương cũng sẽ có những chuyển biến rất bất ngờ.
Ta nên biết rằng trái tim ta luôn có khả năng chứa đựng. Trong kinh Anguttara Nikaya, đức Phật từng đưa ra hình ảnh về sự chứa đựng rất hay. Giả sử có một người lấy một vốc muối bỏ vào trong tô nước thì tô nước ấy sẽ rất mặn, đến mức không thể uống được. Nhưng nếu họ cho vốc muối ấy xuống dòng sông, dù cho cả chục ký muối, thì nước của dòng sông vẫn uống được như thường. Nước của dòng sông uống được không phải vì nó không có chứa muối. Mà vị lượng nước quá mênh mông nên với số muối ấy thì chẳng có nghĩa lý gì cả. Ai mà không có những nỗi khổ niềm đau hay khó khăn, nhưng vấn đề là trái tim mỗi người có đủ lớn để chứa đựng nó hay không. Nếu trái tim ta nhỏ mà khó khăn bên ngoài quá lớn thì tất nhiên ta sẽ không thể nào chứa đựng nổi. Một người cha quyết định từ bỏ đứa con hư hỏng vì sợ nó làm ảnh hưởng những đứa con còn lại thì không hẳn đó là một quyết định sai. Nhưng thực chất ông đã thất bại. Tình thương của người cha vốn bao la như dòng sông thì tại sao không chịu nổi nắm muốn bé nhỏ của con? Một trái tim thật sự rộng lớn thì đâu cần đòi hỏi gì thêm nơi đối tượng đang quá yếu ớt.

Ta thường hiểu lầm chữ nhẫn nhục có ý nghĩa là đè nén hay cắn răng chấp nhận. Trong khi ý nghĩa của nó rất hay và rất gần gũi: chịu đựng. Chịu có nghĩa là đồng ý chấp nhận; đựng có nghĩa là cái khả năng dung chứa. Chấp nhận mà không có khả năng dung chứa thì cũng như không. Dòng sông vì có cái dung lượng lớn hơn cái tô gấp chục ngàn lần, nên nó mới chứa đựng được nhiều muối. Thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nói: "Có dung kẻ dưới mới là lượng trên". Người có khả năng dung chức được kẻ khác, dù kẻ ấy có như thế nào cũng không bao giờ ghét bỏ hay loại trừ thì đó mới đích thực là người lớn, người bề trên. Cho nên, nhẫn nhục không phải là thái độ hèn nhát, mà đó là sự thực tập mở rộng dung lượng trái tim để chứa đựng được những khó khăn lớn. Ta không thể nói tội tình gì mình phải nhẫn nhục. Cuộc đòi không phải lúc nào cũng thuận lợi theo ý ta đâu. Nếu ta không chuẩn bị sẵn sàng một dung lượng trái tim khá lớn, thì sẽ có lúc ta phải gục ngã trước hoàn cảnh hay đánh mất người thương vì khả năng chấp nhận quá yếu kém của mình.
Điều tuyệt diệu là trái tim ta có thể mở rộng tới mức vô cùng - vô lượng tâm - không có biên giới. Tâm ta có thể ôm trọn trời đất này và cả vũ trụ, nếu nó phá vỡ được ranh giới của cái tôi bé nhỏ. Nhưng chẳng cần phải đi hết cả thế gian này để trải lòng ra như biển như đất thì ta mới có thể ôm hết muôn loài. Chỉ cần có thể chấp nhận bất cứ một đối tượng nào đó, thấy họ chính là một phần thân trong bản thể vô ngã của mình, thì ta sẽ không thấy mình đang cố gắng chấp nhận gì cả. Chấp nhận mà như không chấp nhận. Có khả năng chấp nhận một cách tự nhiên như thế thì ta sẽ chấp nhận được tất cả mọi đối tượng. Đạt đến trình độ này là ta đã tìm thấy được con người chân thật vĩ đại của mình. Mọi vô thường biến hoại trên cuộc đời sẽ không còn đủ sức uy hiếp ta được nữa.

Nắm muối không hề mặn
Với lượng cả dòng sông
Lỗi lầm kia bé nhỏ
Với cõi lòng mênh mông.

(Hiểu về trái tim - Minh Niệm)
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 10 04, 2015 9:53 am

Anh latuan thân!

Anh có nói rằng ở trạng thái không thân thì thần thức con người sẽ di chuyển qua lại giữa 4 nẻo vô hình gồm nẻo Trời, Atula, Ngạ Quỷ, Địa ngục và 4 nẻo này do ý mà thành hình. Nhưng em nghĩ mỗi người khi sống sẽ có tánh ý khác nhau và nếu 1 người sống không hề có khái niệm về 4 nẻo trên thì khi chết đi thần thức của họ sẽ thế nào hả anh?
Ví như 1 người tin sâu vào thuyết duy vật, khi lâm chung họ rất bình thản, không có ý níu kéo sự sống và họ cho rằng chết là hết, vậy thần thức người này có chết hẳn không ạ?
Những người khi sống họ luôn mơ tưởng về 1 thế giới cực lạc sau khi chết, họ luôn cố gắng trì kinh, làm thiện, với niềm tin mạnh mẽ như vậy phải chăng thần thức sẽ về với cõi giới cực lạc và cõi giới này là do kinh nghiệm tích lũy từ khi còn sống (có thể từ kinh sách, truyền miệng,...). Những thần thức với tâm ý mơ tưởng giống nhau như vậy liệu có gặp được nhau không ạnh?
A.Q mến!
Những câu hỏi của em khá thú vị, hay và anh sẽ lần lượt trả lời ổn thỏa những vấn đề em đã đặt ra.
Đúng vậy khi con người chết đi thì thần thức sẽ rời khỏi thân xác và quẩn quanh nơi cõi vô hình. Và chính tâm ý của thần thức sẽ dựng lập nên các nẻo vô hình khác nhau chứ không hẳn là 4 nẻo - Trời, Atula, Ngạ quỷ (quỷ đói) và địa ngục (theo giáo lý đạo Phật gốc). Bởi lẽ qua một thời gian giáo lý đạo Phật rộng truyền vào nhân loại đạo Phật đã bị tiêm nhiễm giáo lý các tôn giáo khác cũng như những quan niệm dân gian ở các vùng miền khác nhau cùng với sự tùy thuận thì Phật giáo đại thừa đã bày vẽ ra Thập Pháp Giới gồm 4 nẻo vô hình đã kể trên cùng 2 nẻo hữu hình - người, súc sinh còn có thêm 4 nẻo vô hình bổ sung là Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ tát và Phật. Chính Phật giáo đại thừa gốc Trung Hoa đã vẽ rắn thêm chân những mong tạo ra Thần long nào hay đã tạo ra một thứ “quái thai, dị dạng” nơi đạo Phật, Phật giáo Trung Hoa đã tạo dựng nên 4 nẻo vô hình còn lại, đây là việc làm gây tối mắt người hậu học và làm rối loạn thêm thế giới tâm linh vô hình. Hiển nhiên đây chính là sự sai lầm của giới Tăng lữ trong Tam bảo, những người tạo ra sự tối tăm nơi giáo lý đạo giác ngộ phần nhiều là những kẻ không có sự thực chứng pháp vô sinh. Từ sai lầm trên giáo lý của đạo Phật mất dần giá trị đúng mực, sáng rõ.
Tiếp theo các tôn giáo biến thể đạo Phật như Cao Đài, Hòa Hảo, Lão giáo… còn vẽ vời thêm 18 tầng địa ngục cùng những chuyện luân hồi, tái sinh mang đậm chất mê tâm, loạn trí. Kết quả là khi con người không đủ đầy sự hiểu biết và tín tâm giáo lý các tôn giáo mê tâm thì họ bị dính mắc, cột trói vào những điều vọng tưởng ấy dẫn đến lối đi ở hậu kiếp thật rối càng thêm rối.
Có một điều quan trọng em cần rõ biết là khi Phật Thích Ca đạt sự giác ngộ hoàn toàn rõ biết quy luật sinh tử và cách thức thoát ra khỏi luân hồi cùng 8 sự khổ nơi nhân loại thì Phật không hề vẽ vời ra 3 cõi, 6 đường. Lúc bấy giờ, giáo lý các tôn giáo hiện có đã phân định các cõi giới khá rườm rà, rối rắm và Phật Thích Ca đã hệ thống lại ở mức tối giản, đúng mực nhất có thể. Phật làm việc này không nhằm lợi ích cá nhân mà vì muốn cho loài người dễ dàng nắm bắt hơn quy luật vận hành sự sống giữa hai thế giới hữu hình và vô hình.
Kỳ thực là do bởi người đời lúc bấy giờ đã có sự tin nhận về nẻo Trời, Atula, Ngạ quỷ, Địa ngục, ở mỗi tín đồ, giáo chủ tôn giáo riêng biệt có sự dính mắc, cột trói tư tưởng khác nhau nên nhất thời Phật Thích Ca không thể xóa bỏ triệt để hoàn toàn những nẻo giới đó. Chính vì vậy Phật đã hệ thống lại nhằm giúp người đời dễ dàng nhận thức về thế giới tâm linh vô hình và là trợ pháp để Phật truyền trao đạo lý giác ngộ giải thoát nhằm giúp những người chán ngán sinh tử, khổ đau có lối thoát ra khỏi quy luật luân hồi nhân quả. Đấy chỉ là sự tùy thuận của Phật Thích Ca khi con người còn mê mờ bản tâm, chưa sáng rõ chánh pháp.
Thật ra khi rơi vào trạng thái vô hình thì tâm ý thần thức làm chủ và các cõi giới sẽ rất đa dạng, phong phú tùy thuộc nhiều vào tâm tưởng của người mất mà ra cảnh. Thế nên khi con người dính mắc càng nhiều khái niệm về các cõi giới vô hình thì càng rối trí, mê tâm tạo cảnh không dừng. Tùy thuộc vào độ tín tâm, định lực khi sống mà nẻo giới vô hình (giả hình) đó tồn tại lâu hay mau mà thôi nhưng dẫu thế nào đi chăng nữa thì cũng sẽ không có sự vĩnh viễn, khi chán chê hoặc nhớ nghĩ những điều mê đắm, tham cầu lúc còn sống thì thần thức sẽ qua lại nơi các nẻo vô hình khác nhau. Em hãy chú ý các nẻo giới vô hình hoàn toàn do tâm ý họ tạo ra chứ không có ai sai xử, trừng phạt cả. Và trong số rất nhiều những tâm ý vọng tưởng móng cầu thì tùy duyên mà thần thức vô hình đó sẽ tìm lấy một thân xác hữu hình có thể là loài người hoặc loài vật.
Vấn đề này lệ thuộc vào duyên và tâm tham đắm hoặc yêu thích cùng với hành vi thiện ác ở những kiếp sống trước mà có quả báo xấu hay tốt.
Nghe chừng có vẻ hơi phức tạp, khó hiểu. Thôi thì thế này vậy. Tạm thời em “gác bỏ” sự hiểu biết mà em đang có qua một bên hay nói cách khác là quên đi những kiến chấp em từng góp nhặt được, những kiến thức mà em đang đinh ninh rằng là rất đúng. Ví như kiến chấp “Chết là hết” đấy, bỏ đi. Và em cũng bỏ qua sự tự phụ về thông minh, sáng suốt của em (nếu có) thì vấn đề sẽ trở nên rất dễ hiểu, sáng rõ và sẽ không có lỗ hổng kiến thức nơi tri kiến nhân loại. Em hãy yên tâm anh không lấy mất sự hiểu biết của em mà chỉ là động thái nhằm bổ khuyết nơi lỗ hổng tri thức mà em chưa tường tận mà thôi.
Rồi. Em tạm tin rằng con người chết rồi sẽ được luân hồi, tái sinh lại. Và để đơn giản anh chỉ xét đến những người có hành vi sống tốt, thiện lương, ít móng cầu tham đắm thì vấn đề tái sinh của họ thường quay lại ở nẻo người và tiếp tục học hỏi mọi điều phát sinh thêm nơi cuộc sống. Cứ thế… cứ thế… trải qua rất nhiều kiếp khác nhau thì người sau khi tái sinh nhiều lần sẽ tích lũy cho mình những kiến thức tâm linh vô hình và tất nhiên sau mỗi lần chết rồi sống lại thì mớ kiến thức tâm linh cũng bị hòa trộn vào nhau, thật sự không còn sự rõ ràng vì ký ức không thể bảo lưu mọi tri thức rõ ràng, minh bạch. Chính vì vậy mỗi khi chết đi thì thần thức sẽ truy cập lại kho dữ liệu cũ để tạo ra cảnh giới cho mình ở thế giới vô hình. Điều đặc biệt là chính kiến thức tâm linh ở kiếp sống gần kề nhất sẽ ảnh hưởng nhiều nhất đến cõi giới mà thần thức ở dạng không thân tạo ra.
Vấn đề đã có sự sáng rõ nhất định. Nếu người nào đó tìm hiểu đạo Phật mà lệch lạc, không rõ chánh pháp tin rằng sau khi chết 49 ngày, 100 ngày mới siêu thoát được thì họ sẽ cứ quẩn quanh chờ đợi thời gian bằng tâm tưởng của họ. Và một khi thời gian đó kéo dài quá lâu dễ khiến họ bị rối loạn tiềm thức, những tri thức tâm linh ở các kiếp trước đó sẽ xen tạp vào làm lạc lối đi tiếp theo. Có thể họ sẽ quẩn quanh chờ cúng cơm, đốt vàng mả chấp nhận đời sống không thân kéo dài, dựa vào tâm ý đánh giá thì anh sẽ liệt nhóm này vào nẻo Ngạ quỷ.
Những năm gần đây đạo Phật phát triển lạc lối ra sức tạo dựng cõi Tây Phương cực lạc quả thật đã ảnh hưởng đến loài người không ít. Sự tín tâm đã khiến người gần chết lẽ ra an nhiên ngủ giấc ngàn thu thì họ lại bị trói cần phải có sư thầy, đạo tràng hộ niệm. Nếu thiếu khuyết hộ niệm A di đà Phật thì thần thức của họ sẽ dùng dằng, nhọc nhằn mà chưa chịu rời thân chịu thêm nhiều khổ não, dằn vặt thân tâm và đau lòng người thân. Anh nhắc lại chú ý trước đó là em hãy nên nhớ pháp tu tịnh độ đã được thâm nhập khá lâu nơi tiềm thức mỗi người, khi đứng trước ngưỡng cửa sinh tử những tiềm thức xưa cũ được khơi dậy và chi phối đến thần thức người chết ít nhiều. Vì lẽ đó đứng trước sự tín tâm và góc nhìn phiến diện một kiếp ta sẽ thấy việc hộ niệm là tốt, giúp người thanh thản ra đi nhưng ở góc nhìn khác thì chính việc hộ niệm đã trói cột thần thức người chết thêm một khoảng thời gian “bức bối” dính mắc với xác thân tàn hoại. Bên cạnh đó, việc thần thức của người chết nhùng nhằng chưa rời khỏi xác vì còn mê thân, còn tham sống.
Thêm nữa, do trì tụng, hiểu sai về giáo lý đạo Phật dính mắc vào giả cảnh Tây Phương và nếu có sự tín tâm kết hợp tâm tưởng cùng định lực mạnh thì thần thức người chết sẽ tạo dựng nên cảnh giới Tây Phương bằng vào tâm ý của cá nhân. Tuy nhiên, ở nơi cõi Phật giả lập một thời gian thì thần thức sẽ sinh tâm nhàm chán và nhớ nghĩ đến những thói quen tham đắm hoặc là những giống loài yêu thích, kết hợp yếu tố duyên thần thức người chết sẽ tìm lại xác thân hữu hình. Bên cạnh việc thần thức người chết tự lập cảnh giới Tây Phương còn có trường hợp do tâm tham cầu được tiếp dẫn Tây Phương của thần thức bị chúng sinh nơi thế giới tâm linh bắt được tín hiệu sẽ xuất giả hình Phật A di đà và thần thức sẽ lạc vào mê trận tâm linh.
Cõi giới Tây Phương hoàn toàn có nơi tâm tưởng của thần thức và việc tồn tại nơi giả cảnh đó lâu hay mau là do định lực của thần thức sau đó thần thức sẽ tiếp tục trôi lăn nơi 3 cõi. Cõi Tây Phương tựu trung lại có phần giống cõi Tiên nơi đạo Lão, đây chính là dấu vết cho thấy người Trung Hoa xưa đã ra sức đồng hóa, ảnh hưởng đạo Phật. Người giải thoát hoàn toàn sẽ không tiếp tục luân hồi nơi thế giới hữu hình và vô hình, đấy là sự khác biệt giữa đạo Phật với các tôn giáo khác và đó cũng chính là điểm cao tột của đạo lý giác ngộ.
Đối với những người tin hoàn toàn vào duy vật, tín tâm chết là hết cũng không thể thoát khỏi vòng quay luân hồi sinh tử bởi lẽ tin là tin vậy nhưng trước giây phút sinh tử phần đông loài người sẽ mong cầu được còn sống, họ luôn dính mắc vào cái tôi, cái của tôi nên họ chẳng thể “Chết là hết” theo niềm tin của họ. Ngay khi chết đi rồi họ mới nhận ra họ vẫn còn dù vậy họ không thể tương tác với người thân, ban đầu họ còn không ý thức được điều đó. Mãi sau họ nhận thức được vấn đề nhưng họ cũng chẳng biết sẽ bắt đầu lại từ đâu, họ đành quẩn quanh ở những nơi họ từng đến, đặc biệt là ở nơi gia đình họ. Nếu có cơ duyên thì họ sẽ tái sinh nương gá vào một thân xác vật chất. Đây là trường hợp người sống thiện lương, ít dính mắc ko chịu ảnh hưởng một giáo lý tôn giáo nào, không tạo ra nhân xấu ác nghiêm trọng…
Những tâm ý thần thức có tưởng giống nhau cũng không nhiều cơ hội gặp nhau vì đâu cần gặp nhau tâm tưởng của họ vẫn thừa sức dựng lập cảnh họ đã gặp được người mong mỏi. Còn trường hợp những tâm tưởng muốn tìm lại nhau ví như có hai người yêu nhau thắm thiết nhưng không may có một người chết đi thì họ có thể bám theo người còn lại và nếu người kia lập gia đình, sinh con thì xác suất người mất trở nên là con của người còn lại cũng không hề ít. Nếu không có duyên đó cho đến khi người còn lại mất đi thì cơ hội hai tâm ý này gặp nhau cũng không nhiều vì có thể người chết trước đã tái sinh hoặc người chết sau đã có một tâm tưởng khác, hoặc trải qua thời gian cách biệt quá lâu tần sóng rung động của cả hai đã bị sai lệch…
Có vài trường hợp thần thức người chết gặp nhau như hai mẹ con hoặc hai người đang yêu chết trong cùng một tai nạn, thời gian chết dù khác nhau nhưng do sự gắn kết tình cảm thì họ có nhiều hơn cơ hội gặp nhau. Tuy nhiên, điều này không có nhiều ý nghĩa vì tâm tưởng mỗi người mỗi khác. Thế nên đến một lúc nào đó thì một trong hai sẽ tìm được xác thân vật chất cho riêng mình…
Nói tóm lại, thế giới tâm linh dù phức tạp nhưng ở góc nhìn tổng thể thì các cõi giới trở nên rất rõ ràng. Chính do sự tích góp tri thức sai lầm mà thế giới tâm linh ngày càng trở nên rối ren, phức tạp.

Em hãy xem lại những vấn đề anh trình bày nếu có chỗ chưa rõ thì em cứ đặt câu hỏi anh sẽ tiếp tục trình bày. Những vấn đề mà em cảm nhận đúng thì hãy kiểm chứng, xác minh lại. Khi em rõ biết thật đúng thì em hãy chuyển hóa nó thành của em.

(Mở cửa Tâm linh- VÔ ƯU)
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 10 28, 2015 8:46 pm

NHỮNG HIỂU LẦM VỀ ĐẠO PHẬT
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân thì nhiều, nhưng đôi khi vì trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đã bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật còn bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.
Với cái nhìn “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rõ như thực:
1- Tôn giáo: Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, vì đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.
2- Tín ngưỡng: Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.
3- Triết học: Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.
4- Triết luận: Đạo Phật có tuệ giác để thấy rõ Cái Thực chứ không sử dụng lý trí phân tích, lý luận. Còn triết, còn luận là vì chưa thấy rõ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà còn “luận”(thiền luận) là đã đánh mất thiền rồi.
5- Từ thiện xã hội: Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xã hội nhưng không coi từ thiện xã hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tròn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật còn có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xã hội thì ai cũng làm được, thậm chí người ta còn làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. Còn giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. Còn nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ thì mọi hình thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!
6- Cực lạc, cực hạnh phúc: Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền não của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.
7- 8 vạn 4 ngàn pháp môn: Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, còn có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? Còn nữa, xin lưu ý, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ thời. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền não, 84 ngàn cách tu...
8- Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu: Những hình thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”
Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ý trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ý phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).
9- Định mệnh: Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác thì gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt thì gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.
10- Siêu độ, siêu thoát: Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngã để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda còn duy trì. Có thể có hai trường hợp:
- Nếu vừa chết lâm sàng thì thần thức người chết vẫn còn. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mõ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho mình.
- Nếu thần thức đã lìa khỏi thân rồi – thì họ đã tái sanh vào cõi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy thì gia đình làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đã mất.
Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ý nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ý nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự mình thắp đuốc mà đi, tự mình là hòn đảo của chính mình”.
Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá vãng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.
11- Huyền bí, bí mật: Giáo pháp của đức Phật không có cái gì được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!
12- Tâm linh: Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những hình thức mê tín, dị đoan, sa đoạ văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề tìm ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!
13- Niết-bàn: Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cõi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào tìm kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đã nói rõ: “Phật pháp tại thế gian. Bất lý thế gian giác. Ly thế mịch bồ-đề. Cáp như tầm thố giác”. Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền não mới giác ngộ bài học được.
14- Bỏ khổ, tìm lạc: Tu Phật không phải là bỏ khổ, tìm lạc. Xin lưu ý cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền não!
15- Tu để được cái gì! Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái gì đó. Xin thưa, được cái gì là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngã sở đắc. Đạo Phật là vô ngã. Hãy xin đọc lại Bát-nhã tâm kinh.
16- Tu là sửa: Nếu tu là sửa thì mình đã từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa thì cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này thì tu kiểu gì cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên.
17- Vía: Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu thì nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh - phần tâm, sắc - phần thân – luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách lìa danh ra khỏi sắc, như Cõi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cõi trời Vô tưởng hữu tình này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. Còn các Cõi trời Vô sắc thì sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là “đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta còn hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!
18- Bồ-tát: Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.
19- Phật: Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là người Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đã mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là bậc Giác ngộ. Vậy, có người Giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, được gọi là Thanh Văn Giác. Có người Giác ngộ do tự mình tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị Giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác.
Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.
20- Thể nhập: Tu là không thể nhập vào cái gì cả. Thể nhập là bỏ cái ngã này để nhập vào cái ngã khác. Cãi ngã khác ấy có thể là dòng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; khi nói, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; khi ăn, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – thì đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền não không có chỗ để phan duyên, sanh khởi.

Ngoạ Tùng Am, Sơ Xuân 2015
Minh Đức Triều Tâm Ảnh
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 11 22, 2015 3:05 am

Mai Tôi Đi
Cùng tất cả qúi vị trên Net .
Khoảng cuối tháng 1 /2015 - có một bài thơ
"Mai tôi đi " không đề tác gỉa được phổ biến khắp nơi - khiến nhiều người đọc sững sờ về những lời tác giả sáng tác trong bài thơ thấy buồn muốn khóc .vì tác gỉa biết trước sự ra đi của mình trong nay mai .nên đã sáng tác bài thơ này bằng Tiếng Anh và được chính tác gỉa chuyển sang Việt Ngữ phổ biến trên Facebook .
nay tôi được biết tác gỉa là Thái thúc Hoàng Minh quay phim- con ruột của cố đạo diễn Thái thúc Nha Alfa Film trước 1975 .đã qua đời ngày 13 tháng 2 năm 2015 tại Đà lạt - tác gỉa Thái thúc Hoàng Minh là Cậu của nữ ca sĩ - tài tử Thanh Lan (hiện ở Cali)-
ngoài ra tôi được biết Thái thúc hoàng Minh đã từng sinh sống ở Nam Cali - không hiểu tại sao lại bỏ Nam Cali về sống ẩn dật ở Đà lạt khoảng 9 năm trước khi chết.
Nguyên văn bài thơ bằng tiếng Anh và tiếng Việt phía dưới ..
nguyễn toàn.



TOMORROW I'M GOING
Tomorrow I'm going...It's no big a deal,
It happens all the time, like fallen leaves in the park
Like flowers driven by winds onto the side walk,
These are minor matters in the turbulent waters of life...
Death is hovering over my death bed,
Please spare me of comments, visitations, or prayers of peace
While my breathing is going to cease
And I'm lying, waiting to bid farewell.
These last dying moments...I wouldn't care less..
The hot and cold months on this planet.
No matter I'm rich or full of glory,
At the end I still return to dust and ashes ...
My finite existence decisively comes to an end
And enters the yin and yang borderlands
I won't be bewildered at the frontier's gate
Earthly realm is on this side, the other an unimaginable and unknown fate
I only wish my soul always at peace,
Traveling lightly, I quicken my pace
Leaving behind those who push and pull,
While I finish my journey on earth's face...
My eyes are already closed....please don't shed tears of sympathy
Please, no flower wreaths, no offerings, nor condolences,
No videotaping, no picture taking for memories.
That would only bring stresses and strains to the surviving...
A quick look behind and life is just like a dream
I arrived naked and I'm leaving with empty hands
Many ups and downs, happy and sad moments piled high,
Now they're all cleared up...I'm stepping on board, the boat has arrived...
If you miss me...Please silently pray,
And consider a life has been liberated,
Be calm, relaxed, and gay,
I go first, you follow behind, we'll meet again...

Và phía dưới cũng chính Anh chuyển ngữ ra tiếng Việt với đầu đề “Mai Tôi Đi”
MAI TÔI ĐI
Mai tôi đi...chẳng có gì quan trọng,
Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,
Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,
Chuyện bé nhỏ giữa giòng đời động loạn...
Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,
Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,
Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,
Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.
Khoảnh khắc cuối... Đâu còn gì tha thiết...
Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.
Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,
Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi...
Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,
Để đi vào ranh giới của âm dương,
Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,
Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ...
Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả
Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,
Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,
Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế...
Mắt nhắm rồi... Xin đừng thương rơi lệ,
Đừng vòng hoa, phúng điếu hoặc phân ưu,
Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu.
Gây phiền toái, nợ thêm người còn sống...
Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng,
Đến trần truồng và đi vẫn tay không.
Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng,
Nay rũ sạch...lên bờ, thuyền đến bến...
Nếu tưởng nhớ..Xin âm thầm cầu nguyện,
Nên xem như giải thoát một kiếp người,
Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,
Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp...
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về Linh Tinh

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách