Hành trình khám phá bản thân

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 6 Tháng 3 06, 2015 8:42 pm

Sự thật về các nhà ngoại cảm.

Thời gian gần đây những vấn đề liên quan đến các nhà ngoại cảm được báo chí, người người phanh phui, phân tích, đánh giá nhưng liệu có mấy ai đứng ở vị trí khách quan, tổng thể nhìn nhận về sự đúng sai, những khuất tất có nơi khả năng ngoại cảm ở 1 số người?
Họ - cả các nhà ngoại cảm lẫn những người lên tiếng công kích, triệt hạ sự mê tín xung quanh khả năng ngoại cảm có thật sự rõ biết về vấn đề ngoại cảm hay chỉ là cách hành xử mang tính cảm tính, bốc đồng chủ quan và việc làm phần nhiều mang bản chất “Giậu đổ, bìm leo” ở thái độ sống của loài người đương thời?
Vì sao những năm gần đây số lượng nhà ngoại cảm, đồng bóng, bói toán, nhà phong thủy, học giả tâm linh… không ngừng gia tăng về số lượng?
Nguyên nhân là do vấn đề cung cầu. Khi con người có những bấn loạn nội tâm thì xu hướng thường thấy là họ sẽ tìm đến nương nhờ vào yếu tố tâm linh. Với nội tâm bấn loạn, sự giới hạn hiểu biết về cõi giới vô hình thì con người chỉ dựa vào mê cuồng si mà tìm đến những người có khả năng tâm linh và những con người có khả năng chạm đến cõi giới vô hình bỗng chốc trở nên siêu việt. Do được kính trọng, tôn quý mà cuộc sống của những nhà tâm linh trở nên sung túc, no đủ, dư dả,…
Những kẻ cơ hội, thủ đoạn nơi xã hội con người không bao giờ thiếu. Mắt thấy cơ hội làm giàu họ mau chóng chớp lấy thời cơ để hóa thân vào những kẻ “buôn thần, bán thánh”. Với vài lời đồn thổi, không cần có giá trị thật cùng với sự tiếp tay của niềm tin mù quáng, dại cuồng ở những người nhẹ dạ, cả tin những kẻ lêu lổng, bất toàn mau chóng trở thành những ông thầy, bà thầy đạo mạo, cao tay.
Đó cũng chính là nguyên nhân để các nhà ngoại cảm xuất hiện nhan nhãn nơi xã hội con người. Và một yếu tố điểm nhấn thường thấy là “Bụt ở nhà không thiêng”.
Cũng như các ngành nghề khác như giáo viên, bác sĩ, kỹ sư, chính khách,… mọi thứ đều có thật, có giả. Ngay cả việc học thì cũng đã có học thật, học giả thì sự tồn tại thật giả ở mọi nơi, mọi thành phần, tầng lớp xã hội đâu hẳn là vấn đề siêu hình, không dễ nhận thấy.
Điều quan trọng nhất để phân định thật giả nơi con người là cách sống của con người. Họ sống thực sự vì ai, vì điều gì? Đừng vội cả tin vào miệng lưỡi, ngôn từ của con người.
Thế nên, các nhà ngoại cảm là có hàng thật, hàng giả.
Lẽ dĩ nhiên là hàng giả thì khó thể cho ra được những kết quả chuẩn, đúng đắn.
Còn hàng thật thì sao?
Ngay cả hàng thật cũng không thể cho ra những kết quả luôn đúng.
Tại sao?
Tại vì ngay chính họ cũng không thật biết sự đúng sai nơi kết quả mà họ đưa ra. Họ hoàn toàn không có khả năng thẩm định giá trị của việc họ làm.
Trên thực tế là không có một trường học chính quy chỉ dạy khả năng ngoại cảm nơi con người. Phần nhiều khả năng ngoại cảm của con người có được do sự nhạy cảm tâm linh nơi con người. Về sau nhờ sự nhạy cảm tâm linh được nhiều người biết đến mới khai sinh ra nhà ngoại cảm.
Tại sao có những người có độ nhạy về vấn đề tâm linh?
Đây là vấn đề mà khoa học, chủ nghĩa duy vật chủ quan ngày nay quy vào tội trạng “Truyền bá mê tín dị đoan” thế nên dựa vào thực trạng giới hạn nơi sự hiểu biết của con người ta không thể lý giải được.
Tuy nhiên, nếu “xé bỏ” vấn đề duy vật, khoa học thực thể thì ta có thể “xét lại” nguyên nhân sự tồn tại của những người có độ nhạy tâm linh. Có thể ở những kiếp lâu xa trước đó họ đã từng là những người luyện bùa ngải, chú thuật,… rồi họ chết đi. Việc tái sinh trở lại khiến họ không nhớ hết những gì tiền kiếp nhưng không hẳn tàng thức được trao dồi chuyên tâm xưa cũ hoàn toàn mất cả. Cho đến lúc đủ duyên thì việc chạm đến thành phần vô hình giúp họ dần bộc lộ khả năng ngoại cảm.
Nghe có vẻ siêu thực nhưng không hẳn là điều không thể chứng thực bằng cơ sở khoa học, tư duy logic.
- Tại sao có những thiên tài toán học, vi tính, nhạc sĩ, ca sĩ,…?
Sẽ không có câu trả lời dựa trên cơ sở khoa học và duy vật. Còn việc tin nhận có sự tồn tại của tàng thức lưu giữ kỹ năng, sở thích từ tiền kiếp là tùy thuộc ở mỗi người.
Khi xét đến một gia đình có truyền thống về một ngành nghề nào đó thì ta sẽ dễ dàng “bắt gặp” có những đứa trẻ được sinh ra trong gia đình đó có tài năng di truyền thiên bẩm. Và nếu đổ lỗi cho việc bộc lộ khả năng thiên bẩm là do yếu tố di truyền dòng tộc thì sẽ không đúng với sự logic và tính đúng đắn của khoa học ngày nay. Vì theo quan niệm của khoa học chủ quan, giới hạn ở thời điểm hiện tại thì “con người chết là hết” và kết cấu vật chất tạo nên bộ não, cơ thể không thể mang theo những kỹ năng di truyền từ cha mẹ. Yếu tố vật chất chỉ mang thông tin di truyền giống nòi mà không thể mang theo sự hiểu biết của dòng tộc.
Tuy nhiên, nếu chấp nhận và dựa vào duy tâm khách quan thì đây là sự luân hồi cục bộ nơi dòng tộc của tâm ý sự sống đã từng gắn bó với gia tộc này, tâm ý sự sống đó đã trở lại cùng với niềm đam mê, sở thích, kỹ năng sớm được bộc lộ.
Nếu xét đến những dòng tộc bệ rạc, suy đồi thì ta cũng dễ dàng nhận thấy những đứa trẻ sớm biểu hiện những đức tính xấu của gia tộc đó. Cụ thể hơn là nếu xét một gia tộc có truyền thống làm bạn với sâu rượu, ma men thì con cháu của họ sẽ sớm bộc lộ khả năng bia rượu vô đối hoặc là người có hệ thần kinh mụ mẫm, kém trí, lạc thần,... Đây có thể là yếu tố luân hồi cục bộ cùng với việc “đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”, những người trở lại vốn là bạn nhậu thân tín, thường xuyên của gia tộc hoặc họ chính là “thế hệ trước” của dòng tộc đó… đã “trở lại”.
Khi tạm chấp nhận sự luân hồi tồn tại thì sự sai khác biểu hiện về tính tình, thái độ của những đứa trẻ sơ sinh cũng dễ dàng được nhận biết. Đó vốn là tiềm thức căn bản của người trở lại. Tuy nhiên, tiềm thức xa xưa không hẳn sẽ “trói” cuộc đời của người trở lại mà yếu tố môi trường sống, sự giáo dục và việc tích lũy cái biết ở kiếp hiện tại sẽ tạo ra cuộc đời của người trở lại.
Phần trình bày bên trên của tôi dường như đã vượt ra khỏi nội dung của bài viết. Nhưng thật ra những vấn đề trình bày có ít nhiều liên kết với vấn đề ngoại cảm và cũng là việc bổ sung cho người đọc về một “mảng khuất” nơi hiểu biết của nhân loại ngày nay.
Quay lại vấn đề tiếp xúc, chạm đến phần tâm linh ở các nhà ngoại cảm hàng thật.
Vì giới hạn hiểu biết, tầm nhìn, khả năng và thực lực vốn có mà những nhà ngoại cảm muốn “nắm bắt” thông tin tâm linh phải nhờ vào một lực lượng vô hình cùng những nhạy cảm tâm linh. Thế nên, việc đúng sai nơi kết quả thu được những nhà ngoại cảm gần như không thể làm chủ.
Thêm nữa, vì khả năng ngoại cảm thường là “tiếng vọng tiềm thức” mà không dễ có một phương pháp rèn luyện đúng đắn, việc không được rèn giũa thường xuyên theo thời gian cũng như việc lạm dụng khả năng ngoại cảm, việc gia tăng bản ngã ở nhà ngoại cảm thì sự nhạy cảm tâm linh sẽ mất dần đi và những kết quả tâm linh ngày càng bị sai số, mắc nhiều lỗi lầm.
Sự cố gắng chứng minh đúng cho những kết quả được kiểm tra, khẳng định sai càng làm cho hình ảnh những người có khả năng ngoại cảm tự nhiên thêm lu mờ, đánh mất uy tín, sự tín nhiệm ở mọi người. Kết quả là hình ảnh một nhà ngoại cảm đã chết về mặt tâm linh sẽ phơi bày trước mắt mọi người và số đông những kẻ hiếu kỳ với nội tâm cạn cợt cùng khả năng tư duy vụng về, hời hợt.
Cuộc chơi với lực lượng vô hình thường rất nghiệt ngã, người chơi có thể được đưa lên tận trời xanh nhưng cũng có lúc bị dập vùi không thương tiếc. Cái giá phải trả cho cuộc chơi tâm linh mà người chơi không thể tự chủ là không thể nghĩ bàn.
Trên thực tế là thành phần vô hình hỗ trợ cho nhà ngoại cảm không phải là thần thánh biết tuốt, biết tất cả. Sức hiểu họ vốn dĩ có rất nhiều giới hạn, khi nhà ngoại cảm cần một thông tin tâm linh thì lực lượng tâm linh trên ra sức tìm kiếm nhưng không hẳn lúc nào cũng tìm được thông tin mà nhà ngoại cảm đang cần. Và sự nôn nóng, mong cầu khẳng định khả năng tâm linh nơi nhà ngoại cảm sẽ khiến lực lượng vô hình “rối trí”. Kết quả là việc trả về tín hiệu tâm linh sẽ bị sai số hoàn toàn.
Thế giới tâm linh sở dĩ tồn tại là do yếu tố tâm ý sự sống vô hình. Tâm ý sự sống vốn dĩ là thức nhưng trong thức của tâm ý sự sống lại có cả sự tồn tại của tâm tưởng. Khi sự móng cầu, cuồng tín thúc bách ở nhà ngoại cảm cùng lực lượng vô hình đồng minh thì tâm tưởng của thế giới tâm linh “bắt” được tín hiệu sẽ lưu xuất ra tâm ý sự sống giả và khi đó phát ra những tín hiệu giả dẫn đến kết quả nhà ngoại cảm thu được sẽ sai sự thật.
Nghe chừng khó hiểu và hoang đường. Thế nên tôi sẽ trình bày một vấn đề mà có một số không ít người từng biết đến dù không tường tận căn nguyên.
Cụ thể là việc nhập xác, lên đồng. Việc đồng cốt cũng có thật, có giả nhưng hiển nhiên là tôi đang đề cập đến hàng thật. Ở Việt Nam, có một số trường hợp vong mượn xác nói tiếng Khơ - me, tiếng dân tộc thiểu số dù rằng người bị mượn xác chưa từng biết đến người Khơ-me, người đồng bào,… Không ít trường hợp phần vong nhập xác tự xưng là thần thánh, Quan âm bồ tát, Tề thiên đại thánh,… và đưa ra những “lời phán truyền trật chìa”. Tề thiên đại thánh vốn dĩ là một con khỉ trong câu truyện Tây Du Ký của tiền nhân Ngô Thừa Ân vì cớ gì lại trở nên có thật và lên nhập xác? Quan thế âm bồ tát vốn là một tạo hình bồ tát nơi cõi Tây Phương kề cận Phật A di đà cớ gì lại hiện thân ở cõi Ta bà?
Nếu bạn khách quan, cởi mở tư duy thì vấn đề tôi trình bày ở trên đã được lý giải. Chính tâm tưởng và thức biết đã làm nhiễu loạn khả năng ngoại cảm của những nhà ngoại cảm.
Tất nhiên là những vấn đề tôi vừa trình bày phần nhiều vượt ra ngoài sự hiểu biết của lực lượng vô hình cũng như các nhà ngoại cảm hiện nay. Chính sự giới hạn hiểu biết của các nhà ngoại cảm và lực lượng vô hình phò trợ sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả ngoại cảm thu về.
Mặt khác, phần hồn của những người đã chết không hẳn lúc nào cũng chờ đợi người thân “bắt” được tín hiệu tâm linh “tìm nhặt” thân xác về rồi thì mới “chịu” siêu sinh. Số đông phần tâm ý sự sống vô hình đã cuốn vào vòng luân hồi nghiệp nhân quả từ lâu xa. Những người bạn chết cùng với đương sự không hẳn còn chờ đợi “đồng đội cũ” tìm đến và ra sức chỉ điểm. Thêm nữa, đồng đội cũ còn sống không hẳn đã còn nhớ nơi người bạn chiến đấu cùng đã nằm xuống… Thế nên việc tìm ra hài cốt nhầm lẫn không phải là vấn đề khó lý giải.

Tôi cạn nghĩ mình cũng nên nói thêm về cách hành xử chủ quan, thiên kiến, phiến diện, cục bộ ở loài người (nói chung).
- Tại sao con người vẫn thường có lối hành xử “giậu đổ, bìm leo” trải qua suốt lịch sử ra đời và phát triển của nhân loại?
- Tại sao sự ra đời của những nhà ngoại cảm buổi đầu được dung dưỡng, chấp nhận và rồi đến nay lại cố ra sức phá bỏ, phủ định sạch trơn vai trò, giá trị đóng góp, những việc làm đã từng được thừa nhận hữu ích, thấm đẫm tình người?
Nếu bảo việc làm của các nhà ngoại cảm là hoàn toàn sai thì “Tại sao việc làm hoàn toàn sai đó lại có thể tồn tại dài lâu và được không ít giới quản lý đất nước và xã hội tin nhận, cầu cạnh “nhờ vả”… qua rất nhiều đời?”.
- Phải chăng khi đó sức hiểu của loài người còn ngây ngô, mông muội… và hiện tại con người đã khôn hơn với sự hiểu biết đủ đầy? Do vậy nên tri thức nông cạn, non kém một thời xa xưa cần phải được con người cũng những nhà quản lý xã hội xóa bỏ, triệt tiêu hoàn toàn không để xót lại một dấu vết theo đúng nghĩa “Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc”.
Nhưng phải chăng kết quả thu được từ các nhà ngoại cảm có không ít kết quả đúng?
- Vậy điều này sẽ lý giải làm sao?
Chỉ vì những kết quả sai lầm ở các nhà ngoại cảm cả thật lẫn giả mà con người vội vàng phủ nhận sạch trơn những đóng góp đã từng có ích cho xã hội thì “Phải chăng đây là cách hành xử thiếu tính chuyên nghiệp, cách hành xử của những kẻ “Ăn cháo, đá bát”…?
- Và “Phải chăng cách hành xử và sự hiểu biết của con người hiện nay đã khách quan, sáng rõ, luôn đúng?”.
Tôi đã thử thả lòng mường tượng về việc đi tìm hài cốt của những người đã khuất ở các nhà ngoại cảm và đặt câu hỏi vụng “Giá trị, mục đích của việc làm đó là gì?”
- Phần nhiều giá trị, mục đích của việc tìm hài cốt người đã khuất là đưa thân xác người chết về nơi an nghỉ đàng hoàng, yên lành. Đây là việc làm nhằm an định lòng người sống là chính. Ngoài giá trị an định lòng người thì việc làm trên còn thể hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của người sống đối với người chết. Số khác làm việc trên nhằm lấy tiếng cũng như việc thu gom quyền lợi…
Bỏ qua những mục đích tư lợi, tôi sẽ xét việc làm của các nhà ngoại cảm chân chính tìm hài cốt liệt sĩ vì tình người nhằm giá trị an lòng người sống. Nếu bảo rằng “Đây là việc làm không đáng quý, đáng trọng” thì đó là lời không phải với lòng tôi.
Và rồi việc xuất hiện những nhà ngoại cảm giả danh cùng với những kết quả ngoại cảm “dỏm” cùng với “vật chứng” ngụy tạo. Việc “lừa người, dối mình” ở các nhà ngoại cảm dỏm được phanh phui ra ánh sang đã kéo theo một hệ lụy. Với sự hiểu biết nông cạn, nửa vời ở một số ít người - họ đã “níu kéo” ngành khoa học cũng mang tính tạm thời, nửa vời cùng với chuỗi hệ thống phương tiện thông tin đại chúng mang tính chủ quan, nông cạn ra sức “triệt tiêu” thành quả, giá trị gốc mà giới ngoại cảm đã từng mang lại.
Việc cố ra sức chứng minh đúng họ đã chủ quan lẫn khách quan “xóa sổ” những kết quả ngoại cảm đúng đắn. Nếu bảo họ đã làm đúng thì e rằng tôi đã nói lời khiêng cưỡng, hư vọng, dối lừa…
Dù vậy, dưới góc nhìn chủ quan, cục bộ thì con người (nói chung) và những người đang ra sức “triệt hạ” giới ngoại cảm luôn cho rằng việc họ làm rất quả cảm, thánh thiện, cao thượng,…
Tuy nhiên, ở góc nhìn tổng thể, toàn diện, khách quan hơn thì tôi và bạn có thể nhận diện giá trị của những việc “triệt hạ” khả năng ngoại cảm ở các nhà ngoại cảm dường như mang tính cảm tính, có phần chủ quan. Việc làm đó có thể gọi là việc “Đào mồ quá khứ, bới thây người chết”, gây mất niềm tin, tăng trưởng sự hoài nghi nơi người sống, là việc làm gây nhiễu loạn lòng người,…
Vì sao?
Vì việc ngoại cảm được chấp nhận, tồn tại từ lâu đã mang lại biết bao nhiêu bộ hài cốt của các chiến sĩ cùng nạn nhân của chiến tranh. Những bộ hài cốt được quy tập đã góp phần an lòng người sống lẫn kẻ chết. Và rồi “Đùng một cái” loài người cố chứng minh kết quả ngoại cảm là giả, là sai.
Liệu thân nhân của những bộ hài cốt có thể an lòng, việc nguôi ngoai nỗi khổ đau, muộn phiền về nỗi đau mất người thân lại được khơi dậy, cào xé cho tươm máu?
Niềm tin bị đánh cắp, sự hoài nghi thật giả khiến thân nhân của người đã khuất thêm bấn loạn, bất an,… Là điều tốt hay việc xấu thật không dễ một lời mà nói cho tường tận.
Nếu bảo rằng “Việc làm của những người đang chủ quan ra sức “triệt hạ” khả năng ngoại cảm ở con người là tội ác khó thể thứ tha, là việc làm tương đồng với việc “Đào mồ, quật mả” thì cũng không hẳn là lời nói hoàn toàn sai quấy.
Lẽ ra, con người dựa vào khoa học ngày nay phải có cách hành xử khôn khéo, khách quan, đúng mực hơn. Việc ra sức thể hiện bản thân đã đẩy họ vào những cuộc tranh cãi không hồi kết. Giới thông tin lại có dịp “ném” cho độc giả một tảng băng vào mặt hồ tĩnh lặng.
Và lực lượng các nhà ngoại cảm bị triệt hạ lại lên tiếng bảo vệ uy tín, danh tiếng,… cùng với những hành động phản kháng, chống trả. Rồi thì… sự việc cũng sẽ không đi đến đâu vì cả hai phe tranh cãi đều không rõ biết những việc đã, đang, sẽ làm. Mỗi phe đều có đúng, có sai riêng và do mãi tranh cãi họ đã quên mất việc lắng nghe để thông cảm, để hiểu rõ hơn vấn đề. Vì thế việc tranh cãi nhùng nhằng, không hồi kết,…
Giới quản lý xã hội, quản lý đất nước thì có phần bàng quang, đứng ngoài cuộc vì việc tranh cãi giữa 2 phe có vẻ không ảnh hưởng nhiều đến quyền lợi, địa vị của họ.
Thêm nữa, giới quản lý cũng không thể thấu rõ bản chất của vấn đề nên chọn lựa làm kẻ ngoài cuộc để an toàn là sự chọn lựa khôn khéo. Cho đến khi giới quản lý thấy sự việc sẽ chẳng đi đến đâu thì họ sẽ mở lời cho giới truyền thông “dìm hàng” “chặt đứt” “dọn dẹp” tảng băng được ném xuống mặt hồ yên ả thì mọi việc dường như được giải quyết triệt để.
Dù vậy, việc tranh cãi vẫn sẽ không thể ngã ngũ và sẽ bùng phát khi có dịp. Nhất là khi giới truyền thông bị “bí” đề tài. Còn sự hiểu biết của con người vẫn lẩn quẩn, không sáng rõ, kéo theo sự si mê cuồng loạn, hoài nghi,…

VÔ ƯU
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 3 11, 2015 8:34 am

Cần lắm sự đổi thay.
Mẹ à! Mẹ nằm nghỉ ngơi, con đi xóm một lúc. Chút nữa, con về sẽ nấu nước cho mẹ tắm.
Thuận ơi! Con để mắt xem chừng bà nội. Đừng để nội đi ra khỏi nhà nghe con. Dạo này bà nội con già lẩn rồi, đi ra khỏi nhà là không còn nhớ được đường về.

Những câu nói quen thuộc tôi vẫn thường nghe người chị hàng xóm dặn dò đứa con trai trông chừng bà nội già lẩn. Tôi thầm nghĩ “Rõ là khổ! Hơn nửa đời người sống minh mẫn, sáng suốt,…”. Rồi đến tuổi “xế chiều” lại trở nên si dại, đần ngốc, lú lẩn,… với sự hiểu biết không bằng đứa trẻ lên ba.
Có bao giờ bạn nhìn thấy một bà cụ dùng nước tiểu của chính mình để tắm rửa, uống ăn,…? Có bao giờ bạn bắt gặp một ông lão già khọm trần truồng bên cạnh đống phân gớm bẩn, ông lão dùng những ngón tay khô gầy nghịch đùa phân và nước tiểu, rồi ông lão lại dùng những ngón tay bẩn chà lên khuôn mặt nhăn nheo ngả màu thời gian, cả tấm thân gầy còm, run rẩy,…? Có phải họ là những người bị bệnh tâm thần? Không! Họ là những người cao tuổi già lẩn. Họ đã từng là những người làm trụ cột của gia đình nhưng giờ thì họ phải sống với chuỗi ngày vô tri, đần ngốc,…
Trên bước đường bôn ba, xuôi ngược, tôi đã không ít lần chứng kiến, nghe kể về những cảnh đời, những số phận bất hạnh, hẩm hiu,... Nhưng hình ảnh những người cao tuổi già lẩn là cảnh đời khiến tôi nhiều xót xa, nặng oằn tâm trí hơn cả. Sống mà rơi vào tình cảnh già lẩn, rõ thật là sống không bằng chết. Đã có lúc, tôi lo lắng nghĩ về bản thân ở độ tuổi “Gần đất xa trời”. Nếu chẳng may tuổi già mình lại như thế thì quả thật là rất đáng sợ! Thế là tôi nghĩ đến việc “Làm cách nào để thoát ra khỏi căn bệnh lú lẩn, si dại,… ở tuổi già?”.
Tôi đã tìm hiểu hoàn cảnh, tính cách sống, công việc, thân nhân của những người già lẩn và những vấn đề liên quan khác,… Sau khi tổng hợp và phân tích, dường như tôi tìm ra một vài điểm chung giữa những người già lẩn. Thời trẻ, họ là những người hay lo nghĩ, xét nét mọi việc, có phần cố chấp, gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền,… Về già, tính tình họ không hề thay đổi. Thậm chí, tính cách còn có phần độc tài, chuyên quyền hơn. Họ thường áp đặt, răn đe, rầy dạy,… con cháu. Dù rằng không hẳn là mọi việc họ khuyên dạy con cháu là sai nhưng bối cảnh xã hội đã khác xưa. Thời đại ngày nay mà bảo con cháu dùng quạt nan thay cho quạt điện, dùng khói đuổi muỗi thay cho bình xịt, nhang trừ muỗi,… thì đã không còn hợp thời,... Không chỉ có vậy, một bà già 70 tuổi chờ đợi cậu con trai 30 tuổi về dùng cơm, một ông cụ 80 tuổi chờ cửa cô con gái 40 tuổi về nhà ngủ rồi thì mới yên tâm chợp mắt thì quả thật là sự lo lắng của người già đã rơi vào quá mức, ngược đời,...
Những người cao tuổi lại sợ sự cô độc, lẻ loi, sự im lặng và sợ mọi người quên mất sự hiện diện, vai trò của họ. Người cao tuổi cố níu giữ lại vai trò làm chủ gia đình bằng việc nhớ nghĩ lại những câu chuyện về thời thơ bé của con cháu nhằm khơi gợi, nhắc nhở con cháu biết vâng lời,… Nhưng sự minh mẫn không còn họ đã kể lặp đi, lặp lại những câu chuyện rời nát, chắp vá; Những lời khuyên dạy chán ngắt cùng với sự răn đe, dọa nạt cũ rích, vô ích. Hiển nhiên là những lời nói của người già sẽ không được thế hệ trẻ chú ý, lắng nghe và làm theo. Việc này khiến những người lớn tuổi thêm buồn bực, muộn phiền,… dẫn đến tâm trạng bị con cháu bỏ rơi, hắt hủi,... Tất cả những ức chế, dồn nén tinh thần càng làm cho người già cáu gắt, khó chịu,… Con cái lại bận rộn việc mưu sinh, không có nhiều thời gian quan tâm chăm sóc cha mẹ già. Sự buồn bực, lo nghĩ khiến những người già nhớ trước, quên sau, lầm lộn mọi việc là khởi đầu cho căn bệnh lú lẩn quái ác. Người lớn tuổi cho rằng mình đã từng trải trên đường đời và cố ý thể hiện quyền lực là người chủ gia đình qua việc ra sức áp đặt, trói buộc con cái phải làm theo những quyết định, yêu cầu của họ. Cụ thể, họ bức ép con cháu bỏ công ăn, việc làm về nhà chăm lo vườn tược, ruộng đồng,... Nhưng những người con vốn đang là một doanh nghiệp thành đạt, một bác sĩ, kỹ sư,… Thế nên họ chưa thể quay về theo ý muốn của cha mẹ già. Người lớn tuổi đã thể hiện sự độc đoán, chuyên quyền, tính gia trưởng bằng việc bán đất đai, ruộng vườn. Những người con sẽ ra sức ngăn lại, mâu thuẫn giữa hai thế hệ hình thành và làm cho cả hai thế hệ chuốc lấy đau khổ, hờn oán,… Việc lo nghĩ, muộn phiền, tính gia trưởng, việc cố thể hiện quyền làm chủ gia đình, sự oán hờn, giận dỗi,… đan xen trong trí não của người già. Tất cả các vấn đề trên càng làm cho suy kiệt thêm tinh thần và thể chất của người già vốn đã rệu rã, hao mòn theo dấu thời gian. Dần dần, người già trở nên si dại, đần ngốc, lú lẩn,…
Tại sao bà cụ dùng nước tiểu của chính mình để tắm rửa, uống ăn,…? Những lo nghĩ, muộn phiền đan xen đã khiến trí nhớ của bà cụ lầm lộn, quên lẫn. Ngay khi bà cụ tiểu tiện thì bà lại nhớ đến việc tắm rửa, ăn uống. Sự xáo trộn, lẫn lộn của trí óc khiến bà cụ dùng nước tiểu của chính mình như là một thứ nước uống hay là nước dùng cho tắm rửa. Tính hay quên và đôi mắt không còn tinh tường khiến người già lẩn không còn nhận ra đường về nhà. Không chỉ vậy, sâu thẳm trong tâm trí của bà cụ đã từng có ý định bỏ nhà đi vì bà cụ nhận ra “Trong mắt con cháu, bà chỉ là một bà già vô tích sự”. Sự buồn bã, hờn tủi, nuối tiếc,… đã nuôi lớn ý định rời bỏ lũ con cháu vô ơn, bất hiếu ở bà cụ.
Tại sao ông lão già khọm lại trần truồng bên cạnh đống phân gớm bẩn, ông lão dùng những ngón tay khô gầy nghịch đùa phân và nước tiểu, rồi ông lão lại dùng những ngón tay bẩn chà lên khuôn mặt nhăn nheo ngả màu thời gian, cả tấm thân gầy còm, run rẩy,…? Ông lão đã nhớ nghĩ, chất giữ hình ảnh đứa con thời thơ ấu, vô tri. Ký ức đứa bé trần truồng nghịch đùa phân và nước tiểu, ông đã ngăn đứa con chà xát những thứ bẩn dơ lên thân người ra sao? Nhưng đáng tiếc! Ông lão đã quên mất “Ông là ai?” Ông lầm lẫn, ngộ nhận “Bản thân ông là đứa bé thơ dại”. Không chỉ có vậy, ở ngay hành động nghịch đùa phân, chi trét những thứ bẩn dơ lên tấm thân trần trụi của ông lão có chứa đựng sự trả thù cho những oán hờn được chất giữ, nuôi lớn trong lòng. Mối oán hận này có từ đâu? Từ những khoảng thời gian trước khi ông già lẩn hoàn toàn. Từ những việc ông lão trói buộc con cháu mà chúng không thuận theo. Lúc đó, ông lão nhận biết mình đã già, không làm ra tiền nên cháu con không nghe lời. Ông lão nghĩ thầm “Đúng là có tiền mua tiên cũng được”. Ông lão tiếc rẻ “Giá như mình còn số tiền kha khá thì làm gì có đứa con ngỗ nghịch nào không chịu vâng lời”. Rồi thì ông lão nhận biết “Bản thân còn có đất đai, ruộng vườn”. Một ý nghĩ lóe lên “À, mình bán đất đai, ruộng vườn thì sẽ có tiền. Có tiền rồi thì con cháu sẽ nghe theo, đứa nào không nghe thì đói khổ mặc xác”. Nhưng những người con đã không cho ông lão làm việc đó. Dù rằng những người con đã phân bua, giải bày: Hiện tại, gia đình cũng đủ ăn, đủ mặc. Đất đai, ruộng vườn hãy nên để lại cho con cháu hoặc là làm “Của để dành” phòng ngừa khi có bệnh ngặt nghèo thì dùng đến. Tuy nhiên, ông lão nghĩ rằng “Mình là người từng trải, hiểu chuyện và chỉ khi có tiền trong tay thì mình mới khôi phục được quyền hành, là người chủ gia đình”. Thế nên ông đã cố chấp giữ ý riêng “Những người con không cho bán đất là muốn sang đoạt tài sản của ông. Chúng là những đứa con bất hiếu đã bức bách, dồn ép ông”. Mối hận trong lòng được nuôi lớn dần, ông lão oán hận chính những người con mà ông đã thương yêu, nuôi dạy cho khôn lớn. Mối oán hờn đã làm rạn nứt tình phụ tử cao quý, thiêng liêng. Ông lão nghĩ đến việc làm mất mặt, bêu xấu tội bất hiếu của con cháu trước xóm làng, dòng họ. Ban đầu là việc “Chửi chó, mắng mèo” và ông bà, tổ tiên. Tiếp theo, ông lão uống rượu, giả vờ say rồi khóc kể tội lỗi của con cái cho mọi người cùng biết; Ông lão lăn lê “đầu đường xó chợ”, mặc quần áo tanh hôi, rách bẩn nhằm bêu xấu con cháu. Con cháu ra sức khuyên ngăn còn mọi người thì dường như thờ ơ, chẳng quan tâm. Sự phẫn uất, căm giận và việc sa đà bia rượu mau chóng biến ông lão thành một người già lẩn si dại, đần ngốc, vô tri.
...
Tóm lại, tất cả những đè nén tinh thần - Việc nhớ nghĩ chất chứa, việc chấp giữ phiền muộn, lo toan, bực dọc,… sẽ khiến những người cao tuổi trở nên phẫn uất, già lẩn,… tạo ra những cảnh đời bi thương, thảm não. Những hình ảnh mà ở nơi đó sẽ khơi dậy sự thương cảm, chua xót,… trong lòng của bất kỳ một ai được một lần tận mắt chứng kiến. Đó là sự xót thương trĩu nặng lòng người.
Phải chăng tất cả những người cao tuổi đều bị căn bệnh già lẩn quái ác hành hạ, giày vò?
Không hẳn là tất cả người già đều trở nên si dại, lú lẩn, đần ngốc,... Tôi lại đi tìm hiểu nguyên do dẫn đến sự khác biệt giữa những người già lẩn và những người cao tuổi có đầu óc sáng suốt, tinh tường. Một sự khác biệt rõ nét về lối sống giữa hai nhóm người cao tuổi. Trong khi những người cao tuổi già lẩn có lối sống luôn chứa giữ lấy muộn phiền, lo nghĩ, thường xét nét can thiệp vào mọi việc; Thậm chí họ can thiệp cả vào những công việc mà gần như họ không hề biết chỉ với mục đích chứng tỏ sự từng trải, nhiều hiểu biết của bản thân,… thì những người già có tinh thần minh mẫn lại có lối sống bình thản, an nhàn. Qua tìm hiểu, tôi nhận biết “Những người cao tuổi ở nhóm người già có trí óc sáng suốt là những người học được cách sống biết dừng lại, biết buông bỏ những lo nghĩ”.
Đây là buổi trò chuyện giữa tôi cùng với một người cao tuổi giữ được sự sáng suốt, minh mẫn và khỏe mạnh.
Tôi dò hỏi: Tại sao ông lại không cáng đáng, chỉ dẫn mọi việc cho con cháu như những người cao tuổi ở nhóm người già lẩn đã làm?
Ông lão trả lời: Cuộc sống sau này là của thế hệ trẻ. Thế nên, con cháu họ phải biết sống tự lập, không dựa dẫm vào thế hệ đi trước, ông không thể “Lột da như rắn” để sống đời với con cháu. Hơn nữa, bối cảnh xã hội không ngừng thay đổi, cách suy nghĩ của hai thế hệ lại sai khác nhiều. Áp đặt, trói buộc con cháu làm theo ý riêng của mình thì không hẳn là đúng đắn. Con cháu hiếu thuận vâng lời nhưng trong lòng lại không vui. Còn bằng con cháu không thuận theo, dẫn đến tranh cãi thì cả người lớn lẫn con trẻ đều chuốc lấy buồn phiền, đau khổ,… Ông đã sống hơn nửa đời người mới có được sự hiểu biết từng trải. Sự hiểu biết từng trải ở người cao tuổi là nhận biết được thời điểm dừng lại. Nhận biết khi nào con cháu lớn khôn thì chuyển giao mọi việc cho thế hệ con cháu còn người cao tuổi thì buông bỏ những lo nghĩ đa đoan, tận hưởng những giây phút an nhàn, thảnh thơi,…Chỉ có như vậy thì người cao tuổi mới có thời gian nuôi dưỡng tinh thần, giữ cho trí não minh mẫn, sáng suốt. Về sau, họ không rơi vào tình cảnh già lẩn, không gây khó, làm khổ con cháu,…
Tôi hỏi thêm: Vậy…! Tại sao những người cao tuổi từng trải khác lại không biết “Điểm dừng”? Tại sao họ lại trói buộc, áp đặt con cháu phải làm theo ý riêng của họ?,…
Ông lão trả lời: Xem ra chú em cũng là người hiểu chuyện. Già chẳng tiếc lời trò chuyện cùng chú em.
Dừng lại một lúc, ông lão lại nói: Những người cao tuổi không biết “Điểm dừng lại”, thường hay can thiệp, sắp xếp mọi việc làm của con cháu là vì tình thương yêu con cháu trong lòng họ quá lớn.
Thật vậy, trong cái nhìn của phần lớn những người làm cha mẹ thì những đứa con luôn bé bỏng, đáng yêu. Đó là nguyên nhân làm cho cha mẹ nghĩ rằng “Những đứa trẻ chẳng bao giờ lớn”. Thế nên những người làm cha mẹ luôn bảo bọc, chăm lo, sắp xếp mọi việc cho con trẻ. Thời gian cứ trôi qua, những người con dần khôn lớn nhưng cha mẹ thường không tin nhận vào sự trưởng thành của lũ trẻ. Họ vẫn để mắt, xét nét việc làm của con cái.
(còn tiếp)
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 4 Tháng 3 11, 2015 8:38 am

Cần lắm sự đổi thay
(tiếp theo)

Tại thời điểm này sẽ hình thành nên hai nhóm cha mẹ khác biệt nhau:
Nhóm thứ nhất là nhóm người tạo điều kiện cho những người con phát huy năng lực, sở trường,… Nếu những người con có thể tự lập tốt thì họ chuyển giao dần công việc, tài sản cũng như vai trò trụ cột gia đình cho thế hệ trẻ, giúp những người con sớm nhận biết vai trò, trách nhiệm làm chủ cuộc sống của chính mình. Từ đó, tạo cho thế hệ trẻ có được sự tự tin, vững vàng đối diện với những khó khăn, thử thách của cuộc sống,... Nếu những người con chưa đủ tự tin để làm chủ cuộc sống thì những người làm cha mẹ sẽ dìu dắt, chỉ dạy, động viên,…giúp thế hệ trẻ có thêm niềm tin, sức mạnh và sự hiểu biết,… để hòa nhập tốt vào cuộc sống. Thế hệ trẻ được nuôi dạy theo phương cách này tương lai sẽ trở thành những trụ cột vững chắc của gia đình và xã hội. Đến khi nhận biết con trẻ đã thực sự trưởng thành thì những bậc cha mẹ chuyển giao hết mọi việc cho con cái, buông bỏ vai trò làm chủ gia đình, dứt trừ những suy nghĩ, lo toan về cuộc sống của con cháu, tận hưởng sự an nhàn, thảnh thơi. Chú em có biết “Tại sao những người cao tuổi từng trải biết được điểm dừng lại không?”. Bởi vì sự từng trải hiểu biết giúp họ dám chấp nhận sự thật. Họ đã nuôi dạy những người con từ tấm bé. Cho đến lúc con trẻ khôn lớn, trưởng thành. Điều này đồng nghĩa với việc “Họ đã già”. Chấp nhận thực tế “Bản thân đã già” thì những người cao tuổi mới có thời gian nghỉ ngơi, thư giản. Tâm trí thảnh thơi giúp người cao tuổi dừng lại những lo nghĩ đa đoan vì lẽ họ đã lo toan gần cả một đời người, đã đến lúc họ dừng lại ngơi nghỉ. Sự hiểu biết từng trải lại một lần nữa giúp người cao tuổi nhận ra “Rồi họ sẽ phải chết, đó là một sự thật mà bất kỳ ai cũng phải trải qua ở kiếp người”. Người cao tuổi dám chấp nhận sự thật sẽ chọn lựa lối sống cho quãng đời còn lại cũng như là chọn lựa cách thức chết cho bản thân. Những người từng trải sẽ dễ dàng nhận biết “Cái chết đến với con người với rất nhiều hình thức khác biệt nhau nhưng thực ra chỉ là biểu hiện của hai hình thức chính có sự sai khác ít nhiều về mức độ biểu hiện. Đó là cái chết đến với con người như là một giấc ngủ ngon êm đềm, không mộng mị và một cái chết vật vã, đau đớn cả về xác thân lẫn tinh thần”. Nhìn những người có cái chết nhẹ nhàng như đang say ngủ chú em sẽ nhận thấy ở nơi đó có sự bình yên an lạc, không hối tiếc lo toan, sầu khổ; Chú em cũng nhận thấy được sự chấp nhận việc già chết là một sự thật ở nét mặt của người đã khuất, họ an nhiên, bình thản đón nhận cái chết,... Ngược lại, nhìn những người phải chết vật vã, đớn đau chú em sẽ thấy những ưu tư phiền muộn, sự ân hận tiếc nuối, lo lắng,… và cả việc không cam chịu, không chấp nhận cái chết tìm đến họ qua những hình ảnh vùng vẫy, giẫy dụa,… như là cố níu kéo lại mạng sống, hơi thở của chính mình nhưng việc làm đó thật sự vô ích. Tìm hiểu thêm chú em sẽ biết những người già lẩn, những người khó khăn với con cháu, những người có tính gia trưởng, độc đoán, cố chấp, hay can thiệp vào công ăn, việc làm của con cháu, ham muốn thể hiện mình,… thường phải nhận lấy những cái chết bi thảm, vật vã. Bởi lẽ tính cách cố chấp, bảo thủ,… khiến họ không can tâm, không chấp nhận việc già chết là một việc tất yếu, không thể tránh khỏi của đời người. Tóm lại, do không hiểu biết và chấp nhận “Bản thân đã già yếu” những người cao tuổi này đã không có thời gian chuẩn bị cho những ngày cuối đời. Họ không có được thời gian nhàn hạ, tự tại, hàm dưỡng nội tâm, giữ tâm trí minh mẫn, sáng suốt, kiên định. Việc lo nghĩ đa đoan làm suy kiệt tinh thần và thể chất gây nên việc rối loạn trí nhớ, già lẩn ở người cao tuổi. Do không chấp nhận việc già chết là việc không thể tránh khỏi cho nên khi cận kề với cái chết những người cao tuổi này sẽ hoảng loạn, cầu cứu, bám víu sự sống một cách tuyệt vọng, đau đớn. Già đã sống đến từng tuổi này để nhận biết sáng rõ “Việc dừng lặng, buông bỏ những suy tư, lo nghĩ,… giúp tinh thần của người già luôn minh mẫn, sáng suốt; cơ thể thì ít bệnh tật”. Nếu người cao tuổi nào cũng có lối sống lành mạnh, tỉnh táo như thế thì già tin chắc rằng “Căn bệnh già lẩn quái ác sẽ không thể gây khó, bức hại người già”.
Nhóm thứ hai là nhóm những người thương yêu, bảo bọc, chăm lo con cái từ miếng ăn, giấc ngủ,… Sự thương yêu khiến họ luôn nghĩ con trẻ còn nhỏ dại, yếu đuối,… Họ ra sức chở che, tiếp sức,… mọi việc. Họ không an tâm khi con trẻ tham gia làm những công việc mới mẻ, khác lạ. Họ sợ lũ trẻ sẽ làm hỏng việc, thất bại. Vì thế họ sẽ ngăn cản, cấm đoán con cái làm những việc mà họ không thông hiểu, rõ biết. Họ ép buộc con trẻ vào những khuôn khổ, những công việc giới hạn mà theo sự hiểu biết của những người làm cha mẹ là “Tốt nhất cho con”. Việc này khiến cho những đứa trẻ trở nên bạc nhược, yếu đuối, sống ỷ lại vào cha mẹ. Vạn nhất cha mẹ đột ngột qua đời thì những đứa trẻ đó sẽ khó thể vững vàng sống tốt trong xã hội. Hoặc là đến khi những đứa trẻ lớn lên. Một số vẫn giữ lối sống ỷ lại, dựa dẫm vào người khác, những người con thuộc nhóm thành phần này là những người có lớn nhưng không có khôn, chúng sẽ khó thể xây dựng cuộc sống tự lập hài hòa, hạnh phúc. Số khác nhận ra những điều không ổn, vô lý khi cha mẹ cứ trói buộc họ vào những công việc, những nghĩ suy không đúng với sở thích, năng lực của bản thân. Kết quả sẽ dẫn đến những tranh cãi, chống đối lại những quyết định mang tính áp đặt, ràng buộc của người lớn. Mâu thuẫn sẽ lớn dần tạo nên hố sâu tình cảm giữa cha mẹ và con cái. Mâu thuẫn này phát sinh do sự sai khác về nhận thức giữa hai thế hệ. Trong khi thế hệ người cao tuổi cho rằng “Con cái vẫn còn nhỏ dại, chưa lớn khôn” thì thế hệ trẻ lại nhận thấy “Cha mẹ đã già, lớn tuổi”. Khi mà sự khác biệt về nhận thức giữa hai thế hệ không được dung hòa ổn thỏa thì những chống trái, xung đột,… không ngừng nảy sinh, gây ra sự đổ vỡ, ly tán gia đình. Kết quả là cả hai thế hệ đều chuốc lấy khổ đau, muộn phiền. Lẽ ra những người làm cha mẹ phải biết thời điểm dừng lại và hiểu rõ đạo lý “Tre già, măng mọc”. Chỉ khi chuyển giao vai trò làm chủ cho thế hệ trẻ thì con cái mới có thể khôn lớn, trưởng thành và họ mới có cuộc sống nhàn hạ, thảnh thơi.
Tôi lại hỏi: Giả như những người con vẫn muốn dựa dẫm, nương nhờ sự nâng đỡ, dìu dắt của cha mẹ. Trong trường hợp này có phải người làm cha mẹ sẽ tiếp tục bảo ban, quán xuyến mọi việc cho con cháu đến lúc cuối đời không?
Ông lão trả lời: Chú em ngốc thật hay là giả ngốc? Nếu hiểu biết chú em sẽ nhận ra những con gà rừng, heo rừng,… thường thích ứng rất tốt trong môi trường sống hoang dã ít thức ăn, nhiều kẻ thù. Bởi vì những chú heo rừng, gà rừng,… ngay từ nhỏ đã được tập sống quen dần với những khó khăn, khắc nghiệt. Ngược lại, những con gà nuôi, heo nhà,… thì lại dễ nhiễm bệnh tật dù rằng “Đồ ăn, thức uống, thuốc bổ dưỡng thì luôn được bày sẵn”. Kết quả là lũ thú rừng thích ứng tốt sẽ sống khỏe mạnh đến lúc cuối đời còn lũ thú nuôi chỉ là “Đồ bị thịt” lại sớm lên bàn mổ. Thực tế là con người khi sống trong môi trường nhiều khó khăn, thử thách thường sớm trưởng thành, chững chạc hơn những người sống trong môi trường được nâng đỡ, che chở quá mức của cha mẹ. Người cao tuổi từng trải rõ biết điều đó và giúp con cái có ý thức, lối sống tự lập, tránh cho con cháu trở thành “Đồ bị thịt”. Họ biết được giới hạn tình yêu thương, sự bảo bọc, nâng đỡ đối với con cái. Họ chấp nhận sự vấp ngã, thất bại ở thế hệ trẻ vì “Mỗi lần vấp ngã là một lần bớt dại, ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần”. Sự vấp ngã là bài học mà mỗi người đều phải tự học lấy để thích ứng, sống tốt hơn và người già không thể chăm lo, sống mãi với con cháu. Mặt khác, người cao tuổi hiểu biết cũng nhận biết “Sự sống là của con cháu, họ không thể sống thay thế hệ trẻ. Còn cái chết sẽ đến với họ và con cái cũng chẳng thể chết thay”. Họ cũng cần có thời gian quen dần và chấp nhận cái chết. Vì thế người cao tuổi từng trải hiểu biết sẽ buông bỏ mọi việc cho con cháu, dừng lại những lo nghĩ đa đoan, quay về lối sống tĩnh lặng, an nhàn.
Tôi tiếp lời: Việc chuyển giao hết quyền hành, công việc, tài sản,… đồng nghĩa với việc người cao tuổi không còn gì cả. Chuỗi ngày còn lại chủ yếu sống dựa con cháu. Nếu chẳng may gặp phải con cái ngỗ nghịch, bất hiếu,… xem người già là đồ vô tích sự, đồ đáng bỏ đi,… thì quả thật là những ngày cuối đời của người cao tuổi bi thảm, cùng quẩn. Có lẽ người cao tuổi nên chuẩn bị sẵn cho mình một số tài sản đảm bảo cho đến ngày nhắm mắt, nên chăng?
Ông lão khẽ cười nói: Chú em thật là…! Đã nói buông bỏ mọi thứ mà còn giữ lại “Tài sản hộ thân” thì làm sao dứt bỏ lo nghĩ được. Hơn nữa, không sống thành thật, bao dung với con cháu, còn “Rào trước, đón sau” thì làm sao con cháu có thể sống với người cao tuổi bằng tình thương chân thành cho được. Chú em phải hiểu rõ là “Khi con người gieo nhân yêu thương, hòa hợp, ấm êm và hiểu biết thì sẽ nhận được quả tốt là sự hiếu thuận, thảo hiền, chân thật,… Ngược lại, khi con người gieo nhân ngang tàng, bạo ngược, ích kỷ, ganh ghét, tranh giành,… thì sẽ nhận lấy quả báo là sự mất mát, lẻ loi, cô độc, mọi người xa lánh,…”. Mặt khác, nếu chẳng may gặp phải con ngỗ nghịch, bất hiếu thì người cao tuổi phải sớm nhận biết đó là lỗi của chính mình vì đã không biết cách nuôi dạy con. Xuất phát từ tình thương chân thành, người làm cha mẹ sẽ có phương cách chỉ dạy những người cháu ngoan hiền, tự khắc con cái nhận ra lầm lỗi, trở nên hiếu thuận. Chỉ khi con cháu xua đuổi, ruồng bỏ,… thì người cao tuổi cứ an nhẫn bước đi vì sự hiểu biết từng trải sẽ giúp người cao tuổi nhận ra: Là cha mẹ không ai lại “Tranh ăn” với con cháu. Người cao tuổi từng trải một khi nhận ra “Con người, chính ngay mạng sống của bản thân còn không thể làm chủ được thì việc tranh giành vai trò làm chủ gia đình, tài sản, của cải,… có ích lợi, có giá trị gì?”. Khi người cao tuổi nhận thức, chấp nhận “Cái chết sẽ đến với mình là một việc hiển nhiên, không thể né tránh” thì có khó khăn, chướng ngại nào mà họ không thể vượt qua. Người cao tuổi từng trải sẽ kiên định, quả cảm đối diện với cuộc sống gian truân, ngang trái,… bởi lẽ chết đã không sợ thì có gì đáng để lo nghĩ.
Tôi buộc miệng: Người cao tuổi mà sống kham nhẫn, chịu đựng như vậy hẳn là con cháu chẳng thể xa lánh, rời bỏ cho được. Nhưng ông lão à! Liệu ông lão nói được mà có làm được như vậy không? Hay là khi ông gặp cảnh “Trái ý, nghịch lòng” thì mặc tình “La con, mắng cháu”, nguyền rủa ông bà, tổ tiên,...
Ông lão nghiêm giọng: Chú em nói đúng lắm! Mọi người, ai cũng có thể hiểu biết, lĩnh hội hết những điều ta đã trao đổi với chú em nhưng sống được như thế quả thật là không dễ. Vì thế ngay khi hiểu chuyện thì chú em hãy tập sống với những điều đã lĩnh hội, tạo thành một thói quen tốt. Đừng chờ đợi đến khi lớn tuổi rồi mới áp dụng, già chỉ e rằng “Khi đó, chú em lại trở thành một con vẹt, nói được mà không hiểu đang nói gì và cũng không làm theo được” bởi vì thói hư, tật xấu đã thành thói quen, không dứt bỏ được. Ở từng tuổi này, già đã gặp không ít cảnh đời “Dở khóc, dở cười” - Rất nhiều người khuyên bảo, chỉ dẫn người khác sống tốt - đừng gia trưởng, độc đoán, cố chấp, bảo thủ, đừng cáu gắt, khó tính, trì chiết, rầy la,… con cháu nhưng nhìn lại thì chính họ lại là người mắc nhiều tật xấu nhất và về sau những người đó rơi vào tình cảnh lú lẩn, đần ngốc,... Thật đáng tiếc! Người xưa dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” nghĩa là trước nhất phải xét bản thân có mắc sai trái gì, sau đó mới xét đến người xem có lỗi lầm gì. Sau khi xét kỹ mọi việc thì mới khách quan mở lời góp ý, sửa sai. Con người thời nay thì lại khác, chỉ mãi lo xoi mói, phanh phui,… lỗi lầm của người; Quên bỏ, che giấu,… những sai trái của bản thân - Việc làm thành công thì ra sức tâng bốc, kể lể công trạng; Việc làm sai trái thì lờ đi, lảng tránh hoặc đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho người khác,… Thật ra chú em đang đứng trước sự chọn lựa của một đời người và phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả của việc chọn lựa. Về sau chú em sẽ không thể đổ lỗi, trách hờn,… bất kỳ ai vì đó chính là chọn lựa của chú em. Một là chú em sống lành mạnh, có hiểu biết, yêu thương đúng mực, biết dừng lại, tạo điều kiện cho con cháu tự lập tốt; sống gần gũi, hài hòa với con cháu … thì chú em sẽ có thời gian nghỉ ngơi, sống an nhàn, minh mẫn, khỏe mạnh đến cuối đời; Hai là chú em sống gắt gỏng, khó khăn, ham tranh giành vai trò làm chủ, cố chấp, bảo thủ, chuyên quyền,… thì mọi người sẽ phải xa lánh, rời bỏ,…Chú em phải chịu cảnh lẻ loi, cô độc khi tuổi già, sức yếu và căn bệnh già lẩn sẽ có dịp tàn phá khiến cho tâm trí chú em trở nên si dại, đần ngốc,… Có lẽ đây là cảnh đời mà chú em không mong muốn mình nhận lấy. Vì thế ngay bây giờ chú em hãy chọn con đường để mà đi, già lẩn rồi thì sẽ không còn cơ hội chọn lựa. Chú em có biết rằng “Ngày nay những người cao tuổi thường dễ bị đột quỵ do tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim không?”. Những đè nén, ức chế tinh thần do tính cố chấp mà những người cao tuổi đã bị bệnh tật xâm hại. Cả những căn bệnh như tiểu đường, béo phì, thoái hóa khớp, giảm trí nhớ,… ít nhiều cũng do những tổn thương về tình cảm , tinh thần. Những tổn thương tinh thần đã gián tiếp hay trực tiếp tàn phá, làm hao mòn trí não, thân thể người già. Có phải là những người giữ được sự hài hòa, cân bằng giữa tinh thần và vật chất thì ít bệnh tật còn những người làm việc quá sức hoặc lo nghĩ nhiều thì dù có tích góp rất nhiều tài sản, của cải thì cũng không thể thọ hưởng dài lâu vì bệnh tật, khổ đau,… sẽ làm những người lao tâm, lao lực sớm ngã quỵ?

Như tôi đã trình bày ở trên, nhìn những người cao tuổi già lẩn khiến lòng tôi nặng trĩu. Tôi thật lòng muốn giúp họ thoát ra căn bệnh già lẩn quái ác nhưng biết làm sao khi đó chính là chọn lựa của những người cao tuổi khó tính, không mở lòng ra để sống tốt hơn. Tôi lại nhận biết được một phương pháp giúp người cao tuổi nâng cao trí nhớ, sự tập trung, giữ được sự cân bằng về tinh thần, giảm trừ bệnh tật, sức khỏe ổn định. Phương pháp ngồi thiền là trợ pháp hữu hiệu giúp người cao tuổi có được sự minh mẫn, sáng suốt,…
Những lúc rảnh rỗi, ít việc bạn hãy rèn luyện việc ngồi thiền. Việc ngồi thiền sẽ giúp thần trí bạn được ngơi nghỉ, cân bằng lại; Bạn có khoảng thời gian thoát ra khỏi những lo lắng, chộn rộn,… trong cuộc sống hàng ngày.
Hãy xem những trang viết này như là một món quà. Chúc mọi điều tốt đẹp đến với bạn và bạn hãy luôn sống vui tươi, hạnh phúc!

Không bao giờ là muộn cho việc sửa sai.
Không bao giờ là sớm cho việc rèn luyện một thói quen tốt.


VÔ ƯU
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 3 12, 2015 9:36 am

Cảnh tỉnh những người đang trì chí tìm Đạo.
Đừng chấp chặt vào câu “Chúng sinh khổ lạc tùy duyên”. Đó chỉ là câu an ủi khi một ai đó bị gục ngã trên đường, để người đó bình tâm trở lại, trước khi nghe một bài pháp và người đó tự đứng lên tiếp tục bước đi. Nếu thật là “Chúng sinh khổ lạc tùy duyên”, Thế Tôn đã không từ chánh định mà nhập thế trải qua 49 năm thuyết pháp. Đừng hiểu lầm tâm Phật!
Đừng chấp chặt vào ý nghĩ “Chiếc bè của tôi nhỏ bé không đưa được nhiều người qua sông, đưa nhiều người đi như vậy rất nguy hiểm. Bè tôi chỉ có thể đưa mỗi mình tôi qua sông. Tôi qua được bên sông rồi sẽ nghĩ cách giúp người khác qua sông. Có thể bằng cách thả chiếc bè qua bên này sông để mọi người có phương tiện bơi qua”. Điều này thể hiện cái bản ngã và ích kỷ của bạn. Cả hai điều này người tu hành cần ngay lập tức buông bỏ. Thật ra, ai cũng có một chiếc bè. Có thể nhiều người có những chiếc bè lớn nhưng họ mải mê quên mất việc qua sông, bạn nên đến giúp họ nhớ ra. Khi có nhiều người cùng đi sẽ an toàn hơn cho bạn. Rủi như giữa dòng, bè của bạn bị hư hỏng, những người có bè lớn sẽ cho bạn nương nhờ. Mọi người sẽ phụ giúp bạn sửa chiếc bè của bạn. Khi chiếc bè bạn đã được gia cố chắc chắn thì cuộc hành trình sẽ tiếp tục. Hơn nữa, trong số đông những người đi cùng sẽ có những người sáng suốt và những người rành về dòng sông, con nước. Họ sẽ giúp cuộc hành trình qua bên sông được thuận lợi, đảm bảo đi đúng đường, đúng hướng không lạc vào ngã rẽ, không vướng lại ở những bến bờ,... Bạn sẽ về đến đích nhanh hơn.
Nhưng điều quan trọng nhất là bạn phải tìm được nhiều người bạn tốt. Bạn cũng đừng lôi kéo, cưỡng cầu người khác qua sông một cách thái quá. Việc này làm mất thời gian của bạn và làm người bị lôi kéo bực dọc, xem thường tam bảo. Điều này có hại cho họ và người tu hành thì không làm người khác không vừa ý.
Thêm một lý do khác để bạn nên có những người bạn đồng hành. Đã có nhiều người có chí nguyện xuất trần, tinh tấn hạ thủ công phu. Một mình dũng mãnh bước đi trên con đường đạo. Ban đầu, người này đi rất đúng hướng, có được chút kết quả, phát sinh thần thông như có thể xuất hồn đi dạo hoặc đạt được thiên nhãn,... Chỉ tiếc chưa đạt được chánh định nên ngộ nhận đi đúng chánh pháp, mê mải đuổi theo thần thông.
Kết quả là nuôi bản ngã thêm lớn, lạc vào lối rẽ rơi vào ma đạo. Vọng tưởng đạt đạo, chối bỏ pháp Phật sinh tâm khinh mạn.
Nghĩ thật đáng tiếc! Một lời nhắn gửi tha thiết đến các bạn đồng tu “Trong quá trình tu tập nếu phát sinh thần thông mà chưa đạt được chánh định, hãy nên xả bỏ quay về hạ thủ công phu sao cho đạt được chánh định thì bạn sẽ sớm thành tựu trên con đường đạo”.
Thật ra, việc phát sinh thần thông chỉ giúp cho bạn có thêm niềm tin sâu vào chánh pháp nhưng nếu bạn đeo đuổi theo thần thông thì ngay lập tức rơi vào ngã rẽ, đường cùng mà thôi.
Đừng quá chấp chặt vào ý nghĩ “Tham tâm cầu pháp, mong cầu chóng đạt thành đạo quả”. Hãy giữ tâm bình thường mà cầu pháp! Đừng quá dễ duôi, giải đãi cũng đừng quá gò bó, khổ nhọc dụng công. Cả hai hình thức trên đều gây cảm giác mệt mỏi, chán chường không có lợi cho việc tu học.
Việc học Phật là buông bỏ những ham muốn, mong cầu. Thế nên, cho dù là cầu pháp cũng rơi vào ma chướng vì tâm ma sẽ nhận ra sự mong cầu trong tâm người học Phật, tâm ma sẽ lưu xuất dẫn người tu học rơi vào ngã rẽ.
Đừng chấp chặt vào ý nghĩ “Tôi lập hạnh bồ tát, tôi phải hướng dẫn giúp mọi người lên hết trên bờ bên kia rồi tôi mới qua sông”. Một ý nghĩ rất tốt nhưng để thực hiện được thì điều kiện duy nhất là bạn phải thật sự là Bồ tát.
Vì sao?
Nếu bạn không thực sự là Bồ tát thì khi chỉ dẫn mọi người sang đến bờ bên kia thì chiếc bè của bạn đã cũ nát; Chỉ còn lại mỗi mình bạn, niềm tin bị lui sụt và bạn không còn đủ thời gian và sức lực để qua đến bờ bên kia.
Với phước báo tạo ra, bạn sẽ sinh về cõi Trời ở trên đó nhiều ngàn năm thọ hưởng vui thú, bạn sẽ quên đi mục đích quan trọng nhất của một đời người.
Hết phước, bạn rơi vào 6 đường, nhập thai trưởng dưỡng. Thời gian ở trong thai ngục chịu nhiều bức ngặt, một lần nữa thần thức mê mờ. Đến khi sinh ra sẽ trở về làm một chúng sinh luân hồi trong 6 nẻo.
Vì thế nên ngay ở cuộc hành trình đầu tiên, bạn phải là một hành khách trong số những người vượt sông hôm đó.
Tôi cũng không chủ trương khuyên bạn phải cắt ái, ly gia, bạn vẫn có thể cùng gia quyến, họ hàng qua sông. Chỉ trừ khi bạn có chí nguyện lớn, muốn cứu khổ chúng sinh trong 3 cõi và có đủ nhân duyên xuất gia.
Nhắn những ai muốn đi tìm đạo mà tâm kiêu mạn không dứt, tự phụ thông minh hoặc vướng vào định kiến của khoa học hoặc là tín đồ thuần thành của tôn giáo khác,... Hãy xem những bộ kinh Phật như: Kinh Trường a hàm, Đại Bát Niết bàn, Nikaya, Mi tiên vấn đáp,... sẽ lập tức giật mình trí tuệ bát nhã của đức Phật, trí tuệ cách đây hơn 2500 năm quá thâm diệu, bao nhiêu hào khí kiêu mạn, tự phụ ngay đó tan thành tro bụi, tin sâu Phật pháp tự biết đã gần đạo.
Còn những tín đồ tôn giáo khác cứ mượn pháp hành trì Phật không yêu cầu bạn bỏ tôn giáo cũ quy y Tam bảo, cứ theo chánh pháp hành trì thì không có lỗi.
Khi Phật tại thế, Người chẳng phải là đã thuyết pháp độ sinh cho cả chúng sinh trong 3 cõi. Tôn giáo khác theo học chánh pháp đạt đạo không ít. Việc quy y Phật, đối với Phật mà nói như bóng trong gương, như trăng đáy nước, như dấu chim bay trên không,...
Đáng tiếc, người đời u mê ngộ nhận tâm Phật tạo ra đạo Phật cách biệt thế gian. Nào hay vào cửa Phật là vào không môn. Không môn, không đạo chính thật là chánh đạo.
Phương pháp tìm thể và dụng của Đạo.
Thể tịnh như hàn thạch, dụng mãn thiên hoa vũ.
Để rõ nghĩa hơn tôi xin tỏ bày phương pháp tìm đạo của bản thân. Khi tôi nhận rõ lý vô thường thì sự vẫn không đạt được nên đối cảnh sinh tâm, buồn lo đau khổ không dứt. Về sau, tôi nhận ra tự thân không sống được trong đạo lòng bấn loạn, không an cho đến cùng cực phát sinh diệu ý - Phải giết chết cảm giác, tri giác,... bằng cách sống mà như chết.
Nhưng vì không thật chết nên việc ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc, hành trì không gián đoạn. Sống mà như chết nên không dính mắc vào việc làm, đối cảnh không còn sinh tâm như một xác chết. Thật đúng là tĩnh lặng như băng đá.
Giữ mãi thể tịch tịnh như thế lâu ngày, dài tháng đạt được chánh định.
Không cần miên mật giữ, thể vẫn rỗng rang, tịch tịnh vì không xuất thế gian nên vẫn nhận rõ các pháp thế gian nhận thấy khổ đau trong ba mẹ, anh em, người thân,... xót thương nhưng vẫn giữ vững chánh định, tâm từ bi tăng trưởng ngày một lớn thêm, lưu xuất ý cứu khổ nhân loại và muôn vật nhưng mình chưa đạt được an lạc sao có thể giúp người?
Nghe tin người bạn mất, vợ chồng người bạn và gia đình bất hòa càng nung nấu ý chí cứu khổ. Ngộ nhận ép thân đạt đạo, quay về kiểm nghiệm lối tu khổ hạnh.
Sau một thời gian dài, chánh định cảnh tỉnh “Chết chẳng thể giúp được người”. Bất chợt, tôi đạt đạo - Ta chưa từng sống. Ngay đó, tôi nhận được đóa vô ưu. Dụng tự lưu xuất như mưa gió đầy trời - Mãn thiên hoa vũ.
Những ai muốn tìm đạo chân chính, những người sống trong tuyệt vọng cứ y pháp hành trì sẽ mau chóng liễu ngộ. Đây chỉ là một trong muôn pháp giải thoát của đức Phật. Nếu thông đạt một pháp thì bạn sẽ nhận rõ muôn pháp.
Sự khác biệt về phương cách hành đạo của chúa Jesu, Phật Thích Ca và Vô Ưu:
Chúa Jesu ra đời để cứu sống người chết, chữa lành người bệnh, chết được sinh về cõi thiên đàng. Phật Thích Ca ra đời giúp người sống được an lạc, người chết được giải thoát, chứng nhập niết bàn. Vô Ưu ra đời với câu nói “Hãy để người chết yên nghỉ và người sống hãy sống lại”.
Câu nói này được diễn đạt rõ nghĩa hơn là Vô Ưu đến giết chết người chết và cứu sống người sống.
Đốn ngộ, tiệm tu theo cách nhìn của Vô Ưu.
Qua một câu chuyện, Vô Ưu sẽ nói về tiệm tu và đốn ngộ.
Ví như có một bậc minh sư ẩn cư trong một ngôi chùa nhỏ, ở một khe núi hoang vắng. Một hôm, có hai người đến tìm đạo xin được làm đệ tử. Sau một thời gian thử thách, bậc minh sư nhận rõ hai người đệ tử. Có người căn tánh lanh lẹ, thông minh xuất chúng, có niệm tin sâu vào đạo. Người còn lại có phần chậm lụt hơn nhưng cũng có niềm tin về đạo sâu sắc. Vào một đêm trăng sáng, vị minh sư chỉ vầng trăng và nói “Cả hai con đều có một vầng trăng sáng viên dung tuyệt đẹp ở trong tâm”. Ngay đó, người lợi căn liền nhận ra bản tâm của mình. Người chậm lụt nhìn thấy trăng trên trời đẹp nhưng cao quá, lại thấy có vầng trăng sáng tròn đầy nguyên vẹn ở trong hồ nước. Muốn nhìn trăng cho rõ hơn, anh múc nước trong hồ đổ đi. Cứ mỗi lần anh ta múc nước thì ánh trăng tan mất, anh chờ đợi ánh trăng nguyên vẹn rồi lại múc nước đổ đi. Cứ thế ... cứ thế ..., anh ta có niềm tin sâu sắc “Khi nước trong hồ cạn dần đi thì anh ta sẽ gần với vầng trăng hơn”.
Ngày tháng qua mau, nước trong hồ đã cạn, anh ta nhận ra “Trong hồ không có vầng trăng nào cả". Tuyệt vọng, anh ngồi xuống và ngước nhìn lên bầu trời, cũng đúng vào đêm trăng tròn tuyệt đẹp. Anh chợt nhận ra trăng đáy nước do trăng trên bầu trời mà có. Bấy lâu nay, ta đi tìm bóng ở trong gương. Nhớ lại lời dạy của vị minh sư, anh có ngay vầng trăng viên dung tuyệt đẹp ở trong tâm.
Sẽ có rất nhiều người đọc xong mẩu chuyện này sẽ cười anh chàng múc nước tìm trăng thật ngu ngốc, đáng thương hại.
Còn bạn thì sao bạn có tin trong bạn có vầng trăng viên dung tuyệt đẹp và bạn sẽ tìm thấy vầng trăng đó bằng cách nào?
Còn anh chàng kia không chắc đã đáng thương hại bằng bạn. Ít nhất anh ta cũng đã tìm được vầng trăng ở trong tâm.
Người tu đốn ngộ như chàng thanh niên căn tính lanh lợi là bậc thượng căn nghe thấy liền biết. Người tu đốn ngộ trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Khi được thiện tri thức khai ngộ tự tu, tự chứng nhanh chóng đạt thể.
Đáng tiếc, do dễ dàng đạt quả vị A la hán nên chí nguyện phần nhiều không lớn. Tự liễu thoát sinh tử cho mình. Việc độ thoát chúng sinh trong 3 cõi tùy duyên.
Hãy mau nghĩ tưởng bi nguyện của Phật! Trả ơn tam bảo lập hạnh Bồ tát. Nhập thế độ sinh làm đấng trượng phu trong tam giới. Tam giới chúng sinh căn tánh lợi độn muôn ngàn sai biệt, việc thuyết pháp tùy theo căn tánh.
Người tiệm tu như chàng thanh niên múc nước tìm trăng, cực khổ vô cùng mới tìm được đạo. Hiểu mình, hiểu người, thương tưởng chúng sinh trong 3 cõi thường phát chí nguyện lớn. Cứu độ khắp hàm linh.
Tuy nhiên, người tiệm tu mất nhiều thời gian múc nước tìm trăng, việc hoằng dương chánh pháp cũng ít nhiều hạn chế. Dẫu sao cũng là đấng trượng phu trong tam giới.
Chúng sinh trong 3 cõi 6 đường hãy tự chiêm nghiệm xem mình là bậc thượng căn, đại trí hay người hạ căn, chậm lụt tùy nghi tiệm tu hay đốn ngộ chóng viên thành Phật quả. Thân người khó được, chánh pháp khó tìm cầu. Nếu được làm người, hãy mau tu tập thoát khỏi mọi khổ não của thế gian, rời xa tam giới vô thường, khổ, không, vô ngã, thể nhập Niết bàn.

VÔ ƯU
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Chủ nhật Tháng 4 05, 2015 10:19 pm

10 câu hỏi về thôi miên

Posted on 12/07/2013 bởi ngothithuhuyen

Các cơ chế của thôi miên vẫn còn nhiều bí ẩn, nhưng hiệu quả của nó thì không còn phải nghi ngờ gì nữa…
Có phải chúng ta đang chứng kiến sự “trở lại” của thôi miên? Từ nhiều tháng nay, kỹ thuật trị liệu này được nhắc tới ở khắp nơi, trong các cuốn sách của các nhà xuất bản, trên các diễn đàn Internet, các cuộc hội thảo, các lá thư của độc giả gửi tới… Cứ như là tiềm năng của thôi miên đang được khám phá lại, với sự vào cuộc của cả các nhà trị liệu, các nhà tâm thần, ngành y, cũng như xã hội; và rằng liệu tiếng xấu của nó có đang mờ đi. Vì vậy, với 10 câu trả lời, những điều cơ bản của phương pháp này tập trung vào khả năng kỳ diệu của bộ não của chúng ta.
Thôi miên là gì?
Tất các các chuyên gia đều có định nghĩa riêng của mình và không có lý thuyết nào là bao trùm. Hiện tượng thôi miên rât phức tạp đến nỗi các nhà thực hành nói rằng có nhiều loại thôi miên. Chỉ có 1 điều chắc chắn rằng, đó không phải là trạng thái của giấc ngủ, mà là là một trạng thái mà ở đó xảy ra sự biến đổi ý thức, giống như giấc mơ, hôn mê, sự thư giãn, các kinh nghiệm thần bí, thiền…
Một sự “hôn mê có tính thôi miên” tương ứng với thay đổi sự chú ý thông thường – sự chú ý của ý thức cho phép chúng ta lý lẽ, và ứng xử cuộc sống thường ngày. Nhưng sự hôn mê thôi miên có những đặc trưng riêng: trong một môi trường đơn điệu mà chẳng có điều gì diễn ra, trong đó các kích thích ít mạnh mẽ, não của chúng ta ở vào tình trạng “thiếu” thông tin. Não của chúng ta bắt đầu tự sinh ra trong nó các hình ảnh từ vô thức. Theo một cách nào đó, chúng ta “mơ” nhưng ý thức vẫn còn. Ngoài ra, ngược lại với trạng thái cảnh giác lúc bình thường, sự chú ý, ý thức tập trung vào nhiều trung tâm chú ý cùng một lúc và chuyển nhanh từ đối tượng này sang đối tượng khác, nhưng trong thôi miên thì sự chú ý tập trung vào đối tượng hẹp hơn nhiều. Như vậy, dần dần, người bị thôi miên quên đi hiện thực bên ngoài để đi vào hiện thực bên trong nhưng người đó vẫn như đang sống một thế giới sống động bên ngoài.
Chỉ có một ngoại lệ: giọng nói của người thôi miên vẫn tiếp tục được nghe thấy. Lời nói của người thôi miên trở thành một kích thích rất đặc biệt làm tăng sức mạnh của ám thị. Điều này gây ra sự biến đổi về tâm lý và thể chất một cách bất thường (biến mất ngay lập tức các cơn đau hoặc bệnh ngoài da…). Tại sao? Như thế nào? Đó vẫn còn là điều bí ẩn cho đến ngày nay…
Thôi miên đã được chứng minh về mặt khoa học?
Các tác động của thôi miên thì đã được chứng minh về mặt khoa học. Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các ám thị thôi miên dẫn tới các đáp ứng về mặt thần kinh. Ví dụ, vào năm 1997, GS. Stephen Kosslyn, khoa thần kinh của Bệnh viện đa khoa Massachusetts, Boston đã đưa ra nghiên cứu: ông đã giới thiệu với một nhóm 16 người môt bảng màu có chia màu và một bảng màu nhạt dần của màu xám. Các phản ửng của bộ não được ghi lại bởi máy chụp cắt lớp. Trong trạng thái thôi miên, người ta yêu cầu mỗi người (trong số 16 người) “nhìn thấy” màu sắc ở bảng màu xám, thiết bị ghi nhận rằng, một trong các vùng nhận biết màu sắc đã bị kích hoạt: não đã phản ứng như là nó nhìn thấy màu sắc ở bảng màu xám, và đó là điều mà ám thị yêu cầu.
Một buổi thôi miên diễn ra như thế nào?
“Ngủ đi, tôi muốn bạn ngủ!” Công thức kinh điển này từ nay trở đi được dành cho các phòng nhạc… Được thực hành bởi các nhà tâm lý trị liệu, thôi miên được nâng lên dần dần. Một buổi thôi miên kéo dài khoảng 45 phút. Người được thôi miên nằm trên một chiếc giường hay ghế, người đó nằm nhắm mắt hoặc cố định mặt tại một điểm cố định trong phòng. Ngồi trên 1 chiếc ghế bên cạnh, nhà trị liệu làm thư giãn người được thôi miên. Đó là giai đoạn “tiền dẫn dụ”. Một số chuyên gia sử dụng các thiết bị âm thanh phát ra bản nhạc làm thư thả tinh thần, và nói với một giọng nhẹ nhàng và đơn điệu. Họ đề nghị người được thôi miên tập trung vào các vùng trên cơ thể: đó là giai đoạn “dẫn dụ”, cho phép người được thôi miên tập trung sự chú ý của họ vào chính bản thân họ. Một trạng thái mơ màng (ngủ gà) có thể được thiết lập.
Nhà trị liệu kiểm tra lại trạng thái của người được thôi miên bằng cách yêu cầu họ giơ một tay lên hoặc ra dấu ngón tay. Nếu người được thôi miên đáp ứng lại yêu cầu, thì người đó đã ở trong trạng thái thôi miên. Sau đó, nhà trị liệu lặp lại các ám thị, trực tiếp (“cơn đau ở cánh tay của bạn biến mất”) hoặc gián tiếp (“bạn đang ở một nơi rất dễ chịu”).
Cuối buổi, người được thôi miên tỉnh dậy một cách nhẹ nhàng khi đếm ngược, để lấy lại sự kiểm soát cơ bắp và quay trở lại với hiện thực mà không có cảm giác khó chịu. Sau đó, người được thôi miên và người thôi miên sẽ bình luận về buổi làm việc.
Ví dụ: một người khó đối diện với việc sắp về hưu đã tìm thấy trong trạng thái thôi miên các ký ức về những sự thay đổi khác (bắt đầu vào lớp một, hay cấp ba, vào đại học, lập gia đình, có con…). Với sự trị liệu, anh ta phân tích sự những sự kháng cự đó, cũng như những lợi ích của sự thay đổi, “kịch bản lý tưởng” cho phép anh ta thực hiện sự thay đổi tích cực từ bên trong.
Có những kỹ thuật thôi miên nào?
Người ta phân biệt 4 loại kỹ thuật
o Truyền thống: người thôi miên giữ vai trò quan trọng, anh ta định hướng buổi làm việc. Anh ta đưa ra các ám thị trực tiếp (được gọi là “mệnh lệnh”), trong khi người được thôi miên trở nên thụ động.
o Bán truyền thống: người thôi miên luôn luôn giữ vai trò định hướng, đưa ra cả các ám thị trực tiếp và gián tiếp.
o Mới: tập trung vào cá nhân người được thôi miên và mối quan hệ với nhà trị liệu, bằng cách trao đổi, thông tin.
o Theo Erickson: người được thôi miên tham gia vào điều kiện thôi miên. Nhà trị liệu sử dụng các ẩn dụ để tự vô thức của chủ thể lựa chọn các giải pháp cho các vấn đề của nó.
Tất cả mọi người đều có thể bị thôi miên?
Theo thang “khả năng ám thị của thôi miên” được xây dựng bởi trường Đại học Stamford, 5% dân số là trơ đối với thôi miên, 10% dân số vào trạng thái thôi miên sâu và nhanh. Nhưng người ta bỏ qua việc tại sao cho tới ngày nay vẫn không có chứng minh nào về mối tương quan giữa cấu trúc nhân cách của cá nhân và khả năng ám thị.
Thôi miên trị liệu có những tác động gì?
Ở Pháp, hơn một ngàn nhà thực hành dùng đến thôi miên. Trong nhiều trường hợp, chính thôi miên là phương pháp trị liệu, trong nhiều tình huống khác thì thôi miên hỗ trợ rất tốt cho việc chữa bệnh.
Các tác động có thể kể đến như
o Dừng hút thuốc: 80% tỷ lệ thành công. Thôi miên giúp người cai chống đỡ các vấn đề sau khi cai.
o Thừa cân và ăn vô độ: thôi miên có tác dụng tốt trong nâng đỡ tâm lý trong các đợt chữa trị giảm béo.
o Chống đỡ lại cơn đau: thôi miên không thay thế cho việc gây tê, nhưng có thể hỗ trợ gây tê và cho phép giảm liều lượng thuốc. Thôi miên được dùng ngày càng nhiều trong nha khoa.
o Những khó khăn trong tâm lý: căng thẳng, ám sợ, nhiễu tâm, lo lắng, cả chững bất lực, lãnh cảm, vấn đề về sợ đám đông, trí nhớ…
o Những khó khăn của tiêu hóa: viêm loét, viêm đại tràng hoặc tiêu chảy do căng thẳng.
o Các bệnh tâm căn: bệnh về da, co giật, cảm lạnh lặp đi lặp lại, khó khăn về giọng nói và ca hát, hen xuyễn.
Thôi miên không tác động đối với:
o Phần lớn các khó khăn tâm thần nặng, như tâm thần phân liệt
o Một số bệnh nghiện lâu năm
o Bệnh nặng như ung thư.
Mọi người đều có khả năng thôi miên?
Đúng vậy. Với điều kiện biết kỹ thuật. Nhưng nhiều người có năng khiếu hơn người khác. Để trở thành một nhà thôi miên trị liệu nghiêm túc, cần phải có nền tảng về y khoa hoặc tâm lý học, có nghĩa là đã là một chuyên gia trị liệu. Sự đào tạo về thôi miên có thể là nâng cao hoặc học tiếp các khóa học chuyên môn.
Người ta có thể tự thôi miên chính mình?
Đúng. Trên thực tế, các chuyên gia khẳng định rằng ngày nay, bất kỳ sự thôi miên nào bản chất cũng là sự tự thôi miên, sức mạnh thực sự của sự biến đổi hay sự chữa lành được tìm thấy trong tinh thần của người được thôi miên, mà không phải trong tinh thần của người thôi miên. Vì vậy, hoàn toàn có thể tự thôi miên được, nhưng điều đó không dễ dàng. Những hướng dẫn thực hành và những băng ghi âm có thể giúp đỡ bạn được. Thời gian đầu, điều quan trọng nhất là bắt đầu một nghi thức, nghi thức đó khơi mào cho quá trình dẫn dụ (mỗi ngày đều dành ra một buổi vào cùng một giờ, cùng một chỗ, cùng một bộ quần áo…); sau đó, học cách tự thư giãn. Bạn cũng có thể ghi lại các thông điệp của riêng bạn.
Liệu pháp có ảnh hưởng về mặt vô thức của người bị thôi miên?
Câu hỏi này là trung tâm của các cuộc tranh luận. Từ nhiều năm nay, trước sự gia tăng đáng kinh ngạc của các trường hợp loạn luân được phát hiện trong trạng thái thôi miên ở Mỹ, các chuyên gia bắt đầu nói về “hội chứng nhớ sai” có liên quan đến vai trò của nhà thôi miên. Nó là gì? Trong trạng thái thôi miên, người ta có thể nhớ lại các sự kiện đã bị quên đi, thậm chí “bị dồn nén”. Ở trong trạng thái thôi miên sâu, người ta cũng có thể nhìn thấy ảo ảnh, mà người ta cảm thấy nó thật như một sự kiện thực tế: sự thật là họ không thể phân biệt nổi ảo ảnh đó với những ký ức thật, bởi vì bộ não có khả năng biến đổi hoặc xây dựng lại một sự kiện.
Do đó, ngày nay, không có câu trả lời chính xác về sự thật của các ký ức bị lạm dụng, về “kiếp trước” hay các sự kiện khám phá ra trong trạng thái thôi miên sâu, cũng như ảnh hưởng của người thôi miên đối với sự truyền thông tin từ vô thức tới vô thức, thậm chí thần giao cách cảm…
Có thể xẩy ra các tai nạn?
Không. Người ta luôn luôn “tỉnh dậy”, không có vấn đề gì xảy ra. Trước hết là bởi vì người ta không ngủ. Sau đó là bởi vì không một ám thị nào có thể vận hành và phá hủy chính nó. Đối với các ảnh hưởng tiêu cực của các nhà thôi miên, dựng lên bởi phim ảnh và chỉ có trong truyền thuyết: không một nhà thôi miên nào có thể thúc giục bạn làm điều gì vi phạm các giá trị đạo đức của bạn. Thôi miên không tẩy não! Người ta sẽ không lộ ra những điều sâu kín nhất nếu người ta không muốn điều đó…. Tuy nhiên, để tránh những lang băm, bạn hãy đến những tổ chức nổi tiếng và hợp pháp để lựa chọn nhà thôi miên trị liệu cho bạn.
Các căn bệnh mãn tính, thôi miên có thể trợ giúp?
“Một số thì có. Chứng ù tai, các tiếng rì rầm trong tai, thuốc đối với chứng bệnh này là bất lực. Nhờ có thôi miên, tôi có thể loại bỏ 60% các trường hợp, bởi vì một ám thị có thể biến đổi các hoạt động của các đáp ứng thần kinh của các cơ quan cảm giác. Nếu bạn muốn, trong trạng thái tự thôi miên, tăng lưu thông máu đến chân trái, các mạch máu sẽ giãn ra dưới tác dụng của hiện tượng “chuyển di truyền” (truyền thông tin giữa các tế bào). Thôi miên cho phép thiết lập một cầu nối giữa cơ thể và tinh thần, và kích hoạt các cơ chế tự lành bệnh”. TS. Gérard Arcad, bác sĩ phẫu thuật và tai mũi hong, tác giả cuốn “Chữa lành cơ thể bằng thôi miên và tự thôi miên” (Ed. Sand).
Stress, tại sao thôi miên lại hiệu quả?
Quản lý stress là một trong các ứng dụng được yêu cầu nhiều nhất, với việc cai thuốc và chữa béo phì. Như người ta biết, căng thẳng có thể dẫn đến lo âu, mất ngủ, và đôi khi là các trạng thái trầm uất đi kèm các bệnh tật cơ thể. Thôi miên hiệu quả hơn các liệu pháp khác rất nhiều, đầu tiên là bởi vì tác động thư giãn của nó, được củng cố bởi giọng nói và sự có mặt đầy an toàn của nhà trị liệu, làm giảm rất nhanh các tác nhân gây căng thẳng, là nguồn gốc của bệnh. Sau đó, là bởi vì thôi miên đưa người bệnh vào trạng thái thôi miên và giải phóng sự ức chế. Ví dụ, một người phụ nữ trẻ lo lắng phải đối diện với cuộc phỏng vấn việc làm quan trọng đến nỗi mất ngủ, như vậy, cô ấy cần biết rằng có ấy có mọi cơ hội để có được việc làm. Trong thôi miên, cô ấy trải nghiệm lại cuộc phỏng vấn gần đây mà cô đã gian lận trong CV của cô và bị phát hiện… Chúng tôi đã cùng nhau đánh giá nỗi sợ hãi của cô, và tìm thấy ngưỡng thích hợp của yếu tố tích cực của stress để giúp cô nhận ra rằng cô có thể xem xét cuộc phỏng vấn này như một nghi lễ cần vượt qua, và không phải là sự phán xét cuối cùng.”

Jane Turner, chủ tịch hội thôi miên, tâm lý, thôi miên liệu pháp, người sáng lập ra Dôjô (phát triển cá nhân và nghề nghiệp), Pháp. ĐT. : 01.43.36.51.32.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 6 Tháng 5 08, 2015 1:26 pm

"TẠI SAO Ở HIỀN MÀ KHÔNG GẶP LÀNH"
Trong chúng ta có rất nhiều người luôn tại sao mình ăn ở hiền lành vậy mà cuộc sống trớ trêu chỉ mang đến toàn đau khổ. Nhưng Phật giáo đã khai thị cho ta tại sao ta lại cảm thấy đau khổ đến thế
"Tại sao ở hiền mà không gặp lành"
"Tại sao ở hiền mà không gặp lành"

Tôi đã tìm một người thầy thông thái và đạo hạnh xin chỉ bảo:

- Vì sao những người lương thiện như con lại thường xuyên cảm thấy khổ, mà những người ác lại vẫn sống tốt như vậy

Thầy hiền hòa nhìn tôi trả lời:

- Nếu một người trong lòng cảm thấy khổ, điều đó nói lên rằng trong tâm người này có tồn tại một điều ác tương ứng. Nếu một người trong nội tâm không có điều ác nào, như vậy, người này sẽ không có cảm giác thống khổ. Vì thế, căn cứ theo đạo lý này, con thường cảm thấy khổ, nghĩa là nội tâm của con có tồn tại điều ác, con không phải là một người lương thiện thật sự. Mà những người con cho rằng là người ác, lại chưa hẳn là người thật sự ác.

Một người có thể vui vẻ mà sống, ít nhất nói rõ người này không phải là người ác thật sự.

Có cảm giác như bị xúc phạm, tôi không phục, liền nói:

- Con sao có thể là người ác được? Gần đây, tâm con rất lương thiện mà!

Thầy trả lời:

- Nội tâm không ác thì không cảm thấy khổ, con đã cảm thấy khổ, nghĩa là trong tâm con đang tồn tại điều ác. Con hãy nói về nỗi khổ của con, ta sẽ nói cho con biết, điều ác nào đang tồn tại trong con.

Tôi nói:

- Nỗi khổ của con thì rất nhiều! Có khi cảm thấy tiền lương thu nhập rất thấp, nhà ở cũng không đủ rộng, thường xuyên có “cảm giác thua thiệt” bởi vậy trong tâm con thường cảm thấy không thoải mái, cũng hy vọng mau chóng có thể cải biến tình trạng này; trong xã hội, không ít người căn bản không có văn hóa gì, lại có thể lưng quấn bạc triệu, con không phục; một trí thức văn hóa như con, mỗi tháng lại chỉ có một chút thu nhập, thật sự là không công bằng; người thân nhiều lúc không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái…

Cứ như vậy, lần lượt tôi kể hết với thầy những nỗi thống khổ của mình.

Thầy gật đầu, mỉm cười, một nụ cười rất nhân từ đôn hậu, người từ tốn nói với tôi:

Thu nhập hiện tại của con đã đủ nuôi sống chính con và gia đình. Con còn có cả phòng ốc để ở, căn bản là đã không phải lưu lạc nơi đầu đường xó chợ, chỉ là diện tích hơi nhỏ một chút, con hoàn toàn có thể không phải chịu những khổ tâm ấy.

- Nhưng, bởi vì nội tâm con có lòng tham đối với tiền tài và của cải, cho nên mới cảm thấy khổ. Loại lòng tham này là ác tâm, nếu con có thể vứt bỏ ác tâm ấy, con sẽ không vì những điều đó mà cảm thấy khổ nữa.

Trong xã hội có nhiều người thiếu văn hóa nhưng lại phát tài, rồi con lại cảm thấy không phục, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị cũng là một loại ác tâm. Con tự cho mình là có văn hóa, nên cần phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngạo mạn. Tâm ngạo mạn cũng là ác tâm. Cho rằng có văn hóa thì phải có thu nhập cao, đây chính là tâm ngu si; bởi vì văn hóa không phải là căn nguyên của sự giàu có, kiếp trước làm việc thiện mới là nguyên nhân cho sự giàu có của kiếp này. Tâm ngu si cũng là ác tâm!

Người thân không nghe lời khuyên của con, con cảm thấy không thoải mái, đây là không rộng lượng. Dẫu là người thân của con, nhưng họ vẫn có tư tưởng và quan điểm của riêng mình, tại sao lại cưỡng cầu tư tưởng và quan điểm của họ bắt phải giống như con? Không rộng lượng sẽ dẫn đến hẹp hòi. Tâm hẹp hòi cũng là ác tâm.

Sư phụ tiếp tục mỉm cười:

- Lòng tham, tâm đố kỵ, ngạo mạn, ngu si, hẹp hòi, đều là những ác tâm. Bởi vì nội tâm của con chứa đựng những ác tâm ấy, nên những thống khổ mới tồn tại trong con. Nếu con có thể loại trừ những ác tâm đó, những thống khổ kia sẽ tan thành mây khói.”

Con đem niềm vui và thỏa mãn của mình đặt lên tiền thu nhập và của cải, con hãy nghĩ lại xem, căn bản con sẽ không chết đói và chết cóng; những người giàu có kia, thật ra cũng chỉ là không chết đói và chết cóng. Con đã nhận ra chưa, con có hạnh phúc hay không, không dựa trên sự giàu có bên ngoài, mà dựa trên thái độ sống của con mới là quyết định. Nắm chắc từng giây phút của cuộc đời, sống với thái độ lạc quan, hòa ái, cần cù để thay thế lòng tham, tính đố kỵ và ích kỷ; nội tâm của con sẽ dần chuyển hóa, dần thay đổi để thanh thản và bình an hơn.

- Trong xã hội, nhiều người không có văn hóa nhưng lại giàu có, con hãy nên vì họ mà vui vẻ, nên cầu chúc họ càng giàu có hơn, càng có nhiều niềm vui hơn mới đúng. Người khác đạt được, phải vui như người đó chính là con; người khác mất đi, đừng cười trên nỗi đau của họ. Người như vậy mới được coi là người lương thiện! Còn con, giờ thấy người khác giàu con lại thiếu vui, đây chính là tâm đố kị. Tâm đố kị chính là một loại tâm rất không tốt, phải kiên quyết tiêu trừ!”

Con cho rằng, con có chỗ hơn người, tự cho là giỏi. Đây chính là tâm ngạo mạn. Có câu nói rằng: “Ngạo mạn cao sơn, bất sinh đức thủy” (nghĩa là: ngọn núi cao mà ngạo mạn, sẽ không tạo nên loại nước tốt) người khi đã sinh lòng ngạo mạn, thì đối với thiếu sót của bản thân sẽ như có mắt mà không tròng, vì vậy, không thể nhìn thấy bản thân có bao nhiêu ác tâm, sao có thể thay đổi để tốt hơn. Cho nên, người ngạo mạn sẽ tự mình đóng cửa chặn đứng sự tiến bộ của mình. Ngoài ra, người ngạo mạn sẽ thường cảm thấy mất mát, dần dần sẽ chuyển thành tự ti. Một người chỉ có thể nuôi dưỡng lòng khiêm tốn, luôn bảo trì tâm thái hòa ái từ bi, nội tâm mới có thể cảm thấy tròn đầy và an vui.

- Kiếp trước làm việc thiện mới chính là nguyên nhân cho sự giàu có ở kiếp này, (trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu). Mà người thường không hiểu được nhân quả, trồng dưa lại muốn được đậu, trồng đậu lại muốn được dưa, đây là thể hiện của sự ngu muội. Chỉ có người chăm học Phật Pháp, mới có được trí huệ chân chính, mới thật sự hiểu được nhân quả, quy luật tuần hoàn của vạn vật trong vũ trụ, nội tâm mới có thể minh tỏ thấu triệt. Để từ đó, biết làm thế nào lựa chọn tư tưởng, hành vi và lời nói của mình cho phù hợp. Người như vậy, mới có thể theo ánh sáng hướng đến ánh sáng, từ yên vui hướng đến yên vui.”

- Bầu trời có thể bao dung hết thảy, nên rộng lớn vô biên, ung dung tự tại; mặt đất có thể chịu đựng hết thảy, nên tràn đầy sự sống, vạn vật đâm chồi! Một người sống trong thế giới này, không nên tùy tiện xem thường hành vi và lời nói của người khác. Dẫu là người thân, cũng không nên mang tâm cưỡng cầu, cần phải tùy duyên tự tại! Vĩnh viễn dùng tâm lương thiện giúp đỡ người khác, nhưng không nên cưỡng cầu điều gì.

- Nếu tâm một người có thể rộng lớn như bầu trời mà bao dung vạn vật, người đó sao có thể khổ đây?

Vị thầy khả kính nói xong những điều này, tiếp tục nhìn tôi với ánh mắt đầy nhân từ và bao dung độ lượng.

Ngồi im lặng hồi lâu…xưa nay tôi vẫn cho mình là một người rất lương thiện, mãi đến lúc này, phải! chỉ đến lúc này, tôi mới biết được trong tôi còn có một con người rất xấu xa, rất độc ác! Bởi vì nội tâm của tôi chứa những điều ác, nên tôi mới cảm thấy nhiều đau khổ đến thế. Nếu nội tâm của tôi không ác, sao tôi có thể khổ chứ ?

Xin cảm tạ thầy, nếu không được người khai thị dạy bảo, con vĩnh viễn sẽ không biết có một người xấu xa như vậy đang tồn tại trong con!
(Tịnh Liên)
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 6 Tháng 7 03, 2015 6:39 am

PHÁ THAI
Phá thai là một nan đề lớn không riêng cho một Quốc gia nào, mà đó chính là một bài toán khó cho toàn thể chúng sanh trong cõi Ta Bà.

Việc giải đáp bài toán này có liên quan rất nhiều đến:

Cơ hội làm NGƯỜI của một vong linh.
Sự thấu hiểu thế nào là Nghiệp Lực và tương quan Nghiệp Lực giữa các chúng sanh.
Việc siêu thoát của một vong linh và làm thế nào để giúp cho vong linh siêu thoát.
1. Cơ hội làm NGƯỜI của một vong linh:

Từ lúc lìa Đời cho đến khi được ra Đời, được nhìn trở lại cuộc Đời, được tận hưởng những đặc ân của một CON NGƯỜI, biết đi đứng, biết nói năng, biết suy tư và biết diễn tả tất cả những ước vọng, những ước muốn của chính mình, khoảng cách thời gian giữa lúc LÌA ĐỜI và RA ĐỜI thật là bất định. Cũng có khi rất ngắn mà cũng lúc thật quá dài.

Được sinh ra làm NGƯỜI không phải dễ. Một thần thức phải hội đủ những Nhân Duyên để có thể thác sanh trở lại làm NGƯỜI. Nhưng, vẫn chưa đủ nếu không có những thiện duyên buộc ràng giữa thần thức đó với người sanh thành thì thần thức vẫn không có cơ hội để nhìn Đời. Nói như thế để thấy rằng, khi một thần thức đã nhập thai rồi (ngay từ lúc cha mẹ giao hợp và thụ thai) thì xem như cơ hội đã đến để cho thần thức đó làm lại cuộc đời mới, để thỏa chí những gì mà mình đã từng tâm niệm nhưng không thành tựu được ở kiếp vừa qua. Cơ hội đến, mang theo nhiều hứa hẹn cho một cuộc đời mới, trong một thân xác mới.

Sự hủy diệt một thai nhi còn trong trứng nước là hành động phá bỏ, hủy hoại cơ hội làm NGƯỜI của một thần thức, là ngăn chận con đường “Tiến” của thần thức đó, là gây tạo một sân hận cao tột cùng cho một Linh Hồn.

2. Sự thấu hiểu thế nào là Nghiệp Lực và tương quan Nghiệp lực giữa các chúng sanh:

Một chúng sanh hiện diện trên cõi Ta Bà đã tỏ rõ rằng chúng sanh đó đang mang rất nhiều nghiệp chướng trên người, đang quấn chặt trên người mình không biết bao nhiêu vòng, một sợi dây nghiệp lực rất dài… kéo dài từ vô thỉ kiếp cho đến hiện kiếp. Sợi dây Nghiệp Lực này là một biểu tượng cho tất cả những món nợ mà chúng sanh đó đã gây tạo nên. Chúng sanh đó lần lượt thanh toán NỢ CŨ và đồng thời cũng lại tạo thêm nhiều NỢ MỚI.

Sự có mặt của một chúng sanh trên Cõi Ta Bà có sức thu hút mãnh liệt, không khác viên đá nam châm, đến tất cả những Chủ Nợ, hiện diện đồng thời với chúng sanh đó. Đấng sanh thành của chính chúng sanh này cũng dự phần không nhỏ vào những món nợ Nghiệp Lực, chỉ có điều rằng không biết bậc làm cha mẹ này hành sử vai trò “ĐÒI NỢ” hay “TRẢ NỢ” đây?

Sự hủy diệt một thai noãn mang mầm sống, là hành động cắt đứt sợi dây tương quan nghiệp lực, giữa chúng sanh nằm trong thai noãn đó với những Chủ Nợ Nghiệp Lực mà chúng sanh đó sẽ phải đối đầu khi có cơ hội ra Đời.

Oan Trái giữa cái mầm sống trong thai noãn với người mẹ đang mang cái mầm sống đó trong bụng, tuy rằng đã xảy ra trong quá khứ, nhưng ngày giờ này oan trái đó có dịp bùng lên và chờ đợi một sự đền bù tương xứng.

Phá hủy mầm sống, xem như Người Mẹ đã danh chánh ngôn thuận từ bỏ sự hiện hữu của Oan trái và cũng chối bỏ món nợ mà mình đã gây tạo nên. Niềm sân hận ngập tràn trong thần thức của đứa con còn trong trứng nước.

Oan trái bỗng trở nên nặng nề hơn vì xen lẫn với một nghiệp lực mới: đó chính là NGHIỆP SÁT.

3. Việc siêu thoát của một vong linh và làm thế nào để giúp cho vong linh siêu thoát?

Người phá thai cần phải hiểu tận tường việc siêu thoát của một vong linh.

Bất kỳ một vong linh nào, ngoài trường hợp An Nhiên Tự Tại siêu thoát ngay phút lâm chung, đều phải qua thời gian 49 ngày siêu độ để thần thức có dịp tu tập, biết tự hoán chuyển để thăng hoa. Đó cũng là dịp để thần thức nhận chân ra được rằng mình đang oằn vai vì những viên đá nghiệp lực quá nặng, vì sự ôm đồm quá nhiều, không buông xả vào giờ phút lâm chung.

Việc siêu độ trong 49 ngày kể từ ngày thần thức xa lìa thân xác là một đặc ân, giúp cho thần thức đó khi trở lại cõi Ta Bà, bước vào một thân xác mới, sẽ sống với nhiều tánh tốt, cao thượng hơn và lợi ích cho cuộc ĐỜI hơn.

Vai trò của người chủ lễ trong việc siêu độ và hướng dẫn thần thức đã góp phần không nhỏ vào việc cải sửa bộ mặt của cõi Ta Bà, thanh lọc lần hồi những thành phần bất trị, bướng bỉnh, ương ngạnh để thay vào những chúng sanh có Tâm Đạo, biết chia sẻ, biết thương yêu, biết tương trợ lẫn nhau.

Một thần thức sau 49 ngày Siêu Độ đúng nghĩa, sẵn sàng chờ đợi để thác sanh.

Ngoài trường hợp đủ nhân duyên để thác sanh về cõi Trời hay cõi Phật, việc thác sanh về cõi Người sẽ phải qua một ít thời gian chờ đợi, chờ đợi để tìm đúng duyên cha mẹ mà thác sanh, chờ đợi để tìm đúng nghiệp lực nổi bật nhất đã buộc ràng. Tất cả đã sẵn sàng trong một chiều hướng rất là thuận lợi với sự giúp đỡ tận tình của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát. Vong linh chờ đợi để bước vào CUỘC ĐỜI MỚI với thân xác Mới, cha mẹ Mới, một tương lai Mới.

Một đứa bé mới chào đời, cái gì cũng mới, cũng tốt đẹp, tất cả đều trọn dành cho đứa bé đó. Niềm vui vừa lóe sáng ngay khi người mẹ đã thụ thai, thần thức mang tâm trạng hí hửng, nôn nả nhập thai và an trụ trong sự ấm áp tuyệt vời của bụng Mẹ.

Nhưng, niềm vui đến với thần thức sao quá ngắn ngủi; người Mẹ mà thần thức đang nằm trong bụng, đang tận hưởng hơi ấm tình thương toát ra từ lòng Mẹ, sao bỗng dưng Mẹ nổi giận, Mẹ gay gắt, Mẹ hằn học với sự có mặt của đứa con mà Mẹ cho rằng không đúng thì, đúng lúc.

Thần thức hồi hộp chờ đợi… chờ đợi trong sự sợ hãi, lo âu cho cái số phận mỏng manh, nhỏ bé của mình. Và rồi, sự sợ hãi, sự lo âu cũng không kéo dài được bao lâu khi màng khí độc tỏa ra, bao trùm thai noãn và bắt đầu làm cho thai noãn khô héo dần đến hủy diệt. Thần thức thở dài, ngao ngán, bước ra khỏi bụng của người Mẹ mà mình đã đặt trọn niềm thương yêu.

Mẹ đã thực sự ghét cái thai noãn không cho nó có dịp tượng hình Người và xua đuổi không nương tay cái thần thức trụ trong cái thai noãn đó.

NGHIỆP SÁT mẹ đã tạo, mẹ ngăn chận cái cơ hội làm NGƯỜI của một thần thức, không cho thần thức cái dịp để thanh toán những món nợ chằng chịt trong chuỗi nghiệp lực quấn trên người của thần thức. Một điều vô cùng quan trọng là Mẹ đã tạo nềm sân hận cao ngút trời nơi đứa con bất hạnh.

Muốn siêu độ cho thần thức của thai nhi không phải là điều dễ làm. Một thần thức đang mang một sân hận quá lớn e rằng rất khó nghe theo lời khuyên giải mà siêu thoát.

Trên nguyên tắc, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát sắp xếp, tìm cha mẹ đúng duyên cho thần thức chuẩn bị thác sanh. Nếu chẳng may việc thác sanh không được hoàn mỹ do người mẹ hủy diệt thai noãn hoặc thai nhi đã tượng hình, sẽ có hai trường hợp xảy ra:

Nếu thần thức ngoan ngoãn, dễ dạy, sẽ chờ đợi để Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát tìm chỗ thác sinh mới.
Nếu thần thức bướng bỉnh, nhiều sân hận, không kiên nhẫn chờ đợi sự giúp đỡ của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, thần thức sẽ cố tìm cách nhập thai lần nữa.
Trong lần nhập thai thứ 2 này, nếu người mẹ vẫn cố tình muốn hủy diệt thai nhi, xem như việc siêu độ cho thai nhi hoàn toàn nghẽn lối. Nếu do một nhân duyên nào đó mà thần thức hiện diện trên Cõi Đời, cùng thời với người Mẹ thì cứ chắc chắc rằng nghìn muôn sầu khổ sẽ xảy đến cho người Mẹ, vì đây là một OAN TRÁI rất … rất lớn.

Thầy khuyên chúng sanh nên thận trọng rất nhiều trong việc hủy diệt thai nhi. Một thần thức đã được siêu độ, đã được hướng dẫn để nhẹ nhàng cất bước tìm chỗ thác sanh, thần thức đó mong chờ ngày trở lại cuộc Đời, hội nhập vào cuộc Đời với một thân xác mới, cái gì cũng mới, cũng là điểm khởi đầu.

Hành động sát hại thai noãn hay thai nhi của người Mẹ đã khiến cho thần thức bỗng chốc trở nên bơ vơ, lạc lõng, rồi thì lang thang, không làm sao siêu thoát được vì mang một nỗi sân hận quá cao, rất dễ dàng gây tạo nhiều chuyện không hay, kể cả việc dựa nhập người Mẹ hay người trong gia đình của Mẹ để trả hận.

Thần thức đâu còn dịp để gặp được thiện tri thức chỉ dạy, giúp cho buông bỏ gánh nặng sân hận để dễ dàng siêu thoát. Cả chính người Mẹ cũng chớ hề biết được con mình đang lang thang, đói lạnh, ôm một khối sân hận trong lòng.

Việc sát hại một thai noãn hay một thai nhi nhỏ bé đem so với việc cầm dao giết hại một người bằng xương, bằng thịt, cả hai trường hợp đều là NGHIỆP SÁT y như nhau.

Một bên là thân xác lớn, một bên là thân xác nhỏ; cả 2 tuy có sự khác biệt về tầm vóc, nhưng cùng có điểm tương đồng là dung chứa 2 thần thức LỚN với đầy đủ tất cả những uy lực Của một Linh Hồn.

Cần phải nhận chân ra được điều đó để thấy rằng mình không nên nhúng tay vào việc sát hại. Tất cả những hành động nào đi kèm với cái Muốn cũng đều gây nên kết quả thật tai hại, nếu cái Muốn đó không đúng nghĩa, không hợp lý.

Đừng để Dục Vọng của mình chỉ huy mình, sai khiến mình; đến khi gặp điều trắc trở, gặp nỗi đau thương, chừng đó nỗi lòng biết tỏ cùng ai?

Tay mình đã nhúng vào việc sát hại, đã làm điều sái quấy, thì không thể nào dùng bàn tay vấy máu đó để cầu xin một đặc ân cho được!!

Sửa TÁNH là một điều tối cần thiết phải làm vì nếu không sửa Tánh, thích sống buông lung, không kỷ cương, không gò cương ngựa, không tạo cho mình một kỷ luật tự giác thì những việc làm bất chánh, thiếu suy nghĩ, không phù hợp với Đạo Đức, sẽ rất dễ dàng được hành sử một cách không đắn đo.

Đừng hành động theo BẢN NĂNG mà phải hành động theo TRÍ HUỆ.
Bản năng lúc nào cũng đi kèm với chữ Dục, vì vậy mà dễ bước vào những sai lầm.

Hãy nên giăng cái lưới trước mặt mình để ngăn chận hết tất cả những rác rưởi, những gì không phù hợp với TÂM-Ý-TÁNH. Như vậy việc thu nhặt rác và vất nó đi sẽ được dễ dàng hơn. Còn sống mà lúc nào cũng để cho nước ồ ạt chảy vào, mang theo vô số rác rến, như vậy việc nhặt lượm những thứ cặn cáu, rác rưởi sẽ hoàn toàn khó khăn, gây nhiều phiền phức, có khi suốt cả cuộc đời không làm điều gì nên chuyện cả vì cứ phải bận rộn đi thu nhặt những rác rến của chính mình.

Một người đã bước vào việc phá thai rồi, sẽ khó có được sự an ổn trong tâm tư mình. Tâm thức đã khắc ghi thật sâu hành động sai trái của mình rồi. Một khi Tâm thức đã khắc ghi rồi thì làm sao thoát được sự vận hành của A Lại Da Thức.

Trên đời, không có một chuyện nhỏ nhặt nào mà không có cái kết quả của nó, huống chi là việc hủy hoại một thai nhi; thoạt xem qua thì thấy rằng rất nhỏ nhặt, nhưng cái tầm ảnh hưởng của nó thì quả thật là lớn lao! Cái nhỏ nhặt đó chỉ là cái thân xác còn quá nhỏ của thai nhi, cái chính yếu là cái thần thức trụ trong thân xác nhỏ bé đó, nó mong chờ để được ra Đời và lớn lên.

Thần thức đã qua thời gian dài để tự chuyển hóa mình và tìm kiếm nơi an trụ. Khi đã tìm được mẹ cha rồi thì cũng chính tay cha mẹ mình hủy diệt mình. Không có gì đau đớn cho bằng!

Vì chúng sanh không nhìn thấy được cái thần thức sẽ trở thành con của mình cho nên đã không động lòng, không trắc ẩn khi tự mình giết hại con mình.

Một đứa bé vừa mới chào đời, có cha mẹ nào thẳng tay hủy diệt đứa bé không? Chắc chắn là không, vì cha mẹ cho rằng đứa bé có SỰ SỐNG. Một thai noãn hay một thai nhi vừa mới tượng hình, chưa biết khóc, chưa biết cười thì rất sẵn sàng nhận chịu sự giết hại, chẳng qua là vì cha mẹ cho rằng nó chưa có SỰ SỐNG nên sẽ không chùng tay khi vứt bỏ nó, hủy diệt nó.

Mọi người khi chôn một thi hài xuống lòng đất rất dễ quên rằng: khi thi hài đó còn sự sống, còn cử động, đã có một thần thức từng trụ trong thân xác đó. Ngày giờ này, một thai noãn là kết quả của sự thụ thai thì cũng sẽ có một thần thức đến nhập thai và an trụ trong thai noãn đó, chờ đợi ngày thai noãn lớn dần, tượng hình và RA ĐỜI.

Thần thức đó sẽ là chủ của cái thân xác đứa bé được sanh ra đời, sống, hoạt động trong suốt quãng đời của chúng sanh (đứa bé) đó cho đến ngày thân xác hoại, thần thức lìa thân xác và bước vào một thân xác mới.

Bất kỳ một chúng sanh thuộc về một dân tộc nào, một chủng tộc nào cũng đều phải trải qua chu kỳ Sanh Tử như thế. Do đó, không ai có quyền ngăn cản sự ra đời của một chúng sanh. Nếu mình cắt đứt mạng sống của một chúng sanh còn phôi thai, liệu rằng mình có thoát được chăng cái tầm ảnh hưởng của Nhân và Quả, một mai khi mình ở vào vị trí của một thai noãn hay một thai nhi vừa mới tượng hình?

Nếu quả tình người Mẹ không muốn giữ đứa bé thì cũng đừng nên giết hại nó, hãy cho nó một cơ hội nhìn Đời và trao nó lại cho người nào có lòng mong mỏi một đứa con.

Như thế oan trái sẽ không xảy ra và cũng không uổng công đợi chờ tìm chỗ thác sanh của một thần thức.

Tuy biết rằng có rất nhiều lý do để khiến cho bậc làm cha mẹ từ chối một đứa con, nhưng thử hỏi, bậc làm cha mẹ có bao giờ đưa ra những lý do khi mình hành động theo bản năng dục vọng của mình chăng?

Thầy mong rằng lời pháp hôm nay sẽ giúp chúng sanh suy nghĩ lại và thận trọng hơn trong tất cả mọi quyết định của mình.

Phải nhớ rằng, hành động của mình làm không phải chỉ tác động trên bản thân mình, mà nó có tầm ảnh hưởng rất lớn đến kẻ khác. Đừng đợi cho đến khi cảnh huống xảy ra rồi mới nhận biết được sự sai trái của mình, khi đó đã quá muộn màng rồi!

Những kẻ sắp sửa bước vào con đường sai trái nên chậm chân lại, đắn đo, suy nghĩ thật cặn kẽ những lời Pháp này để dừng bước, tìm một giải pháp tốt đẹp, sáng suốt, phù hợp với Nhân Bản – với Oan Trái – với Nhân Quả và nhất là tạo được cho mình một sự An Bình đúng nghĩa.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 9 03, 2015 4:35 am

Tôi mù? (Tự truyện của Nguyễn Thanh Tú)
1
Tôi thật lúng túng khi viết cuốn tự truyện này. Không phải vì tôi là người mù. Tôi cần kể trung thực về công việc thầy trò tôi đã làm nhiều năm qua.

Các bạn có tin được không?

Từ đêm 5 tháng 6 năm 1999, tôi không còn hoàn toàn là người mù, dù đã bỏ qua hai mắt.

Khoảng 22 giờ, tôi đi ngủ. Dù đèn đã tắt, nhưng căn phòng khách sạn mấy thầy trò tôi đang ở bỗng sáng dần. Tôi thấy khá rõ mọi đồ vật trong phòng, dù cả buồng tối om. Từ đó đến nay tôi sinh hoạt lúc như người kém mắt, lúc như người tinh mắt, nhiều lúc vẫn là người mù.

Thầy tôi bảo: nếu dám ước mơ và dũng cảm biến ước mơ thành sự thực, thì điều không thể cũng trở thành có thể.

Kết quả hơn mười năm làm việc của thầy trò chúng tôi trong chương trình ánh sáng của người mù đã chứng thực lời thầy tôi nói.

Khi bắt đầu chương trình, không một người mù nào trong chúng tôi tin là mình có thể nhìn lại được. Đến nay, ngoài tôi ra, còn có gần ba chục người mù nữa thấy lại không gian sinh hoạt ở nhiều mức độ khác nhau, trong tổng số năm mươi hai người theo học. Thầy bảo tôi: Chúng ta đi con đường chưa ai đi, làm công việc chưa ai làm. Người mù đã bỏ cả hai mắt có thể nhìn lại được như người bình thường là điều hoang tưởng. Chúng ta sẽ biến điều hoang tưởng đó thành hiện thực.

Cuốn sách này kể về thế giới riêng của thầy trò chúng tôi, một thế giới nhân loại chưa hề biết.

– A, con kiến! – Tôi buột kêu lên – Thầy ơi, có phải kiến đang bò trên mặt đường không ạ?

Lúc đó thầy trò tôi đang ngồi nghỉ.

Thầy bảo tôi:

– Tú thử xem có thứ gì ở quanh không?

– Thầy ơi, em thấy ở đây có nhiều kiến lắm. – Tôi nói – chúng là kiến đen, nhỏ như đầu kim khâu và chạy rất nhanh.

Vừa nói, tôi vừa chăm chú theo dõi những chấm đen nhỏ xíu đang di chuyển quanh chân.

Thầy cười, bảo:

– Tú thử bắt cho thầy một con xem nào!

Tôi rình chụp, nhưng hụt. Nó chạy quá nhanh.

Chúng tôi đang ở Côn sơn.

Đi tập với thầy lần này có tôi, chú thương binh hỏng mắt Hoàng Văn Bạo, chú giáo sư mù Chu Xuân Anh, Thầy đặt những yêu cầu rất khắt khe.

Ba người phải sinh hoạt như người có mắt. Chúng tôi bỏ thói quen của người mù: không dùng gậy, không quờ quạng trong khi sinh hoạt, đi lại. Phải nhìn thấy trước những vật cần tìm và cầm đúng vật đó. Phải nhìn thấy đường mình đi, vật chướng ngại trên đường, nơi mình đến, đi ăn cơm, phải tự mình đến bàn ăn khách sạn dọn cho mình, đặt ở bất cứ chỗ nào trong nhà ăn. Khi ăn, không nói tên, vị trí các món, gắp đúng thứ mình cần, dù thầy luôn thay đổi chỗ để các đĩa, bát.

Lúc bắt kiến là lúc thầy trò tôi đang đi trên đường từ khách sạn đến Côn Sơn. Tôi đi một mình. Chú Bạo và chú Anh thấy chưa rõ lắm, đi cùng nhau. Thầy tôi lúc đi trước lúc đi sau, khi bên phải khi bên trái, tách khỏi nhóm. Thầy bước rất nhẹ. Chúng tôi không thể dựa vào tiếng động để định hướng.

Tới gần chùa, tôi đã thấy bức tường bao. Tường quét vôi sáng màu. Mưa gió để lại những vết rêu xanh loang lổ. Cổng chính của chùa có ba mái cong. Mái lớn ở giữa.

Thầy bảo chúng tôi đi vào lối cổng chính. Chú Bạo, chú Anh đi trước. Tôi theo sau. Thỉnh thoảng tôi nhắc đường cho các chú.

Chúng tôi vào sân chùa. Có rất nhiều người đi lại. Hầu hết những người bán quán biết thầy trò chúng tôi từ lâu. Họ ngạc nhiên thấy ba chú cháu đi lại khá tự nhiên, không có người dắt như mọi lần. Qua tam quan có nhiều bậc lên xuống, chúng tôi ra sân giữa ngồi nghỉ.

Thầy hỏi tôi:

– Tú xem có mấy người, đàn ông hay đàn bà, đang đi về phía chúng ta?

– Dạ, em thấy có bốn người, hai nam, hai nữ. Trong đó có một người khá béo.

Chú Bạo tiếp lời:

– Người béo là đàn ông. Bốn người đều còn trẻ.

Thầy cười:

– Cả hai chú cháu đều đúng!

Chúng tôi ra về, qua một cửa ngách nhỏ, tự tìm lối cũ, ra cổng chính, Thầy bảo ba chú cháu tìm đến quán ăn có tên Xuân Hồng.

Thấy khách quen, bà chủ quán tươi cười chạy ra đón. Bà định dắt chúng tôi. Thầy tôi ngăn lại, bảo: “Cô để mọi người tự vào”. Bà chủ ngơ ngác, càng kinh ngạc hơn khi thấy chúng tôi tự tin bước qua bậc thềm, đến thẳng chỗ ngồi. Khi bia được rót ra, thầy bảo chúng tôi cầm đúng cốc của mình, chỉ đúng ngấn bọt, ngấn bia rồi mới được uống…

Hồi mới gặp thầy, tôi chưa biết uống bia.

Tôi nhớ rất rõ buổi đầu thầy trò tôi gặp nhau ở Hội người mù Việt Nam. Hôm đó có thầy, mẹ con tôi, vợ chồng bác Nhuận, phó chủ tịch Hội, Hai mẹ con đều rất tò mò. Thầy cho biết: Có một phương pháp tập luyện giúp người mù có thể nhìn thấy lại được. Những người có mặt ở đây sẽ là nhóm tình nguyện đầu tiên làm công việc này.

Sau khi trao đổi với chúng tôi, Thầy hẹn sẽ sớm có buổi tập đầu tiên.

Về nhà, tôi nói với mẹ:

– Con không tin. Hay đây là chuyện lừa bịp?

Một tuần sau, ngày 28 tháng 10 năm 1994, bác Nhuận chắc tôi đến học ở nhà bác. Tôi sợ. Tôi nhờ mẹ đến xem họ làm gì, có máy móc, thuốc men không. Nếu cần mẹ sẽ cố gắng giúp hai bác, không để họ làm hại.

Ở nhà bác Nhuận về, mẹ tôi bảo:

– Con cứ yên tâm. Họ không có máy móc gì cả. Chỉ tập khí công thôi.

Từ đó, tôi tham gia chương trình.

Trong mười ngày ở Côn Sơn, chúng tôi vừa chơi vừa tập. Mấy chú cháu hay bày trò đố nhau. Đang ngồi uống nước tôi hỏi chú Anh:

– Đố chú cháu đang làm gì?

– Cậu đang dùng tay bóc kẹo, đưa lên miệng rất nhanh.

Chú Anh vừa cười vừa nói. Tôi cũng cười:

– Cháu có kẹo, muốn ăn vụng cũng không được!

Chú Anh là phó giáo sư, tiến sĩ khoa học. Chú bị mù từ năm 1985 nhưng vẫn tiếp tục giảng dạy ở Đại học Quốc gia Hà Nội.

– Còn bây giờ, đố chú cháu đang làm gì?

Vừa nói tôi vừa trợn mắt, nhe răng, giơ hai tay ra phía trước, làm điệu bộ của con ngáo ộp doạ nạt chú.

– Sao cậu lại trợn mắt lên doạ tôi thế?

Cả bốn thầy trò cùng cười vang.

Còn một người nữa tôi chắc đến chưa nhiều. Đó là chú Bạo. Kết quả tập luyện của chú khá tốt. Bị mù năm 1979, hiện nay gia đình chú đang sống ở khu điều dưỡng thương binh hỏng mắt. Chú tập sau tôi một năm, và cũng không còn hoàn toàn là người mù. Chú thấy không gian sinh hoạt thường xuyên, lúc đúng lúc sai. Tới bất kỳ đâu, chú cũng nhìn thấy được ít nhiều cảnh vật ở nơi đó. Mấy thầy trò đang đi dạo, Thầy hỏi:

– Bạo xem bụi hoa ở bên phải là hoa gi, màu gi?

– Em thấy đó là hoa leo, màu đỏ tím.

Tôi xen vào hỏi:

– Trên gương mặt thầy, chú thấy có gì đặc biệt?

– Có phải trên trán thầy có cái u nhỏ không?

– Vâng. Cháu cũng thấy như thế.

Những sự việc vừa kể xảy hàng ngày.

Con gái chú Bạo, bé Bảo Ngọc thích chơi đùa với bố. Từ khi chú nhìn được thấp thoáng, bé nhất định không cho bố nhắm mắt khi chơi trốn tìm. Vì bé thấy mỗi lần nhắm mắt tập, bố lại nhìn được thứ gì đó trong nhà…

Đã đến ngày thầy trò ra về.

Sáng hôm đó, vợ và bạn chú Bạo lên đón chúng tôi. Thầy chở tôi bằng xe máy. Tôi luôn thấy cảnh vật hai bên đường. chúng tôi ăn trưa ở thị trấn Sao Đỏ. Quán ăn có nhiều dãy bàn. Thầy hỏi tôi:

– Tú xem sau lưng ta có mấy người khách?

Tôi lắc đầu :

– Em không thấy ai cả.

Thầy thử:

– Tú xem lại đi!

Tôi khẳng định:

– Không có người nào cả, Thầy ạ.

– Thế còn các dãy bàn trước mặt?

Cả tôi và chú Bạo cùng trả lời:

– Có hai người, là đàn ông.

Tôi thêm:

– Họ đang quay mặt về phía ta.

– Tôi đưa tay chỉ người đứng gần hai vị khách:

– Ông đang nói đã đứng tuổi, có ria mép!

Nghe kể về mục đích tập luyện và kết quả của chú Bạo, bạn chú nửa ngờ. Sau khi chứng kiến sự việc ở quán ăn, chú tin là chúng tôi nhìn được thật.

2
Là con gái út, tôi được bố mẹ và hai chị rất chiều chuộng. Khi sinh tôi, mẹ tôi rất buồn. Tôi mắc bệnh thiên đầu thống bẩm sinh. Từ nhà hộ sinh, tôi phải vào thẳng bệnh viện để khám mắt. Một tháng rưỡi tuổi, tôi lên bàn mổ lần đầu. Cho đến năm lên mười, tôi còn nhìn được chút ít. mười bốn thì mù hẳn. Hai năm sau, đến đôi mắt chết của mình, tôi cũng không giữ được.

Cuộc sống của người mù chìm trong bóng tối vĩnh viễn. Nó làm cho con người mất hết tự chủ, cùng quẫn, mất phương hướng. tất cả đều u u, minh minh. Tôi trở thành người trì độn, ốm yếu.

Mẹ tôi thường nói:

– Nếu con nhìn lại được, mẹ là người mẹ hạnh phúc nhất trên đời.

Biết bao lần tôi tự hỏi: “Vì sao mình bị mù? Sao số phận lại bất công đến thế?”

Tôi không bao giờ tìm được câu trả lời, và bị mù mãi mãi, nếu tôi không gặp thầy.

Gia đình tôi ở làng Láng, vùng đất này nổi tiếng một thời về nghề trồng rau gia vị. Bố mẹ tôi cùng là kỹ sư vô tuyến điện. Cuối năm 1989, bố tôi mất trong một tai nạn giao thông. Mẹ tôi là người đàn bà tần tảo. Một mình bà chèo chống, nuôi chúng tôi khôn lớn.

Dù rất thương tôi, nhưng cả nhà đã mất hy vọng, không tin tôi có thể nhìn lại được. Nhưng thấy tôi ngày càng vui vẻ, khoẻ mạnh trưởng thành hơn, gia đình tạo mọi điều kiện để tôi tham gia Chương trình.

Lần đầu tiên tôi thấy hình ảnh là vào tháng 2 năm 1995. Tôi thấy cả khổ người thầy, khuôn mặt xương xương, nước da khá đen. Thầy mặc áo bludông màu ghi sáng, vải bóng.

Hồi đó, chúng tôi học khí công, môn tĩnh công ý thức và tin rằng phương pháp đó có thể mang lại ánh sáng cho người mù. Tôi và bác Nhuận đôi lúc thấy được hình ảnh có thực. Kết quả đó giúp thày trò chúng tôi quyết tâm đi tiếp. Nhưng càng đi chúng tôi càng thấy khí công không phải là phương pháp riêng của người mù, không bao giờ giúp được người mù sinh hoạt như người sáng mắt…

Nếu gặp, các bạn sẽ thấy Thầy tôi là người đàn ông cao gầy. Mẹ tôi nhận xét:

– Thầy con mà gầy chút nữa, giống hệt ông già tu luyện trên đỉnh Tuyết Sơn!

Thầy ăn ngày càng ít.

Thầy vừa là thầy, vừa là người bạn lớn tuổi của tôi.

Vợ Thầy, cô Tưởng bị bệnh huyết áp, thiểu năng tuần hoàn não, tiền đình rối loạn rất nặng. Cô đã chạy chữa tây y, đông y, song sức khoẻ ngày càng xấu. Thầy chuyển hướng, tìm một phương pháp dưỡng sinh khác để giúp vợ. Việc đó đã dẫn Thầy đến với người mù.

Có lần tôi đã hỏi thầy:

– Tại sao Thầy làm và làm được công việc khó khăn này ạ?

Thầy trả lời ngắn gọn:

– Vì Thầy cũng mù, Tú ạ. Thầy mù sự thật.

Thầy tôi luôn hài hước. Cả nhóm tập từ già đến trẻ đều theo Thầy gọi nhau bằng cụ. Cụ Hưởng, tám mươi bảy, cao tuổi nhất. Tôi, cụ Tú, hai mươi ba tuổi. Cụ Thầy năm mươi chín tuổi.

Nhóm tập đầu tiên của cả chương trình được gọi tắt là Nhóm Mắt. Ngoài số người mù hẳn, còn có ba người sắp loà và năm người tinh mắt (Thầy gọi là đội xe ôm) cũng là thành viên của nhóm.

Tôi út ít nên được Thầy và các cụ thương.

Thỉnh thoảng Thầy khen tôi trước lớp và tặng phiếu Bé ngoan khủng khiếp. Cụ Nhuận được Thày gọi là đức thánh Nhộng. Cụ Dương trưởng tràng, mỗi lần nghe Thày giảng lý thuyết, rên lên: Mênh mông lắm bằng giọng khàn đai ra bất thường. Thày gọi trưởng tràng là cụ Mênh-mông.

Cái tên đức thánh Nhộng bắt nguồn từ tư chất và tính cách quyết liệt của cụ Nhuận. Vì cụ họ Trần, vì sợ nhầm lẫn với đức thánh Trần, thầy gọi chệch là thánh Nhộng. Cụ bị thương bỏ hai mắt, hai bàn tay không còn nguyên vẹn từ năm 1953. Vượt qua tật nguyền, cụ học đại học với người sáng mắt, có bằng cử nhân Văn khoa.

Có thể nói, không có cụ thì không có hội người mù Việt Nam. Đây là tổ chức duy nhất có thể giúp đỡ chút ít cho những người khốn khổ.

Cụ Nhuận nhìn chưa ổn định, chưa thường xuyên. Cụ đã thấy nhiều người và tả gương mặt, trang phục, cử chỉ của họ khá chính xác. Trong một lần ngồi họp, cụ ngắm nghía người phụ nữ đang nói trên diễn đàn, thầm nghĩ: Sao người đâu mà xấu nhỉ! Cụ tả cho cô thư ký nghe diện mạo người đang nói:

– Bác nhìn thấy thật à?

Cô thư ký tròn xoe mắt hỏi.

Sau nhiều năm sống với nhau, đến năm 1996, cụ mới nhìn thấy gương mặt vợ.

Dù vậy, ở hội người mù ít ai tin cụ Nhuận đã nhìn lại được. Cụ tả mọi người lúc đúng lúc sai, thường sai nhiều hơn đúng.

Không giống cụ Nhuận, cụ Anh không ít lần nhìn thấy khá rõ, song bản thân cụ không chưa thật tin ở kết quả của mình. Là một nhà khoa học thực nghiệm, cụ Anh rất khó chấp nhận một phương pháp không có sự kế thừa, không sử dụng bất kỳ dạng tri thức nào nhân loại đã từng có và đang có.

Cụ nói:

– Vì tôi và cả nhóm ít nhiều đều có kết quả, nên tôi chấp nhận phương pháp và tiếp tục đi con đường đang đi.

Từ ngày nhìn thấy, tôi thường quan sát mọi người trong các buổi tập. Một lần tôi nói với thầy:

– Cụ Anh có cái trán hói cao.

Thầy gọi với:

– Cụ Anh nghe Tú tả đây – Thầy nhắc to nhận xét của tôi về cụ. Cả lớp cười vang, tôi tiếp tục:

– Sao cháu thấy nó bóng thế hả cụ? Da cụ trắng hồng, môi đỏ mận chín, trông cụ như cụ bà Xuân Anh! Cụ để một nhúm tóc vắt ngược che ngang trán, nhưng làm thế càng lộ cái hói ra.

Cụ An im lặng, vì những người sáng mắt ở lớp công nhận tôi tả rất đúng. Tôi phát hiện có vật gì đó ở trên cái trán hói. Cụ Anh lên tiếng:

– Đố cụ Tú tôi có gì thay đổi?

Tôi cười:

– Dù cụ làm cách nào, cũng không che được cái trán hói!

Sau tôi mới biết, cụ Anh dùng một cái khăn che lên đầu.

Dù rất buồn khổ, và phải sống chật vật trong bóng tối, thật lạ, tôi vẫn không tin là mình sẽ bị mù vĩnh viễn. Cả khi đã bỏ hai mắt. Niềm tin của tôi không dựa vào bất kỳ một cơ sở nào. Nó cứ tự nhiên như vậy. Hồi trước, tôi chỉ biết tự giải thích: Chắc do mình thèm khát ánh sáng quá đấy thôi.

Đến bây giờ ngồi viết những dòng này, tôi vẫn chưa hết ngỡ ngàng về điều kỳ diệu của công việc thầy trò tôi đang làm.

Thầy tôi bảo: Tự nhiên phong phú, hoàn hảo đến thế, hà cớ gì không dự trữ cho người mù cách nhìn không cần mắt.Trên thế giới từng có người mù lái ôtô với tốc độ lớn. Có người bịt mắt, đọc bằng tay; phân biệt màu sắc bằng bàn tay. Hiện tượng đó là gì? Đó chính là thông điệp của tự nhiên nhắc loài người: con người thật sự có khả năng đó. Ta đã đánh mất chúng, vì ta tự tách mình ra khỏi tự nhiên, quay lưng lại; thậm chí tìm đủ mọi cách chống lại tự nhiên.

Người mù luyện tập để lấy lại những khả năng không giới hạn mà Tự Nhiên dự trữ cho mỗi cá thể.

Thời gian đầu, tôi tập có kết quả sớm. Sau chững lại đến gần hai năm. Trong lúc đó, cụ Nhuận lại vượt lên. Tôi hoang mang, chán nản.

Mọi sự bực bõ, tôi đổ lên đầu thầy. Còn Thầy kiên nhẫn đến lạ lùng, nuốt các cơn giận vô lối của tôi. Thầy chấp nhận tôi như tôi vốn có.

Một hôm, Thầy bảo:

– Tú này, thầy thấy em cứ quanh quẩn ở nhà, ngày càng trì trệ. Sáng nào thầy cũng tập đi bộ. Em dậy sớm, thầy qua dắt đi cùng.

– Thầy mặc em. – Tôi gắt – Em chán lắm rồi. Em lúc nào chả đần độn. Thầy cho em nghỉ học.

Tôi bắt đầu nghỉ đến cái chết. Có lần tôi hỏi Thầy:

– Thầy có cách nào tự tử vừa nhẹ nhàng vừa dễ chết không?

Thầy vờ nghiêm túc:

– Nhảy xuống sông. Tú không biết bơi. Đảm bảo không chết, không lấy tiền!

– Em không biết bơi, nhưng xuống cũng chưa chết ngay. Sặc nước sợ lắm!

– Đã không dám chết thì chịu khó mà sống.

– Em không muốn học nữa. Em sẽ tìm cho mình một công việc khác.

– Tuỳ em. Thấy việc gì cần cho mình, cứ làm.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 9 03, 2015 4:37 am

(tiếp theo)

3
Trong những ngày tháng buồn tẻ, chán nản nhất, niềm tin tự nhiên vẫn tồn tại, nó yếu ớt mong manh song vẫn đủ cho tôi thấy được.

Không chỉ cáu giận, nhiều lúc tôi còn thấy ghét thầy nữa. Tại sao Thầy khơi dậy niềm hy vong đã chết ở tôi? Tâm trạng tôi hết sức rối ren. Tôi hoang mang, không định được hướng.

Gia đình tôi cũng góp một phần trong sự rối ren đó.

Bố tôi là con trưởng. Ông bà nội, các cô các chú không yêu quý bố mẹ tôi.

Sau khi bố tôi mất, mối quan hệ giữa các bên càng tồi tệ.

Cuối năm 1993, chú út đem gia đình và đồ đạc đến chiếm đoạt ngôi nhà mẹ con tôi đang ở. Xung đột lên tới đỉnh điểm.

Mẹ con tôi rất buồn khổ. Trong lòng chúng tôi tình cảm ruột thịt đã chết hẳn.

Hai bên không còn muốn nhìn mặt nhau trong nhiều năm. Cuối cùng mẹ tôi lại phải nhờ người ngoài can thiệp để lấy lại ngôi nhà.

Gia đinh lớn đã vậy, gia đình nhỏ của mẹ con tôi cũng có rất ít niềm vui. Người ngoài thấy chúng tôi sống rất hạnh phúc. Người ngoài bảo tôi là cô gái mù gặp may. Ít người mù nào dám ao ước có cuộc sống như tôi.

Nhưng mặc dù được mẹ và các chị chăm lo đầy đủ, tôi vẫn thấy cô đơn bên những người ruột thịt. Cuộc sống của tôi hoàn toàn lệ thuộc, trong cả những sinh hoạt nhỏ nhất. Tôi ngày càng dấn sâu vào thói quen của người mù. Tôi rất sợ bẩn. Làm việc gì cho cá nhân hoặc gia đình, tôi vụng về lẩn mẩn rất lâu, chỉ sợ làm không sạch. Dù rất cố gắng, tôi vẫn thường xuyên gây phiền toái và bực bõ cho mọi người. Ngay trong bữa ăn cũng vậy. Bát cơm của tôi chất ngất thức ăn. Tôi loay hoay vụng về. Mỗi lần để rơi thứ gì đó xuống quần áo hay xuống đất, lại có tiếng thở dài. Tôi không bị mắng. Nhưng tiếng thở dài làm tôi lúng túng.

Tình thương của mẹ và các chị làm tôi đau đớn. Biết thân phận, tôi không dám oán trách. Tôi hiểu mẹ và hai chị rất thương, muốn tôi ăn càng nhiều càng tốt. có điều, dường như mọi người quên tôi là đứa mù.

Mẹ chăm sóc tôi từng li từng tí. Miếng ăn ngon nào cũng dành phần con. Trước những lần phải đi xa hướng dẫn khách du lịch (mẹ tôi biết nhiều ngoại ngữ), mẹ để ra cả buổi đi chợ, chế biến các món ăn bỏ vào tủ lạnh. Bà bỏ tiền triệu làm lưới sắt kiên cố che chắn kẻ gian. Nhiều buổi tôi ở nhà một mình.

Vậy mà tôi vẫn hay gắt gỏng cãi mẹ. Tôi biết mình là đứa không ra gì mà không sao sửa được.

Những lần đi Côn Sơn, mãi tôi mới quen được cách chăm sóc miếng ăn cho người mù của Thầy. Tôi cứ thấy bát cơm của mình chống chếnh, vì nó không đầy. Ăn hết miếng thức ăn này, Thầy mới gắp miếng khác. Khi đã quen, tôi thấy mỗi bữa ăn của mình là một niềm vui. Lại thấy qua việc nhỏ này, Thầy nói đúng: Thầy rất gần với người mù. Thầy biết người mù nghĩ gì, cần gì.

Đi tập xa vài cây số, nhiều buổi phải leo núi, Thầy đi cùng mọi người. Bên thầy ai cũng thấy thoải mái, tự tin. Cụ Vũ Dương có hai câu thơ về việc này:

Chỗ bằng Thầy để trò đi,

Gập ghềnh Thầy bước quản gì gian nan.

Tôi sống cùng gia đình, song những việc tôi làm, điều tôi nghĩ không san sẻ được với ai. Dù không ít lần mẹ và các chị chứng kiến tôi nhìn thấy, nhưng họ vẫn không tin. Khoảng cách giữa tôi và người thân xa dần. Có cách nào thoát khỏi sự va chạm hàng ngày và xoá đi khoảng cách kia không?

Thầy tôi bảo:

– Em cần thay đổi cách ứng xử.

– Nhưng em không biết làm thế nào.

– Ta làm công việc không ai hiểu. Mẹ và các chị em chưa tin là đúng thôi. Chương trình ánh sáng của người mù không chỉ giúp người hỏng mắt nhìn lại, mà còn làm cho họ có được sự tự chủ, dần dần thấy sự thật như nó vốn có.

– Vâng, em hiểu. Nhưng những vướng mắt hàng ngày của em cứ như mối bòng bong, càng gỡ càng rối.

– Em đừng bao giờ bằng cứ vào tiêu chí của mình hay của người khác để đánh giá sự vật, sự việc. Không bao giờ sợ đúng hay sai. Phải luôn đối mặt với sự thật, chấp nhận như nó là thế. Đây là cuộc vật lộn từng giờ từng phút với mình, để thoát khỏi tăm tối.

Làm theo lời thầy, tôi thấy cuộc giằng co với mình còn khó khăn hơn nhiều lần việc tập luyện để nhìn lại. Nhưng nếu không làm được việc đó thì dù có nhìn được, vẫn cứ là người mù. Mà mù sự thật còn thảm hại hơn mù ánh sáng.

Sự va chạm trong gia đình nhiều hình nhiều vẻ. Làm chủ được tình thế này, sự việc kia, nó lại thay hình đổi dạng. Tưởng đã vứt bỏ được nếp nghĩ, cách ứng xử tăm tối với mình, với mọi người, nhưng rồi nó trở lại vào những lúc bất ngờ nhất. dù vậy, tôi vẫn nhích mỗi ngày một chút trong việc làm chủ mình.

Quan hệ giữa tôi và gia đình dễ chịu hơn.

Cùng với hạnh phúc nhìn lại được, tôi còn có thêm niềm vui hiểu thêm được mình và mọi người.

4
Giữa năm 1997, chúng tôi có hơn một tháng ở Côn Sơn.

Thày đưa ra một hệ thống bài tập đồ sộ. Khoảng 150 bài không trùng lặp. Sau này, chúng tôi mới hiểu, thày muốn tất cả đi đến tận cùng phương pháp ảo giác.

Thày giảng:

– Chỉ có con người mới có ảo giác. Con người bịa tạc ra thế giới tâm linh, bịa tạc ra các lực lượng siêu nhiên mang hình hài của các đấng thần phật, chúa trời với hằng hà các thần linh, ma quỷ ở các phe phái luôn kình chống nhau. Con người chế tạo ra thế giới ảo giác, vĩnh viễn làm nô lệ cho thế giới đó. Tất cả các phương pháp, môn phái gọi là huyền bí, cao siêu nhất đều dựa trên ảo giác. Nếu chúng ta không tìm được đường đi riêng, phương pháp riêng thì người mù không bao giờ hy vọng nhìn lại được…

Nửa tháng đầu, mỗi ngày chúng tôi tập ba buổi. Các cụ lắc đầu lè lưỡi:

– Thày mình ghê gớm thật!

Tình cờ nghe được, Thày cười:

– Tôi đang đánh lừa tôi và các cụ, dồn mọi người chui vào bụi rậm. Chúng ta chưa có đường ra, nhưng nhất định sẽ có.

Để mọi người khỏi nghĩ vẩn vơ, chú ý vào việc học, Thày bảo cả nhóm làm thơ. Đề Thày ra là Mưa Côn Sơn. Thày gương mẫu làm trước. Tôi nhớ được khổ đầu:

Trời mưa – Mưa ở Côn Sơn

Nghe như vọng lại tiếng buồn ngàn xưa

Mưa, hay nước mắt ông cha

Hứng vào tim muốn khóc oà cùng mưa.

Các cụ hăng hái hưởng ứng. Cụ Kiều còn xin thày ra thêm đề Nắng Côn Sơn. Thày làm trước bốn câu:

Nắng nào cũng nắng mặt trời

Riêng Côn Sơn nắng từ người nắng ra

Nhiều năm bóng tối quây ta

Giờ ta cho nắng chan hoà nhân gian.

Bấy giờ, trong nhóm đã có một số cụ thấy lại ánh sáng. Có những cụ nhìn thấy cơ thể mình sáng trong.

Ngày nào cũng có vài ba bài thơ được sản xuất. Người mù chúng tôi bơi lội trong thơ.

Giữa đợt, Thày đưa ra phương tiện giúp người mù từng bước cải thiện sinh hoạt. Đó là dạng thông tin không có cấu trúc, kết hợp với hiệu ứng vật lý. Tuỳ theo cách dùng của mỗi người, nó có thể là mũi tên ánh sáng, hành lang ánh sáng, bản đồ địa hình ánh sáng và hiệu ứng kéo. Khi người mù đi lại hoặc tìm bất cứ vật gì, tín hiệu sẽ chỉ dẫn. Đến một nơi hoàn toàn xa lạ, bản đồ địa hình ánh sáng thực giúp xác định chỗ đang có mặt và con đường cần tìm. Gặp vật cản, tính hiệu báo dừng lại và chỉ dẫn cách tránh.

Gần chỗ chúng tôi ở có mấy quán hàng. Sau mỗi buổi học, thầy trò thường ra uống bia hơi. Thày yêu cầu mọi người bỏ gậy, không người dắt, dùng tín hiệu dẫn đường tìm ra một quán chỉ định. Những người sáng mắt đi sau một quãng để canh chừng. Mọi người lần lượt tìm được quán. Còn lại cụ Dương đứng ngơ ngác ở ngã ba đường. Người đi sau cụ Dương là anh Tuấn. Anh nhắc:

– Cụ tìm ra quán nhà Chung. Tất cả đang đợi cụ ở đó.

Cụ Dương hướng mặt một lúc về phía này, lúc phía khác, hỏi vào chỗ trống không:

– Sao tôi thấy tín hiệu nó cứ mờ mờ, rối rối?

– Vì cụ vẫn chưa tự tin. Cụ cứ bình tĩnh theo dõi tín hiệu ánh sáng chỉ đường và chỗ cần tới. – Anh Tuấn nói.

Những người ngồi trong quán nghe kể về tình thế của cụ Dương, cười thích thú. Thày bảo:

– Tuấn ta đang thản nhiên ngồi hút thuốc lá bên đường. Ông già đã quay mặt về phía này. Các cụ hãy im lặng!

Khoảng mười phút sau, cụ Dương lò dò đi tới. Tìm được ghế ngồi, cụ thở phào:

– Thật là toát cả mồ hôi!…

Thày tôi bảo:

– Người mù muốn nhìn lại như người sáng mắt, không cần bất cứ một phương tiện nào. Chúng ta buộc phải dùng phương tiện ánh sáng để bước đầu cải thiện sinh hoạt. Mỗi người hãy biến nó thành của riêng mình, dùng nó theo cung cách hợp với mình.

Các thành viên của Nhóm Mắt phải mất thời gian khá dài mới dùng được phương tiện thầy chỉ dẫn.

Tháng 1 năm 1998, chúng tôi đi tập nhờ ở Trung tâm Phục hồi chức năng của người mù. Thầy tổ chức một cuộc thi, đông người sáng mắt chứng kiến, có lập biên bản và chấm điểm. Ba đề thi gồm có:

+ Đề 1: Lần lượt tìm bốn cây có đánh số thứ tự trồng ở bốn góc sân rât rộng. Người dự thi được dẫn tới nơi bất kỳ trong sân. Quay mấy vòng tại chỗ. Tìm được cả bốn cây, được điểm 10.

+ Đề 2: Trong gian phòng rộng không đồ đạc, các lon bia đặt trên ghế. Người dự thi không được định hướng trước, phải đến tận nơi, đặt tay vào lon bia. Nếu chệch, tuỳ cự ly sai, bị trừ điểm.

+ Đề 3: Có nhiều người đứng áp tường. Người dự thi không được định hướng trước, đến tận nơi tìm đúng người có tên được chỉ định.

Những người dự thi gồm có các cụ Vũ Dương, Chu Xuân Anh, Hoang Văn Bạo, Trần Công Nhuận, Hoàng Hồng Quảng, Đinh Văn Hạ và tôi. Có tám người giám sát và tám người chứng kiến. Trong cả ba đề thi, người đạt điểm cao nhất là cụ: Hoang Văn Bạo, Đinh Văn Hạ: 29 điểm. Đạt từ 25 đến 28 điểm, có cụ Dương, cụ Quảng. Cụ Nhuận được điểm mười, thấp nhất. Cụ Anh 18 điểm; còn tôi, 16.

Thời gian thi bắt đầu từ 15h, kết thúc vào 16h20. Đó là ngày 21/01/1998. Tất cả mọi người có mặt đều ký tên vào biên bản.

Tôi nhớ hôm đó còn có cụ Nguyễn Nam Thắng, dù mới học được nửa năm. Không dự thi chính thức, song cụ dùng tính hiệu tự tìm được người chỉ định, tìm được cây và lên gác hai, về đúng buồng của mình.

Kết quả của cuộc thi làm người mù tham dự và cả những người còn lại trong nhóm rất phấn chấn.

Chương trình ánh sáng của người mù đã bắt đầu tìm thấy được đường đi riêng của mình.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Re: Hành trình khám phá bản thân

Gửi bàigửi bởi hoangthuynam » Thứ 5 Tháng 9 03, 2015 4:39 am

(tiếp theo)
5
Từ tháng 1 năm 1999, Nhóm Mắt Nguyễn Thái Học chia cụm nhỏ tự tập. Thầy muốn mọi người tự chủ hơn. Nhóm tôi có vợ chồng cụ Nhuận, Cụ Nhung, tôi (ít lâu sau có thêm cụ Giang). Cứ đến sáng thứ 7, tôi phải tự tìm đường sang nhà cụ Nhuận. Cùng đi có Thày và cụ Nhung. Đường đi trong làng hẹp, ngoắt ngoéo, gần mười lối rẽ; có những chỗ rất bẩn. Tôi vừa đi vừa quan sát quang cảnh xung quanh và phải tránh được các vũng lầy, nước đọng. Trong khi đi tôi không chỉ thấy hình ảnh như người sáng mắt. Nhiều khi hình ảnh mất, tôi vẫn thấy được đường đi. Hiện tượng này lặp đi lặp lại nhiều lần. Thầy giải thích:

– Người mù không nhất thiết nhìn được như người còn mắt, mà còn nhìn được bằng nhiều cách khác.

Nếu không trải qua, không ai có thể hình dung được các cung cách nhìn như Thày bảo.

Từ nhà tôi sang nhà cụ Nhuận có hai cái chợ tạm (chợ cóc) họp ngay trên đường đi. Người mua kẻ bán tấp nập không cần biết đến ai. Thầy phải dắt tôi qua những đoạn đó.

Không phải lần nào tôi cũng tìm được ngay nhà cụ Nhuận.

Trong các buổi tập, Thầy thường đưa ra các bài tập bất kỳ, để ở vị trí không báo trước cho mọi người quan sát. Thói quen nhìn bằng mắt có ở mọi loài động vật. Tuỳ cấu trúc nhãn cầu, mỗi loài có thị lực và thị trường khác nhau, nhưng đều hướng về phía trước. tuy chỉ còn hai hốc mắt nhét bông, cụ Nhuận vẫn căng thẳng quan sát về phía vật cần thấy. Cụ cứ khăng khăng phải có hình ảnh mới là nhìn được. Vì thế cụ nhìn thường sai. Có lúc cụ nhìn thấy hai cụ Dung, mỗi cụ ngồi một nơi! Có lúc cụ nhìn một cái chén thành ba. Cụ là người duy ý chí, đã làm gì phải làm bằng được theo ý mình. Điều đó cản trở rất nhiều đến kết quả của cụ.

Thày yêu cầu mọi người bỏ dần thói quen của người mù, giảm bớt việc dùng gậy để đi lại, sinh hoạt. Cụ dứt khoát bỏ thẳng. Bao phen cụ bươu đầu sứt trán vì chưa nhìn rõ. Có lần cụ mất gần hai giờ đồng hồ chỉ để tìm cái cốc uống nước trên bàn làm việc. Cụ bần thần bứt rứt quan sát đi quan sát lại từng ô mặt bàn. Giá cụ chỉ cần dùng tay kiểm tra thì biết là không có cái cốc đó: nhân viên phục vụ đã đem đi từ sớm!

Nhìn không gian sinh hoạt bằng hình ảnh, tôi khá hơn cụ Nhuận. Có lần đi đường Thày hỏi:

– Tú xem phía trước có vật chướng ngại gì?

– Em thấy có chiếc xe đạp thồ. Sau xe có hai cái sọt. Người chủ xe là phụ nữ.

– Hoàn toàn đúng.

Lần khác Thầy lại hỏi:

– Từ rất xa, có cái gì đang đi chậm về phía ta?

Tôi trả lời ngay:

– Một chiếc xích lô, Thầy ạ!

– Đúng.

Những lần tôi nhìn thấy bằng hình ảnh như kể trên đúng rất nhiều. Nhưng sai cũng không ít.

Tôi và Thầy đi dạo trong ngõ nhỏ. Thầy hỏi:

– Tú xem ở bên phải phía trước có gì không?

– Có hai bà khoảng chừng 50 tuổi đang đứng nhìn thầy trò mình.

Thầy cười:

– Nếu hai cô bé đó sống thêm 40 năm nữa thì sẽ ở cái tuổi như em nói.

Hay ở Côn Sơn, có lúc tôi nhìn sai đến nực cười.

Trên đường từ quán ăn về, Thầy hỏi tôi và cụ Hạ.

– Các cậu. Ở phía xa bên trái đường, có những em gì?

Tôi nhanh nhảu:

– Có một thanh niên khoảng 18 tuổi đang đi xe đạp.

Một lúc lâu không thấy cụ Hạ nói gì, Thày bảo:

– Tú nói đúng. Em ấy cũng trạc tuổi thanh niên. Nhưng em không đi xe đạp, vì em là cậu gà trống choai!

Thầy kể chuyện đó với nhóm Mắt. Các cụ được bữa cười hả hê. Thầy bình luận thêm:

– Nói cho cùng, Tú không sai là bao. Về giới tính là đúng. Tầm tuổi cũng đúng, và em gà cũng đang… đạp.

Mấy thầy trò ngồi uống nước ở quán bên đường. Bỗng Thầy hỏi:

– Các cậu nhìn xem em gì sắp đi vào quán.

Một lần nữa tôi nhanh nhảu:

– Một con chó cái!

Thầy cười chảy cả nước mắt, không nói gì. Lâu sau, Thầy khẽ nói đủ mấy người nghe:

– Tú nhìn cực kỳ chính xác! Em vừa rồi là bà chủ quán đi chợ về!

Những người mù trong nhóm Mắt, cũng như tôi, nhìn bằng hình ảnh lúc đúng, lúc sai. Nhưng cụ Hạ không cần hình ảnh, không cần ánh sáng cũng có thể thấy không gian sinh hoạt. Cụ Hạ cũng đã bỏ cả hai mắt.

Tháng 11 năm 1999, Thầy đưa tôi, cụ Hạ, cụ Bạo lên Côn Sơn. Cụ Hạ là một trong những người chậm có kết quả nhất nhóm. Trước khi đi, cụ hầu như không hy vọng là mình có thể thấy được. Ba ngày đầu, cụ dùng hiệu ứng kéo và các tín hiệu thông tin khác để sinh hoạt. Đến ngày thứ tư, cụ bắt đầu thấy không gian sinh hoạt không cần hình ảnh. Tôi đã trải qua nhiều cung cách nhìn sớm hơn mọi người. Cách nhìn của cụ Hạ là thấy bằng thông tin không hình ảnh. Thầy đã từng giải thích nhiều về hiện tượng này.

Cứ đến buổi trưa, thầy trò tôi ra quán uống bia. Ông bà chủ biết chúng tôi đang tập để nhìn lại. Họ tò mò theo dõi thầy trò từ mấy năm nay. Họ nói:

– Nếu không tận mắt chứng kiến, không ai có thể tin người mù nhìn được.

Cụ Hạ là người rất kiên nhẫn. cụ luôn tự tin. Dù thấy đúng hay sai, cụ cũng nói theo ý cụ. Điều này đã giúp cụ xác định được cách nhìn độc đáo của mình.

Chúng tôi ngồi uống bia trong vườn vải sau quán. Thầy hỏi:

– Ba chú cháu xem sau lưng ta có gì?

Tôi chỉ tay ra phía sau, chếch bên phải:

– Em thấy nó ở đây, nhưng hình ảnh không rõ. Chưa biết là cái gì.

– Nó là đống gạch – Cụ Hạ khẳng định.

Vừa lúc đó ông chủ quán đi qua. Thầy nói với ông:

– Cụ Hạ bảo kia là đống gạch, ông xem có đúng không?

Đã quen với cách nói vui của mấy thầy trò, ông chủ cười, trêu:

– Không. Đấy là đống đất.

– Thế thì em sai rồi – Cụ Hạ cười theo.

Ông chủ tiếp:

– Đống đất đóng khuôn từng viên rồi nung.

Cụ Hạ phấn khởi:

– À, ra thế…

Kiểu nhìn của cụ Hạ, tôi cũng gặp nhiều lần. Ngồi xem ti vi, có lúc tôi không nhìn thấy hình ảnh như người có mắt. Nhưng khối hình, kiểu dạng, màu sắc và mọi diễn biến trên màn hình, tôi vẫn tháy rõ. Thậm chí nhiều buổi làm việc qua điện thoại, tôi còn xem được ti vi ở nhà Thầy. Thường thì hai thầy trò vừa xem một chương trình, tôi tắt âm thanh và tường thuật những diễn biến trên màn hình. Một số lần khác, tôi không mở máy, chỉ xem ti vi ở nhà Thầy. Những lần nhìn rõ, tôi thấy chi tiết gương mặt, dáng người, tuổi tác, trang phục của các nhân vật. Thậm chí cả sắc thái tình cảm đang diễn biến ở người này người khác.

Những đồ vật hoặc khung cảnh xa lạ tôi cũng nhìn thấy được bằng thông tin rõ ràng và chi tiết như vậy.

Cụ Bạo cũng là người kết hợp được cách nhìn bằng hình ảnh và thông tin không hình ảnh. Cụ Hạ chỉ thấy không gian sinh hoạt bằng thông tin không hình ảnh, nhưng đạt được độ chính xác cao.

Còn một số cách nhìn khác của người mù, tôi sẽ kể sau.

Tập ở lớp, cụ Nhung hỏi:

– Mời các cụ nhìn xem cháu Thu đứng ở đâu?

Thu là con gái cụ Bích, từ Hà Tĩnh ra học để chữa bệnh tâm thần.

Cụ Hạ trả lời:

– Thu đứng cạnh cửa sổ, quay mặt ra ngoài.

Cụ Nhung lại hỏi:

– Chú xem ở dưới cửa sổ áp tường có gì?

– Có hai cánh cửa chớp đặt nằm nghiêng. Bên trong sát tường là cái nạng của Thầy, cũng đặt nằm.

Cụ Nhung ngạc nhiên thừa nhận:

– Hoàn toàn đúng! – Song cụ lại nói, có lẽ để kiểm tra cụ Hạ:

– Cháu chỉ thấy có hai cánh cửa sổ.

Chính cụ cũng chỉ nhìn thấy như thế. Cụ đến tân nơi, lật hai cánh cửa: đúng là có hai nạng ở trong.

Trong lần đi Côn Sơn tháng 5 năm 1997, tôi và Thầy bị ngã xe. Thầy xây xát khắp người, cử động đi lại khó khăn. Thầy rất đau, nhưng không nói ra. Anh Thắng đi đặt làm cho Thầy cái nạng gỗ. Không muốn học trò nghỉ học, ngày ba buổi, Thầy nén đau, chống nạng khập khiễng đi dạy. Các cụ rất xót xa. Mỗi lần dùng nước rửa vết thương cho Thầy, cụ Dung (họa sĩ sáng mắt) vừa rón rén vừa xuýt xoa:

– Thầy đau một, em thấy đau mười.

Các vết thương của Thầy se miệng rất nhanh, dù không dùng thuốc. Vài ngày sau Thầy bỏ nạng đi lại bình thường. Hơn một tuần, Thầy lại dẫn các trò leo núi để tập. Mọi người ngạc nhiên, quyết định giữ lại cái nạng, để ở phòng tập Hà Nội.

Đầu tháng 7 năm 1999, anh Hội, Chủ tịch quận hội người mù Cầu Giấy đến đề nghị Thầy mở lớp. Học viên hầu hết là người cao tuổi, nhiều bệnh. Một số hỏng mắt, một số sắp loà. Lớp có 14 người, học trong bảy buổi. Thầy, tôi, cụ Dương, cụ Bạo đến hướng dẫn. Hết khoá học, mọi người chia nhóm tự tập.

Giữa tháng 10 năm 1999, quận Cầu Giấy mở thêm lớp nữa. Có 16 người theo học. Cuối năm, hai lớp chia thành ba nhóm tập thường xuyên. Thầy, tôi, cụ Nhung, cụ Tưởng thay nhau đến hướng dẫn.

Dù thời gian học rất ngắn, nhưng kết quả của các nhóm Cầu Giấy vượt trên nhóm cựu trào Nguyễn Thái Học.

Các cụ cao tuổi ở nhóm Cầu Giấy kém trí nhớ. Bài tập vô cùng đơn giản, song các cụ lúc nhớ lúc quên. Về đến nhà, nhiều cụ không biết cần tập cái gì. Nhưng sức khoẻ, bệnh tật của các cụ cải thiện trong thấy.

Điều đáng ngạc nhiên là cả ba nhóm đều lần lượt có người thấp thoáng nhìn lại được.

Trong số đó Trang có kết quả rất nhanh và ổn định. Trang bị mù bẩm sinh. trước tuổi đi học, Trang chỉ phân biệt được sáng, tối. Chỉ vài tháng sau, Trang đã đi lại, sinh hoạt rất tự tin.

Trang nhìn bằng thông tin. Có lần tôi bảo Trang:

– Chị nghe chị Nhung nói, em nhìn được khá nhiều lần chính xác. Em tả chị đi.

Trang nói ngay:

– Chị Tú mặc áo khoác màu tối, có đai bó. Quần cũng màu tối.

– Em nói hoàn toàn đúng.

Hôm đó trời rét. Tôi mặc áo khoác dày màu đen, quần màu tím than.

Sau đó Trang còn tả mái tóc, nước da của tôi khá chính xác.

Trang năm nay 21 tuổi, là thành viên trẻ nhất Chương trình cho đến bây giờ (tháng 3 năm 2000). Gần mười năm trước, tôi học cùng Trang ở trường dành cho học sinh mù Nguyễn Đình Chiểu. Trang là cô gái mạnh dạn, vui vẻ. Trang béo từ lúc còn bé. Càng lớn cô càng tròn như quả bóng.

Trang vào phương pháp rất thuận. Những kết quả của Trang có được cao hơn những thành viên đã học bốn, năm năm ở nhóm Nguyễn Thái Học.

Đầu tháng 2 năm 2000, Trang đã có thể tự mình nhắt xe đạp đi được năm sáu chục mét.

Ngày 26 tháng 3 năm 2000, lần đầu Trang đến nhà tôi chơi. Cụ Tưởng đèo Trang.

Ngay sau khi ngồi vào sa lông phòng khách, Trang chỉ tay về phía đầu bàn nước:

– Cháu thấy có vật gì đó cao cao, khá to.

Cụ Tưởng bảo:

– Đó là cái bình đựng nước.

Trang còn thấy cái tủ thấp, một khối to đặt cạnh tường (cái tủ ly và chiếc xe máy). Tôi đưa Trang ra sau nhà hỏi:

– Em xem phía trước có gì?

Trang trả lời ngay:

– Một bức tường cao.

– Phía dưới tường?

– Một cái vườn nhỏ.

– Có cây không?

– Nhiều cây nhỏ, trồng thưa.

Đúng là vạt vườn nhỏ mẹ tôi vừa trồng ớt.

Tôi lại đưa Trang đi, hỏi tiếp:

– Em có nhìn thấy gì không?

– Đó là cái nhà.

– Mấy tầng?

– Một.

– Cửa ra vào đâu?

Trang giơ tay chỉ. Chị gái tôi đang ở trong bếp (nhà Trang vừa nói là bếp nấu ăn) xác nhận là đúng. Trang còn bảo:

– Xế bên cửa có vật gì trăng trắng.

Chị tôi nói:

– Đó là ghế nhựa.

Lại đi.

– Trước mặt em có gì?

– Cái cây rất to. Cạnh có một bức tường thấp hơn tường vừa rồi.

Chị tôi và bà bác tôi thấy lạ, đi theo. Chị tôi bỗng hỏi:

– Chị hỏi thật em nhé. Mắt em còn nhìn thấy nữa không?

– Không. Em bị mù bẩm sinh, không nhìn thấy gì cả.

– Thế sao em nhìn đúng thế?

– Em cũng không biết nữa!

Vườn nhà tôi rộng. Sân trước nhà trồng một số cây ăn quả. Đi đến đâu, Trang cũng chỉ đúng, tả đúng kích thước, độ cao, chiều rộng của tán lá và phân biệt được các cây cùng giống hoặc khác giống. Trang còn nhìn thấy cả cái cầu thang xây ngoài trời, cái giếng đào, thấy đồ đạc ở một số buồng khác trong nhà.

Trong suốt thời gian đó, Trang nhìn rất ổn định. Tôi mừng. Trang đã vượt tôi.
hoangthuynam
 
Bài viết: 281
Ngày tham gia: Thứ 5 Tháng 12 22, 2011 1:10 pm

Trang trướcTrang kế tiếp

Quay về Linh Tinh

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến1 khách