Tứ Đại Danh Y Thời Cổ Đại

Tứ Đại Danh Y Thời Cổ Đại

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 6 Tháng 4 24, 2020 6:01 pm

Trong lịch sử nền y học Trung Hoa truyền thống, có bốn vị danh y nổi tiếng là: Biển Thước, Hoa Đà, Tôn Tư Mạc và Lý Thời Trân. Mỗi người lại sở hữu một phương pháp chữa bệnh vô cùng độc đáo, kỳ lạ, khiến người đời nay không sao lý giải nổi.

Biển Thước (401 – 310 TCN), tên thật là Tần Hoãn, tự Việt Nhân, người nước Triệu (thời Chiến Quốc). Ông là một trong những vị thầy thuốc đầu tiên được biết đến vào thời Chiến quốc (770 – 221 TCN).

Biển Thước: Bắt bệnh bằng… mắt

Theo các sử liệu, Biển Thước có khả năng nhìn thấu thân thể bệnh nhân. Ông cũng là người nghĩ ra phương pháp bắt mạch. Trong “Sử Ký”, nhà sử học lỗi lạc Tư Mã Thiên (145 – 86 TCN) viết: “Đến nay thiên hạ nói đến bắt mạch là do Biển Thước vậy”.

Biển Thước vận dụng thành thạo 4 kỹ thuật y khoa, được gọi là “tứ chẩn” để bắt bệnh, bao gồm: nhìn, nghe, hỏi và bắt mạch. Ngoài ra, ông cũng rất giỏi dùng các thuật loại trị liệu khác như: châm cứu, phẫu thuật, kê thuốc, xoa bóp…
Có rất nhiều giai thoại về khả năng chữa bệnh thần kỳ của Biển Thước vẫn còn lưu lại cho đến ngày nay.
Theo “Hán thư ngoại truyện”, Biển Thước đã cứu thế tử nước Quắc từ cõi chết trở về. Thông qua bắt mạch, Biển Thước biết được thế tử đang ở trong trạng thái “chết giả”. Sau đó, ông đã dùng thuật châm cứu để cứu sống thế tử. Nhờ đó, Biển Thước được người đời ca tụng là có tài “cải tử hoàn sinh”.
Một giai thoại khác kể rằng Biển Thước có thể dùng mắt mà đoán được bệnh ở bên trong cơ thể người bệnh. Trong “Sử Ký”, Tư Mã Thiên chép: Biển Thước sang nước Tề, gặp vua Tề thấy khí sắc không tốt bèn tâu: “Quân hầu, trong da và chân lông ngài đã có gốc bệnh, nếu không kịp thời chữa trị, bệnh sẽ nặng thêm”.

Vua Tề không nghe, cho rằng đó là chuyện hoang đường. Vài ngày sau, Biển Thước lại vào yết kiến vua, lại nói rằng: “Bệnh của ngài đã vào đến nội tạng, phải chữa ngay đi!”. Một lần nữa vua Tề bỏ ngoài tai lời cảnh báo.
Năm hôm sau, khi chỉ mới vào yết kiến, nhìn mặt vua Tề, Biển Thước đã quay gót trở đi, chẳng nói chẳng rằng. Vua Tề thấy lạ, cho người chạy theo níu lại hỏi. Biển Thước thẳng thắn: “Bệnh ở da, thịt thì còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch thì còn tiêm thuốc được. Nay bệnh đã vào đến xương tủy rồi thì trời cũng không cứu được nữa, bởi vậy tôi mới bỏ đi”.
Quả nhiên, chẳng bao lâu sau, vua Tề đổ bệnh, phái người đến gọi Biển Thước lại chữa. Nhưng Biển Thước đã sang đất Tần từ lâu, vốn chẳng còn ở lại. Bệnh của vua Tề ngày càng nặng, thuốc thang thế nào cũng không chữa dứt, được ít lâu thì qua đời.

Biển Thước(chữ Hán: 扁鵲), tên thật là Tần Việt Nhân(秦越人), có thuyết tên Tần Hoãn(秦緩), hiệu Lư Y(卢医), là mộtthầy thuốctrứ danh thờiChiến Quốcvà được xem là một trong những danh y đầu tiên được ghi chép sớm nhất trong các thư tịch củalịch sử Trung Quốc.
Tương truyền ông chính là người khai sinh ra phương pháp bắt mạch, là người đặt tiền đề quan trọng cho Đông y. Do tiếng tăm và các điển tích thần kỳ, về sau Biển Thước cùng Hoa Đà, Trương Trọng Cảnh và Lý Thời Trân được hậu thế xưng tụng Trung Quốc cổ đại Tứ đại danh y. Tác phẩm của ông còn có Biển Thước nội kinh, Biển Thước ngoại kinh và Nạn kinh.

Cơ duyên với nghề thầy thuốc

Biển Thước vốn người quận Bột Hải, Mạc châu (莫州; nay là huyện Nhâm Khâu, tỉnh Hà Bắc), thuộc nước Trịnh, sinh vào khoảng 401 TCN (đầu thời Chu An vương). Thời còn trai trẻ, Tần Việt Nhân vốn là chủ một quán trọ, và sống bằng nghề này.
Lúc đó, có một lương y biệt danh là Trường Tang Quân thường trọ tại quán của Việt Nhân. Việt Nhân rất kính trọng vị lương ynày, nên đã phục vụ rất chu đáo và không lấy tiền. Để đáp lại, Trường Tang Quân nhận Việt Nhân làm học trò và truyền hết sở học cho ông. Khi tay nghề đã thành thạo, Việt Nhân chuyển hẳn sang nghề thầy thuốcnày, dần dần trở nên nổi tiếng, vì ông chữa bệnh quá tài tình nên được dân chúng nước Triệu tặng cho biệt hiệu Biển Thước tiên sinh. Tương truyền, Biển Thước là tên 1 vị thần y sống vào thời Hoàng Đế.

Hành nghề cứu người
Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, thuật đồng bóng đang lan tràn, nghề y bị lạnh nhạt; nhiều người mắc bệnh không chịu uống thuốc mà cứ rước đồng bóng về để "đuổi quỷ, trừ tà". Thậm chí nhiều nước chư hầu còn đặt ra các chức quan "đại chức", "tư vu" để chuyên lo việc này.
Biển Thước rất ghét thói mê tín ấy, thường xuyên đấu tranh chống lại nó một cách kiên trì, và thông qua hoạt động chữa bệnh có hiệu quả của mình để vạch trần trò hề mê tín của đồng bóng. Căn cứ vào kinh nghiệm dân gian và kinh nghiệm nhiều năm làm nghề của mình, Biển Thước đúc kết thành "tứ chẩn" trong phép khám và điều trị là nhìn, nghe, hỏi và bắt mạch. Ngoài việc vận dụng thành thạo"tứ chẩn"để đoán bệnh, Biển Thước sử dụng nhiều biện pháp trị liệu như châm kim đá, châm cứu, xoa nóng, xoa bóp, mổ xẻ, cho uống thuốc v.v...
Theo Hán thư ngoại truyện, có lần Biển Thước dẫn năm người học trò đến nước Quắc (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) để làm thuốc, nghe nói Thế tử nước Quắc bị bệnh qua đời đột ngột, ông cảm thấy đáng ngờ, bèn xin được vào xem. Quan sát một hồi, thấy cánh mũi người chết còn động đậy, hai chân còn ấm, Biển Thước chẩn đoán kỹ rồi kết luận:"Thế tử mắc chứng "thi quyết" (chết giả), có thể cứu sống được". Ông bèn châm kim các huyệt chủ yếu, tiếp theo sai học trò Tử Minh làm ngải cứu, Cốc Tử đổ thuốc, Tử Dung xoa bóp không ngừng tay. Hồi lâu, quả nhiên "người chết "dần dần tỉnh lại. Biển Thước lại dùng thuốc dán dưới hai nách, bệnh nhân ngồi dậy được ngay.
Vua nước Quắc hết sức vui mừng, không tiếc lời khen ngợi. Người xem Biển Thước như thần tiên, cho rằng ông có thuật "cải tử hoàn sinh ". Biển Thước khiêm tốn giải thích:"Không phải tôi cứu sống người chết, mà người bệnh vốn chưa chết, tôi chỉ cứu người bệnh khỏi cơn hấp hối mà thôi".

Chẩn bệnh Tề Hoàn công
Về tài dùng mắt đoán được bệnh, có một giai thoại về Biển Thước sau đây đã được sử gia Tư Mã Thiên ghi lại trong bộ Sử Ký và người đời sau nhắc lại một lần nữa trong bộ truyện Đông Chu Liệt Quốc (ở hồi thứ 32). Chuyện như sau:

Một hôm Biển Thước sang nước Tề gặp Tề Hoàn công. Ông thấy khí sắc vua Tề không tốt, bèn tâu: "Quân hầu, trong da và chân lông ngài đã có gốc bệnh, nếu không kịp thời chữa trị, bệnh sẽ nặng thêm". Tề Hoàn công thờ ơ đáp:"Ta cảm thấy trong người rất khỏe, chẳng có bệnh tật gì cả".
Biển Thước lui ra, sau đó năm ngày lại vào yết kiến, nhìn sắc diện rồi khẳng định một lần nữa với vua Tề:"Bệnh của ngài đã vào đến nội tạng rồi, phải chữa ngay đi". Hoàn công tỏ vẻ khó chịu, không trả lời. Sau khi Biển Thước đi khỏi, ông mới bảo với mọi người:"Thầy thuốc chỉ khéo vẽ vời, hù dọa người ta. Ta chẳng có bệnh gì mà ông ta dám bảo là bệnh nặng. Thật vớ vẩn!". Năm ngày sau nữa, Biển Thước lại vào yết kiến, chỉ mới nhìn mặt vua Tề, đã quay bước, bỏ đi thẳng. Hoàn công sai người chạy theo hỏi, Biển Thước nói:"Bệnh ở da, thịt thì còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch thì còn tiêm thuốc được, nay bệnh đã vào đến xương tủy rồi thì trời cũng không cứu được nữa, bởi vậy tôi mới bỏ đi".
Mấy ngày sau quả nhiên Hoàn công phát bệnh. Ông vội cho người đi tìm Biển Thước, nhưng vị Thần y đã đi sang nước Tần rồi. Bệnh Hoàn công ngày càng trở nặng, chẳng bao lâu vị bá chủ chư hầu này tạ thế.

Về phương pháp bắt mạch của Biển Thước, cũng lưu truyền trong dân gian một giai thoại như sau:

Có lần Biển Thước đến nước Tấn, gặp lúc Triệu Giản Tử, người đang nắm quyền chính trị trong nước lâm bệnh, hôn mê đã năm ngày. Biển Thước bắt mạch, thấy tim mạch bệnh nhân đập yếu ớt, lại biết được tình hình chính trị nước Tấn lúc ấy vô cùng rối ren, đoán định là họ Triệu lao tâm quá mức, mắc chứng bệnh mạch máu (máu tuần hoàn không bình thường) dẫn đến hôn mê. Ông cho uống thuốc.
Hai ngày sau Triệu Giản Tử tỉnh lại và bệnh dần thuyên giảm.


Khoai mài và nước lã
Lại có một giai thoại khác nữa về vị thần y:
Một hôm có một phụ nữ khá đẹp đến gặp Biển Thước, xin một toa thuốc độc, có thể giết người mà không để lại dấu vết. Đối tượng mà người phụ nữ định đầu độc chính là chồng của chị ta, vì chị này vốn đã có tình ý với một người đàn ông khác. Biển Thước sợ nếu mình từ chối, sẽ có người khác giúp chị đàn bà hoàn thành tâm nguyện, nên giả vờ nhận lời. Ông dặn: về mua khoai mài (hoài sơn) gọt vỏ nấu với lươn cho chồng ăn, mỗi ngày một lần, ít lâu sẽ chết. Người đàn bà hớn hở về làm đúng như lời hướng dẫn.
Khoảng tháng sau, chị này mang lễ vật đến tạ ơn Biển Thước, báo tin chồng đã chết. Ông rất đỗi ngạc nhiên, chẳng hiểu sao khoai mài nấu cháo lươn là một món rất bổ dưỡng mà ăn vào lại chết. Biển Thước cảm thấy lương tâm cắn rứt, lại hoài nghi về kiến thức y học của chính mình, nên thề giải nghệ, không chữa cho bất kỳ ai. Ông còn lấy chìa khóa tủ sách thuốc nhà mình vứt xuống sông cạnh nhà.
Sau đó ít lâu, một hôm vừa thức dậy, Biển Thước thấy một chàng trai trẻ làm nghề đánh cá đến van xin ông làm phước cứu vợ anh ta đang bị sanh khó. Biển Thước nhớ lại lời thề dạo trước nên không thèm trả lời chàng trai, chỉ lớn tiếng bảo người nhà:"Lấy nước rửa mặt" (cho ông)!. Chàng ngư phủ lại ngỡ đó là lời vị danh y mách bảo cho mình, bèn ba chân bốn cẳng chạy về nhà làm đúng như thế. Quả nhiên vừa rửa mặt xong thì vợ anh ta đẻ được ngay.
Vài hôm sau, chàng trai đánh bắt được một con cá lớn, nhớ ơn thầy thuốc cứu vợ con mình, bèn kính cẩn đem con cá đến biếu. Một lần nữa, Biển Thước rất ngạc nhiên, mới hỏi:"Tôi có ơn huệ gì với anh đâu, mà anh đem cá tạ ơn?". Chàng trai đáp:"Nhờ ơn thầy dạy, tôi lấy nước rửa mặt cho vợ tôi thì vợ tôi sinh được ngay một thằng con trai rất cứng cáp, dễ thương, nên có chút quà này, mong thầy nhận cho". Biển Thước không sao lý giải được hai trường hợp hy hữu trên, cho là tại thời vận hên xui, nên cảm hứng thốt lên hai câu thơ:
Vận khứ, hoài sơn năng trí tử
Thời lai, thanh thủy khả thôi sinh
(nghĩa là: Hết thời, khoai mài có thể làm chết người; còn thời, nước lã có thể cứu sống người).
Sau khi chàng đánh cá về, người nhà đem cá ra mổ làm món nhắm cho nhà danh y uống rượu. Lại một sự không ngờ thứ ba xảy đến: khi mổ bụng cá, thấy chùm chìa khóa, lại chính là chìa khóa tủ sách thuốc mà Biển Thước đã ném xuống sông lúc trước. Ông tự nghiệm rằng: Thiên mệnh đã đặt cho mình nghề làm thuốc để cứu người, không thể chối bỏ. Từ đó ông ra sức nghiên cứu sâu thêm về y thuật, cứu được rất nhiều bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên ông vẫn chưa hiểu do đâu có tác dụng ngược lại của củ mài và nước lạnh.
Một hôm có người đem lươn lại bán. Một ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu. Biển Thước bảo người bán lươn đổ cả giỏ lươn xuống đất, thấy trong đám lươn chỉ có một con ngóc đầu lên cao, còn lại đầu rạp sát đất. Biển Thước mua con lươn ngóc đầu ấy đem làm thịt nấu cho chó ăn thì chó chết. Bấy giờ Biển Thước mới hiểu cái chết oan uổng của chàng trai có vợ lăng loàn là do ăn phải thứ lươn ngóc đầu lên chứ không phải tại khoai mài. Còn nước lã giúp vợ chàng đánh cá đẻ mau, vì chị ấy quá mệt, không còn sức rặn. Khi đem nước lạnh rửa mặt, sản phụ cảm thấy sảng khoái, sức mạnh tăng thêm nên sinh được dễ dàng chứ không có gì bí hiểm cả.
Bắt mạch, chẩn đoán chính xác bệnh tình là một cống hiến lớn của Biển Thước đối với y học Trung Quốc nói riêng, ngành Đông ynói chung. Trong "Sử ký",Tư Mã Thiê ntán tụng:"Đến nay thiên hạ nói đến mạch là do Biển Thước vậy". Thật ra nói thế có phần nào hơi phóng đại, nhưng đúng là Biển Thước rất tinh thông phép bắt mạch, chẩn đoán bệnh chính xác và trị bệnh giỏi như thần. Chính vì vậy nên dân gian có rất nhiều giai thoại truyền tụng về Biển Thước mà ở trên là một vài ví dụ.
Tuy nhiên, đã là giai thoại thì tính chính xác hạn chế. Ví dụ như giai thoại "khoai mài, nước lã"; có người cho là của một danh y Việt Nam chứ không phải của Biển Thước.
Đến cuối đời, danh tiếng Biển Thước ngày càng lớn, càng khiến cho nhiều người ganh ghét, trong đó có một viên quan Thái y nước Tần tên Lý Ê (李醯). Hắn vốn là kẻ bất tài, thấy y thuật Biển Thước hơn người, sợ một ngày nào đó có thể thay vị trí của hắn nên đang tâm âm mưu giết Thước.

Năm Chu Noãn vương thứ 5 (310 TCN), Biển Thước diện kiếnTần Vũ vương. Sau khi nghe vua Tần kể bệnh Biển Thước xin được điều trị. Một số người can ngăn vua Tần:"Đại vương đau ở phía trước tai, phía dưới mắt. Trị chưa chắc đã hết, không khéo tai lại hóa điếc, mắt hóa mờ mất". Tần Vũ vương vốn nhát, nghe vậy bèn thôi, không cho Biển Thước trị bệnh. Biển Thước giận dữ, liệng cục đá đồ nghề xuống đất, mắng vua Tần:"Đại vương vấn kế bậc trí giả mà lại nghe lời kẻ ngu để hỏng việc. Điều đó cho tôi thấy chính trị của nước Tần như thế nào, nước Tần có thể mất vì đại vương đấy".
Sau khi chẩn bệnh cho Tần Vũ vương xong, Biển Thước rời đi. Khi đến mặt bắc của Ly Sơn, Lý Ê đã sai người lén phục kích bên hông đường nhỏ chờ Biển Thước đến và giết chết ông. Tương truyền khi ấy ông đã khoảng 90 tuổi. Nhân dân ở nhiều địa phương rất thương tiếc, đã cho dựng mộ, bia và thờ Biển Thước ở Thiểm Tây, Sơn Đông, Hà Bắc,...

Theo sách sử ghi chép, Biển Thước khi còn sống đã có sách Biển Thước nội kin h(扁䳍内经),Biển Thước ngoại kinh(扁䳍外经), đáng tiếc đều đã mất. Hiện còn quyển Nạn kinh(難經), có giá trị tham khảo khá cao về kinh mạch, tuy có người cho rằng sách này do người đời sau làm, lấy tên Biển Thước.
Sử giaTư Mã Thiên đánh giá Biển Thước rất cao:"Biển Thước hành nghề y làm kẻ đứng đắn tôn trọng, giữ mực thước tinh tế trong sáng, đời sau học theo không phải dễ". Thiết tưởng sự đánh giá của Tư Mã Thiên về thần y Biển Thước như trên không có gì là quá đáng.

Các thầy thuốc thời xưa đều có một số khả năng rất đặc biệt và hơn phân nửa đều là “sư phụ tìm đồ đệ chứ không phải là đồ đệ tìm sư phụ”, có nghĩa là một người muốn theo học y thì người thầy phải cảm thấy người này có năng lực thì mới nhận.
Trong “Sử ký” có ghi chép về Biển Thước,vị danh y nổi tiếng của Trung Hoa cổ đại, ông còn được người đời mệnh danh là “thần y”. Đi đến đâu có bệnh nghiêm trọng, ông đều có thể trị khỏi hết bệnh ở nơi đó, không bệnh gì là không chữa được. Tuy nhiên,Biển Thước từng nói có 6 kiểu bệnh nhân không thể chữa trị được.

1. Kiêu ngạo
Xấc xược không cần biết lý do chính là kiêu ngạo, căn bản loại người này sẽ không nói lý lẽ, kiểu bệnh nhân không nói lý lẽ này không thể chữa trị được.

2. Xem trọng tiền tài mà xem nhẹ bản thân
Đối với thân thể của chính mình cũng không quan tâm mà lại cực kỳ chú trọng đến tài sản, đồ của mình không lấy ra dùng, cũng không chịu tiêu tiền– kiểu người hà tiện này nếu có bệnh thì rất khó chữa.

3. Không nghe lời khuyên
Kiểu “bệnh” này hiện nay chúng ta rất thường gặp, chính là kiểu mà bảo họ mặc thêm quần áo họ không mặc thêm; bảo đừng ăn đồ nhiều dầu mỡ quá thì cứ ăn dầu mỡ; bảo ăn ít thịt động vật thì lại ăn nhiều thịt mỡ; bảo đừng ăn đồ lạnh thì cũng chẳng chịu nghe. Không chịu ăn những thứ nên ăn hoặc không chịu hạn chế ăn những thứ không nên ăn theo lời dặn dò của thầy thuốc. Kiểu người này cũng không trị được.
4. Âm dương hỗn loạn
Khí tạng không ổn định chính là âm dương của họ đã bị rối loạn, có dương mà lại có âm, nhưng âm dương lại loạn lung tung. Những người này khí huyết lục phủ ngũ tạng không ổn định nên cũng không chữa được bệnh của họ.

5. Thể chất hư nhược
Là những người thể chất rất yếu ớt, không uống được thuốc nên cũng không chữa được.

6.Tin vào thầymo
Ngày nay có rất nhiều người như vậy, chính là thà tin vào những thầy mo chứ không tin vào y học, tin vào lời nói của những bà đồng trong miếu, cho rằng vẽ bùa là có thể chữa được bệnh. Kiểu người thà tin vào tà thuật chứ không muốn tin vào lý lẽ y học của thầy thuốc chân chính thì cũng không thể chữa được.
Biển Thước là danh y nổi tiếng thời cổ đại. Khi còn nhỏ, ông theo học lương y Trường Tang Quân và đã được truyền nhiều y thuật bí truyền, ông am hiểu rất nhiều loại bệnh.Vào thời nhà Triệu làm phụ khoa, thời nhà Chu làm khoa ngũ quan, đời nhà Tần làm nhi khoa, ông đều nổi danh thiên hạ.
Biển Thước đã đặt ra phương pháp chẩn đoán bệnh bằng cách bắt mạch, khởi đầu cho cách chẩn đoán này của y học Trung Hoa. Tương truyền, quyển sách y cổ nổi tiếng “Nạn kinh” (hay “Nan kinh” là ghi chép của Biển Thước.

'Thần y' Biển Thước, cha đẻ phương pháp bắt mạch Đông y
Phương pháp bắt mạch của Biển Thước được xem là đã đặt nền móng quan trọng cho ngành Đông y.
Theo sử sách,danh y tên Chương Tang Quân thời đó vì quý mến nhân cách của Biển Thước đã ngỏ lời muốn truyền lại những kiến thức và bí kíp y học cho ông. Từ đó,Biển Thước đi khắp nơi hành nghề chữa bệnh giúp dân, dần dần danh tiếng ngày càng được nhiều người biết đến.

Dân gian lưu lại nhiều giai thoại về tài năng y học của Biển Thước.
Theo Hán thư ngoại truyện, có lần Biển Thước dẫn 5 học trò đến nước Quắc (nay thuộc tỉnh Thiểm Tây) để làm thuốc. Nghe nói Thế tử nước Quắc bị bệnh qua đời đột ngột, ông cảm thấy đáng ngờ bèn xin được vào xem.
Quan sát một hồi, thấy cánh mũi người chết còn động đậy, hai chân còn ấm, Biển Thước chẩn đoán kỹ rồi kết luận: "Thế tử mắc chứng "thi quyết" (chết giả), có thể cứu sống được". Ông châm kim ở các huyệt trọng yếu, sai học trò Tử Minh làm ngải cứu, Cốc Tử đổ thuốc, Tử Dung xoa bóp không ngừng tay. Hồi lâu, quả nhiên "người chết "dần dần tỉnh lại. Biển Thước lại dùng thuốc dán dưới hai nách, bệnh nhân ngồi dậy được ngay.
Sử gia Tư Mã Thiên ghi lại trong bộ Sử Ký rằng một hôm Biển Thước sang nước Tề gặp Tề Hoàn Công. Thấy khí sắc vua Tề không tốt, ông liền tâu: "Trong da và chân lông của ngài có gốc bệnh, nếu không kịp thời chữa trị, bệnh sẽ nặng thêm". Đáp lại, Tề Hoàn Công thờ ơ: "Ta cảm thấy rất khỏe, chẳng có bệnh tật gì cả". Biển Thước bèn lui ra.
Năm ngày sau, Biển Thước yết kiến Tề Hoàn Công và khẳng định một lần nữa với vua Tề: "Bệnh của ngài đã vào đến nội tạng rồi, phải chữa ngay đi". Hoàn Công tỏ vẻ khó chịu, không trả lời. Đợi Biển Thước đi khỏi, ông bảo với mọi người: "Thầy thuốc chỉ khéo vẽ vời, hù dọa. Ta chẳng có bệnh gì mà ông ta dám bảo là bệnh nặng. Thật vớ vẩn".
Năm ngày sau nữa, Biển Thước lại vào yết kiến. Chỉ mới nhìn mặt vua Tề, ông đã quay bước bỏ đi. Tề Hoàn Công sai người chạy theo hỏi, Biển Thước nói: "Bệnh ở da thịt thì còn xoa thuốc được, bệnh ở huyết mạch thì còn truyền thuốc được. Nay bệnh đã vào đến xương tủy rồi thì trời cũng không cứu được nữa, bởi vậy tôi mới bỏ đi". Quả thật sau đó Tề Hoàn Công lâm bệnh nặng, các đại phu thuở ấy không chữa được.
Căn cứ vào kinh nghiệm hành nghề của mình, khi chữa bệnh cho bệnh nhân, Biển Thước sử dụng phương pháp "tứ chẩn", tức gồm 4 bước chẩn đoán bệnh. Đầu tiên, ông quan sát bệnh nhân và chú ý tới vẻ bề ngoài như màu da, màu lưỡi. Bước thứ hai, ông nghe giọng nói, nhịp thở. Bước thứ ba, ông hỏi bệnh nhân về các triệu chứng mà họ gặp phải. Cuối cùng, ông bắt mạch.

Tương truyền, Biển Thước chính là người đã khai sinh ra phương pháp bắt mạch, đặt tiền đề quan trọng cho Đông y. Về phương pháp bắt mạch của Biển Thước, dân gian lưu truyền một giai thoại.
Có lần, Biển Thước đến nước Tấn, biết được Triệu Giản Tử - người đang nắm quyền chính trị trong nước lâm bệnh, hôn mê đã 5 ngày. Biển Thước bắt mạch, thấy mạch bệnh nhân yếu ớt, lại nghe rằng chính trị nước Tấn lúc ấy rối ren nên đoán Triệu Giản Tử lao tâm quá mức khiến máu không tuần hoàn tốt dẫn tới hôn mê. Biển Thước kê thuốc cho Triệu Giản Tử uống. Chỉ hai ngày sau, bệnh nhân tỉnh lại, bệnh dần thuyên giảm. Trong Sử Ký, Tư Mã Thiên tán tụng: "Thiên hạ nói đến mạch là nói đến Biển Thước".
Ngoài "tứ chẩn", Biển Thước còn am hiểu và sử dụng nhiều các phương pháp trị liệu như châm cứu, châm kim đá, xoa bóp. Đặc biệt, ông đề cao phòng bệnh hơn chữa bệnh. Phòng bệnh có giá trị gấp đôi chữa bệnh. Điều này có thể thấy rõ trong giai thoại về Tề Hoàn Công.
Biển Thước để lại cho người đời nhiều bí kíp, tác phẩm y học đồ sộ như "Nạn Kinh", "Biển Thước ngoại kinh". Về sau, Biển Thước cùng Hoa Đà, Trương Trọng Cảnh và Lý Thời Trân được hậu thế xưng tụng Trung Quốc cổ đại Tứ đại danh y.
Tại nhiều nơi hiện nay vẫn còn bảo lưu phong tục chôn người chết sau 7 ngày. Vì sao lại có phong tục này? Có lẽ ít ai biết, phong tục này có liên quan đến một vị thần y nổi tiếng thời cổ đại.
Có một cách giải thích liên quan đến tín ngưỡng. Cổ nhân cho rằng, sau khi người ta chết trải qua bảy bảy bốn chín ngày thì có thể đầu thai chuyển thế, 49 ngày này được phân làm 7 lần 7 ngày, 7 ngày đầu không chôn xác người chết này được gọi là “đầu thất”, và ngày cuối cùng của đầu thất này được gọi là “hồi dạ hồn”.
Trong những ngày này người chết sẽ trở lại dương gian một lần cuối cùng, và người nhà ngoài việc ăn uống tụ họp, còn nên biểu hiện hết sức hoà hợp êm thấm, không được cãi cọ. Có như vậy, người chết sẽ cảm thấy người nhà vừa ăn uống no đủ vừa vui vẻ đằm thắm, nên có thể yên lòng ra đi.
Nhưng có lẽ ít ai biết, phong tục này còn liên quan đến một vị danh y cổ đại. Người này gọi là Biển Thước, họ Tần, tên Hoãn, là danh y thời Chiến Quốc. Vì ông có y thuật cao siêu, nên tất cả mọi người đều gọi ông là thần y Biển thước.
“Sử ký: Biển Thước thương công liệt truyện” ghi lại rằng: Biển Thước ban đầu không phải là thầy thuốc, mà là ông chủ một quán trọ. Có lần tuyết rơi đầy trời, Biển Thước nhìn ra cửa thấy một ông lão bị lạnh cóng không thể đi được nằm ở đó, ông ngay lập tức gọi người khiêng ông lão vào quán trọ, nhóm lửa, nấu canh gừng, cứu sống ông lão. Lão nhân này chính là Trường Tang Quân, là một vị thần y.
Biển Thước thấy ông lão này cơ khổ không nơi nương tựa, nên đã giữ ông ở lại quán trọ của mình, cứ như vậy ông lão ở đấy mười mấy năm. Sau này khi sắp chết, ông lão gọi Biển Thước đến trước giường mình nói: “Ngươi là người lương thiện, cũng rất thông minh, ta có bí phương có thể cứu chữa người, hiện muốn truyền cho ngươi, nhưng ngươi không được tiết lộ ra ngoài”. Từ đó Biển Thước đã dùng những bí phương trị bệnh cứu người, và trở thành thần y.

Đây chỉ là một câu chuyện, nhưng nó lại ẩn chứa một giá trị quan vô cùng chuẩn xác của cổ nhân. Cái gọi là “đạo không dễ truyền”, “nhân giả nhân tâm”, liên quan đến việc thuốc chữa bệnh cứu người, nếu để cho người có tâm bất chính học được, thì cũng tương đương với gây ra đại họa. Vì vậy, việc Trường Tang Quân bị chết cóng trước cửa quán trọ của Biển Thước, thực ra ông đã cố ý làm thế để tìm truyền nhân.
Biển Thước sau khi tinh thông y thuật, đã đi khắp các nước hành nghề y. Vào thời điểm ông đến nước Quắc, thấy người nước Quắc ai cũng cầu khấn, nên ông hỏi một người rất yêu thích y thuật là Trung Thứ Tử xem đang xảy ra chuyện gì?
Trung Thứ Tử kể lại tỉ mỉ chuyện Thái tử đột nhiện chết bất đắc kỳ tử cho Biển Thước nghe. Biển Thước nói Trung Thứ Tử: “Ngươi hãy đi bẩm báo nhà vua, nói rằng Biển Thước muốn cầu kiến, ta có thể khiến Thái tử hồi sinh”. Trung Thứ Tử cảm thấy Biển Thước quả thực nói lời vô căn cứ, ít nhất cũng phải biết người đã chết thì không thể sống lại được chứ?
Biển Thước thấy Trung Thứ Tử hoài nghi, liền thở dài một hơi nói: “Nếu người không tin, ngươi có thể thử đến khám bệnh cho Thái tử trước, chắc chắn sẽ thấy cái mũi của anh ta sưng lên, từ đùi đến bộ phận sinh dục vẫn còn ấm”. Trung Thứ Tử nghe xong cảm thấy đây là việc hệ trọng, nên lập tức vào cung thử xem có đúng như lời Biển Thước nói không, và kết quả đúng như vậy. Vì thế Trung Thứ Tử bẩm báo với vua, vua nghe xong vui mừng khôn xiết, vội vàng triệu Biển Thước vào cung.
Sau khi kiểm tra, xem bệnh cho Thái tử, Biển Thước nói: “Bệnh này gọi là thi quyết. Con người tiếp nhận Âm Dương của thiên địa, dương chủ ở bên ngoài, âm chủ ở bên trong, Âm Dương tương hợp, thân thể sẽ khỏe mạnh. Thái tử hiện tại Âm Dương mất cân đối, mạch máu tắc nghẽn, mới dẫn đến khí mạch rối loạn, mất đi tri giác, Thái tử trông bên ngoài thì như chết, nhưng chỉ là chết giả mà thôi”.
Sau đó Biển Thước châm cứu vào “tam dương ngũ hội” và các huyệt vị khác trên cơ thể Thái tử, qua nửa canh giờ Thái tử quả nhiên tỉnh lại. Rồi Biển Thước tiếp tục sắc thuốc đổ vào miệng Thái tử, chính nhờ vậy mà Thái tử có thể ngồi dậy được. Sau đó tiếp tục điều trị bằng thuốc Đông y, sau hơn 20 ngày Thái tử đã hồi phục hoàn toàn.
Từ đó về sau, người trong thiên hạ đồn nhau rằng Biển Thước có thể cải tử hoàn sinh, có ca bệnh nặng nào không cứu chữa được thì mọi người lại nói “phải chi có Biển Thước ở đây”. Biển Thước nghe xong cười lắc đầu nói: “Ta làm sao có thể cứu người chết sống lại được? Chính là do bản thân người bệnh chưa chết, ta bất quá cũng chỉ là giúp hồi phục lại thôi”.
Cũng chính vì chuyện này, mà từ đó trở đi mới có phong tục chôn người chết sau 7 ngày. Tại sao lại phải đợi đến 7 ngày? Chính là sợ người ta không thật sự chết, mà là chết giả. Nếu là chết giả thì họ còn có cơ hội sống lại, chỉ là không tự mình sống lại được thôi, nhưng nếu có thể gặp được thần y như Biển Thước, thì có thể kỳ tích sẽ xảy ra.
Và cho dù không gặp được thần y như Biển Thước thì ít nhất cũng phải đợi đến 7 ngày, để trách việc phải chôn người sống. Dần già trong dân gian đã hình thành phong tục chôn người chết sau 7 ngày.
Trong xã hội hiện tại, hầu hết mọi người ít quan tâm đến Trung y. Tất cả mọi người cảm thấy hiệu quả của Trung y rất chậm, nếu so sánh với Tây y thì còn thua kém xa, cho nên rất nhiều người đều cho rằng, Trung y chỉ là dưỡng sinh, Tây y mới là chữa bệnh.

Kỳ thực không phải vậy. Trung y cổ đại vốn có nội hàm vô cùng thâm sâu, xuất hiện rất nhiều y học gia vĩ đại như Hoa Đà, Biển Thước, Tôn Tư Mạc, Lý Thời Trân… Những đại phu Trung y này đều có tuyệt kỹ đặc biệt để chữa bệnh. Ví như Hoa Đà đã sử dụng thiên nhãn của mình nhìn thấy trong đầu Tào Tháo có khối u. Lý Thời Trân có thể quan sát được sự phân bố kinh mạch của thân thể người, rồi viết ra cuốn sách: “Tần hồ mạch học” và “Kỳ kinh bát mạch khảo“.
Trung y chính là y học thần truyền, tồn tại vô hình. Cuốn sách nổi tiếng “Hoàng đế nội kinh” là xuất phát từ tiên nhân, là bảo bối tu luyên của Trung y. Trung y và Đạo gia có nguồn gốc rất sâu xa, các thầy thuốc Trung y cổ đại phân lớn cũng là những người tu đạo. Đạo sĩ tu luyện chú ý đả thông hai mạch nhâm đốc, kỳ kinh bát mạch, điều này và lý luận kinh mạch của Trung y là đồng nhất với nhau. “Khiếu” trong Đạo gia và “huyệt vị” của Trung y thực ra là một thứ, chỉ cách gọi khác nhau mà thôi.

Phật gia, hay Đạo gia, đều xuất hiện không ít cao thủ trị bệnh, họ thậm chí có thể dùng công năng đặc dị để trị bệnh, chỉ trong nháy mắt là bệnh khỏi ngay. Loại tình huống này không chỉ phát sinh ở Trung Quốc, mà trong Cơ đốc giáo xuất phát từ Tây Phương cũng có chuyện tương tự.
Ví như tại một quốc gia Đông Nam Á, có một tín đồ Cơ đốc giáo đã dùng công năng đặc dị chữa bệnh cho người khác. Người này dùng bàn tay vô hình (người này nhấn mạnh, chỉ có con mắt thứ ba mới có thể nhìn thấy) đưa vào trong thân thể của người bệnh, sau đó lấy ổ bệnh ra ngoài, mà ở bên ngoài da của người bệnh không có bất kỳ thương tích nào.
Y học Tây Phương là dựa trên cơ sở giải phẫu thân thể học, là thuộc về phạm trù khoa học thực nghiệm. Còn Trung y không phải là kỹ năng, kỹ nghệ bình thường, mà là điều siêu thường. Y thuật cao hay thấp của Trung y đều được quyết định bởi tiêu chuẩn đạo đức của thầy thuốc, có quan hệ chặt chẽ với việc tu dưỡng đạo đức . Vì vậy Tây y và Trung y đi theo hai con đường riêng biệt.

Thời đại hiện nay không thấy xuất hiện những bậc Thần y Trung y là vì những lý do sau:
Những điều của văn hóa truyền thống gần như đã bị phá hủy, hầu như không còn những gì là thiên nhân hợp nhất, thiện ác hữu báo, nhân nghĩa lễ trí tín, chính niệm đã đều tan thành mây khói.
Trung y hiện hành đang được truyền dạy là trái ngược với hình thức truyền thừa của Trung y truyền thống “sư phụ dạy đồ đệ”, “khẩu truyền tâm thụ”, “tu luyện đức hạnh”.
Nhân tâm trở nên nóng nảy, rất nhiều người hành nghề Trung Y chỉ quan tâm theo đuổi danh lợi, truy cầu tiền tài, trên cơ bản đức hạnh và tỉnh ngộ không đạt chuẩn của thầy thuốc Trung y truyền thống
Một lý do nữa là vì ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng, bản thân thảo dược đã chứa một lượng độc tính nhất định. Ngoài ra, xuất phát từ suy tính lợi ích kinh tế, các nhà máy sản xuất thuốc Trung y đã áp dụng những phương pháp bào chế thuốc không đúng chuẩn cách.
Những yếu tố này đều làm giảm sút nghiêm trọng dược lực của thuốc Trung y, vì thế mà mọi người dần dần đã mất đi sự tin tưởng đối với Trung y. Trung y đã bị suy bại, không phải Trung y đã thay đổi, mà là con người thay đổi.

Phá vỡ điều cấm kỵ truyền nghề
Khi còn trẻ, Biển Thước phải đi làm thuê cho một nhà trọ, có một vị thầy thuốc rất giỏi tên là Trường Tang Quân thường đến trọ. Biển Thước là một người rất chăm chỉ, hễ rỗi rãi là ông giúp Trường Tang Quân một số công việc như chăm sóc bệnh nhân và cũng chính vì thế mà ông rất hứng thú say mê đối với ngành y.
Từ đấy về sau ông luôn có ý thức học hỏi cách khám bệnh bốc thuốc, gặp phải chỗ nào chưa rõ, ông liền nhờ Trường Tang Quân giảng giải và tự mình mày mò tìm kiếm những sách y học để đọc thêm.
Thời bây giờ, những người làm nghề y đều phải tuân thủ theo một quy ước: Y thuật chỉ có thể truyền lại giữa cha và con, nhất thiết không được truyền cho người ngoài, nhưng Trường Tang Quân lại rất thích chàng trai chăm chỉ, thông minh hiếu học này, nên mỗi lần Biển Thước hỏi gì ông đều giải đáp cặn kẽ tỉ mỉ.
Cứ thế, thời gian 10 năm thấm thoát trôi qua, Biển Thước cũng đã biết khám và chữa một số bệnh đơn giản. Trường Tang Quân cảm thấy Biển Thước thông minh hơn những người khác, lại có bản lĩnh học nghề y nên quyết định truyền lại hết những gì mà cả đời đã tích lũy được cho Biển Thước.
Từ đó về sau, Biển Thước cần mẫn nghiên cứu những phương thuốc bí truyền, y thuật tiến bộ không ngừng, tiếng tăm cứ thế lan đi, uy tín ngày một lớn…

“Cải tử hoàn sinh” cứu thái tử
Có lần, Biển Thước đến nước Triệu để hành nghề y, gặp Thái tử nước này bị bệnh nặng lâm nguy. Khi tới nơi, thấy người ta khiêng đến một chiếc quan tài, xem ra Thái tử đã qua đời.
Biển Thước hỏi một vị quan viên Thái tử bị bệnh gì mà tạ thế, vị quan đáp: “Thái tử khí huyết thác loạn, bỗng nhiên sinh ra bạo bệnh, chính khí không áp đảo được tà khí, lịm đi mà chết”.
Biển Thước không hài lòng với sự giải thích đó, ông dựa vào những phán đoán của mình cho rằng Thái tử chưa hoàn toàn chết hẳn, vẫn còn hy vọng cứu sống, bèn hỏi: “Thái tử mất được bao lâu rồi?”. Vị quan viên đáp: “Chưa đến nửa ngày”.
Biển Thước nghe vậy cảm thấy càng có hy vọng, nói ngay: “Xin ngài bẩm báo với Đại vương, tôi có thể cứu sống Thái tử”. E rằng ông ta không tin làm chậm mất thời gian cấp cứu, Biển Thước nói: “Ngài có thể lập tức đi vào nhìn Thái tử xem, ngài sẽ thấy tai của Thái tử vẫn còn nghe được, cánh mũi vẫn còn khẽ động đậy; tiện đó ngài sờ vào chân Thái tử, từ đùi trở lên vẫn chưa bị lạnh giá...”.
Viên quan nọ vội chạy vào cung bẩm báo. Biển Thước đến trước giường bệnh, quan sát tỉ mỉ khí sắc Thái tử, bắt mạch, rồi lấy đồ nghề châm cứu vào 8 huyệt vị trên người Thái tử. Một lát sau Thái tử tỉnh lại, mọi người vô cùng kinh ngạc và vui sướng.
Tiếp đó, Biển Thước điều chế 2 loại thuốc cao, dặn dò xoa bóp cẩn thận làm nóng phần dưới hai bên nách Thái tử. Với cách chữa trị như vậy, Thái tử đã có thể ngồi dậy được. 20 ngày sau, Thái tử hoàn toàn bình phục.
Tin tức truyền ra ngoài cung, mọi người kháo nhau rằng Biển Thước có tài “cải tử hoàn sinh”. Biển Thước nghe nói vậy cười và nói: “Ta làm gì có bản lĩnh cải tử hoàn sinh! Thái tử chỉ bị hôn mê chứ đâu đã chết, ta chỉ giúp Thái tử phục hồi lại sức khỏe mà thôi”.

Chỉ nhìn bằng mắt khám bệnh
Thầy thuốc Đông y khi khám bệnh luôn quan sát rất kỹ sắc mặt của bệnh nhân và bảo bệnh nhân thè lưỡi ra xem đầu lưỡi; sau đó sờ ấn vào mạch, hỏi han những cảm giác của bệnh nhân. Đó là phương pháp khám bệnh truyền thống, gọi là “nhìn, nghe, hỏi, sờ (bắt mạch)”. Phương pháp do Biển Thước lưu truyền lại, đến nay đã có hơn 2.000 năm lịch sử.
Một hôm, Biển Thước đến kinh đô nước Tề, Quốc quân Tề Hoàn Hầu nghe nói y thuật của Biển Thước rất tài giỏi bèn mời vào cung. Theo thói quen nghề nghiệp, ông nhìn sắc mặt của Tề Hoàn Hầu, nhưng vừa thấy ông đã phát giác ra Tề Hoàn Hầu đang mang bệnh trong người: “Bẩm Đại vương, ngài có bệnh, bệnh tà đang ở giữa da và cơ. Nếu không chữa chạy kịp thời, bệnh tình sẽ ngày một nặng thêm”.
Tề Hoàn Hầu nghe nói, nghĩ trong lòng bản thân chẳng thấy bệnh, chẳng thấy đau ốm, ăn ngon ngủ tốt, làm sao lại có bệnh được, lắc đầu: “Tiên sinh quá lo, ta rất khỏe, chẳng có bệnh gì cả?”. Sau khi Biển Thước từ biệt ra về, Tề Hoàn Hầu nói với các người thân cận của mình: “Làm thầy thuốc ai cũng thích khoe tài giỏi của mình, cả đến thầy thuốc nổi tiếng như Biển Thước cũng nói bậy, lấy bệnh để hù dọa người”.
5 ngày sau, Tề Hoàn Hầu cho mời Biển Thước lần thứ hai, Biển Thước xem sắc mặt của Tề Hoàn Hầu: “Bẩm Đại vương, bệnh của ngài đã đi vào huyết mạch rồi, nếu không điều trị, sẽ tiếp tục nặng thêm, kính mong Đại vương sớm chữa trị”. Tề Hoàn Hầu bực bội: “Tiên sinh, ta không có bệnh, chữa trị cái gì”.
Lại sau 5 ngày nữa, Tề Hoàn Hầu lần thứ ba cho mời Biển Thước đến. Biển Thước thấy bệnh của Đại vương đã khá nặng rồi, vô cùng khẩn thiết nói: “Bẩm Đại vương, bệnh của ngài đã xâm nhập vào tận ruột gan rồi, bây giờ chữa trị ngay vẫn còn kịp không thì khó trị khỏi”.
Tề Hoàn Hầu thấy Biển Thước lần nào cũng nói mình có bệnh, cảm thấy vô cùng phiền toái, dứt khoát không để ý gì đến Biển Thước nữa.
Lại 5 ngày nữa trôi qua, Biển Thước vì rất lo cho sức khỏe của Đại vương bèn chủ động xin vào gặp. Nhưng, mới vừa nhìn thấy Đại vương, ông không nói được lời nào cáo từ thoái lui khỏi vương cung.
Tề Hoàn Hầu cảm thấy rất lạ, sai người đến hỏi, Biển Thước thở dài và nói: “Bệnh tà của Đại vương lúc mới bắt đầu chỉ thấy ở ngoài da và thịt, sau đó lại đi vào đến ruột gan, lúc đó chữa trị còn có thể cứu vãn được, nhưng nay tôi nhìn sắc mặt của Đại vương, bệnh tà đã đi vào tận xương tủy, tôi không còn cách nào khác, đành không dám nói lời từ biệt mà lặng lẽ ra về”.
Cận thần đem những lời nói đó của Biển Thước về tâu với vua, Tề Hoàn Hầu vẫn không tin. Năm ngày sau, quả nhiên Đại vương đổ bệnh nặng, cuống cuồng sai người đi mời, nhưng Biển Thước đã rời khỏi nước Tề về quê. Tề Hoàn Hầu vì không nghe thầy thuốc, để bệnh tình quá nặng mà chết.

6 loại bệnh không chữa

Biển Thước chu du các nước, ngoài khám chữa bệnh cho các vương công quí tộc ra, chủ yếu là chữa bệnh cho bà con nông dân.
Nhưng Biển Thước không phải chữa bệnh cho bất cứ người nào, có 6 loại người mà ông không chữa: Một là những người ngạo nghễ ngang tàng, không có đạo đức; Hai là những người hám tiền bạc không chú ý đến bản thân mình bất chấp tất cả; Ba là những người nhậu nhẹt ăn uống bê tha, sinh hoạt đồi bại; Bốn là những người bệnh nặng mà không chịu chữa chạy sớm, chức năng hoạt động của lục phủ ngũ tạng không còn bình thường nữa; Năm là những người mà thân thể đã quá suy nhược cả đến việc uống thuốc cũng không còn khả năng; Sáu là những người mê tín tà ma không tin vào thầy thuốc.

Khi Biển Thước đến nước Tần thì lúc ấy ông cũng đã già rồi. Quốc quân của nước Tần là Tần Vũ Vương nghe nói y thuật của ông rất cao nên đã mời ông vào cung để chữa bệnh cho vua. Sau khi Biển Thước khám xong, kê đơn thuốc thì Thái y Lý Tây vốn rất căm ghét Biển Thước, đã thông đồng với thầy cúng nói với Tần Vũ Vương: “Biển Thước chẳng có gì là tài giỏi cao cường, Đại vương không nên tin”.
Tần Vũ Vương nghe vậy nên không uống thuốc mà Biển Thước đã kê, Biển Thước bỏ đi. Lý Tây vẫn lo sau này có thể Tần Vũ Vương lại tín nhiệm Biển Thước sẽ làm mình thất sủng nên lén lút sai người đâm chết Biển Thước.
Sau khi Biển Thước bị sát hại, nhân dân đã đưa thi thể của ông về chôn ở Hàm Dương. Ở quê ông, nhân dân lại xây một mộ táng giả (chỉ chôn mũ áo người chết).

-------------


Hoa Đà: Ông tổ của khoa phẫu thuật

Hoa Đà được biết đến là thầy thuốc phẫu thuật đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa. Ông sống vào cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc. Theo sử sách, Hoa Đà được xem là Thần y của Trung Hoa.
Hoa Đà là người đã sáng tạo ra loại thuốc gây mê và giảm đau “Ma Phí Tán” (trộn rượu và thảo dược) để dùng trong các ca phẫu thuật, điều mà người phương Tây chỉ biết đến sau đó hơn 1600 năm. Hoa Đà cũng là người phát triển “Ngũ Cầm Hí”, vốn là một môn khí công Đạo gia phỏng theo động tác của năm loài vật: hổ, hươu, gấu, khỉ và chim.
Có một giai thoại đi vào sử sách kể về lần Hoa Đà trị thương cho Quan Vũ, vị tướng quân nổi tiếng của Lưu Bị, nước Thục trong thời Tam Quốc. Trong một lần xuất quân giao chiến, Quan Vũ bị trúng tên độc ở cánh tay phải. Hoa Đà đã sử dụng thuốc giảm đau và phẫu thuật cắt bỏ phần thịt bị nhiễm độc ngay trong lúc Quan Vũ đang đánh cờ vây.

Một câu chuyện khác kể rằng Hoa Đà nhìn thấy một khối u trong não Tào Tháo và khuyên Tào Tháo mổ não để làm thủ thuật bỏ khối u. Nhưng Tào Tháo lại nghĩ rằng Hoa Đà muốn giết mình nên đã giam ông trong ngục cho tới chết. Quả nhiên sau đó Tào Tháo đã thực sự phát bệnh đau đầu mà chết.

“Tam Quốc diễn nghĩa” (La Quán Trung) chép lại rằng, trong khi bị giam trong ngục tối, vì cảm kích trước sự chăm sóc tận tình của viên coi ngục, Hoa Đà đã truyền lại toàn bộ y thuật của mình cho người này. Tuy nhiên, khi về nhà, vợ của anh ta lại đem sách y thuật đó đốt đi vì sợ chồng mình cũng có kết cục giống Hoa Đà. Kết quả là y thuật của Hoa Đà mãi mãi thất truyền, chỉ còn được hậu thế biết đến qua những giai thoại dân gian.

Trong cuộc sống bận rộn ngày nay, thức đêm là chuyện rất đỗi bình thường, nhưng bạn có biết thường xuyên thức đêm làm cơ thể nảy sinh những ảnh hưởng rất không tốt cho sức khỏe, bạn đang vô tình xem được bài viết này, hãy nhanh chóng copy lưu lại, rất có thể có ích hỗ trợ đối với bạn và những bạn sinh viên thường xuyên phải thức đêm.

Bí quyết của giấc ngủ
Theo y học và những thể nghiệm cũng như quan sát từ bản thân tác giả, một người chỉ thực sự ngủ nhiều nhất là 3 giờ đồng hồ, còn lại đều là lãng phí thời gian, nằm và ngủ mơ, có lẽ trong chúng ta không một ai là không từng ngủ mơ. Nhưng khi tỉnh dậy cảm thấy mình không mơ thấy gì, đó là bởi họ đã quên giấc mơ đó như thế nào rồi.
Chỉ cần chợp mắt 30 phút buổi trưa, cũng bằng ngủ 2h đồng hồ, nhưng phải căn đúng vào giữa trưa. Buổi tối thì chỉ cần ngủ vào đúng giờ tí ( từ 11h -1h đêm), 5 phút khi đó bằng 6h đồng hồ. Kiến thức liên quan tới khoảng thời gian nêu trên là rất lớn, có liên quan tới quy luật của vũ tru, quy luật của trái đất, và nguyên lý âm dương, hơn nữa bạn cũng có thể cảm nhận, có một nguồn lực rất mạnh ở phía dưới trái tim nối liền xuống dưới, hòa hợp với nguồn lực tử đan điền ( phía trên thận), được gọi là “ thủy hỏa cân bằng”, nói rộng ra một chút, nếu bạn ngủ đủ giấc, tinh thần bạn sẽ tốt lên gấp trăm lần.

-----------------

Tôn Tư Mạc: ‘Thần y’ của lòng nhân ái

Tôn Tư Mạc (550 – 691) thời Đường được xưng tụng là Dược vương Tôn Thiên Y. Ông sinh vào thời Tây Ngụy (535 – 556), thuở nhỏ thường ốm yếu nên lớn lên quyết lập chí học nghề y. Với tư chất thông minh sẵn có, chẳng mấy chốc Tôn Tư Mạc thông hiểu nhiều kinh điển Trung Hoa, trở thành thầy thuốc nổi tiếng nhất thời đại của mình.
Tương truyền, Tôn Tư Mạc sống tới năm 141 tuổi rồi đi tu tiên. Ông cũng là người ứng dụng khí công vào thuật dưỡng sinh. Dù rất tài năng nhưng Tôn Tư Mạc chỉ ở nhà chuyên tâm nghiên cứu y thuật, quyết không ra làm quan.

Tôn Tư Mạc rất coi trọng đạo đức của người thầy thuốc, luôn kiên định bảo trì một trái tim từ bi, hòa ái và tấm lòng hy sinh cao cả đối với bệnh nhân, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo, già trẻ, đẹp xấu, thân sơ…
Ông đã cống hiến cho nền y học Trung Hoa hai kiệt tác y học là “Thiên kim yếu phương” và “Thiên kim dược phương”, tập hợp và phân loại toàn diện các bài thuốc Trung y.

Tôn Tư Mạc hồi nhỏ thường bị bệnh, do vậy ông đã quyết định học nghề y. Ông rất uyên bác thông hiểu kinh điển, lịch sử Trung Quốc và các học thuyết của Bách gia chư tử.
Mới lên 7 tuổi, ông đã có thể “Mỗi ngày đọc thuộc lòng 1.000 chữ”. Chính vì khả năng ghi nhớ kỳ lạ như vậy nên ông được người ta gọi là “Thánh đồng”.
Tới năm 20 tuổi, ông có thể đĩnh đạc đàm luận về học thuyết Lão Tử, Trang Tử, đồng thời cũng tinh thông việc biên soạn kinh điển Phật gia.
Vào thời Tùy Đường, Tôn Tư Mạc từ chối không ra làm quan. Đường Thái Tông Lý Thế Dân từng tự mình đích thân lên núi tiếp kiến ông.

Tôn Tư Mạc nổi danh với việc tổng kết kinh nghiệm lâm sàng và lý luận y học từ thời Đường trở về trước, từ đó biên soạn thành hai bộ kiệt tác y học: “Thiên Kim Yếu Phương” (Phương thuốc giá trị cả ngàn lượng vàng) và “Thiên Kim Dực Phương” (Phần bổ sung của ‘Thiên Kim Yếu Phương’). Bộ sách “Thiên Kim Yếu Phương” gồm 30 quyển, chia làm 232 chủ đề.
Cả đời Tôn Tư Mạc biên soạn hơn 80 bộ sách, ngoại trừ “Thiên Kim Yếu Phương” và “Thiên Kim Dực Phương” ra, còn có “Lão Tử Chú”, “Trang Tử Chú”, “Chẩm Trung Tố Thư” 1 quyển, “Hội Tam Giáo Luận” 1 quyển, “Phúc Lộc Luận” 3 quyển, “Nhiếp Sinh Chân Lục” 1 quyển, “Quy Kinh” 1 quyển cùng các tác phẩm khác.
Tôn Tư Mạc tin rằng: “Mạng người là quý giá nhất, ngàn lượng vàng dẫu quý, song một phương thuốc trị bệnh cho người ta còn quý hơn cả ngàn lượng vàng”. Thành ngữ “Thiên Kim” có nghĩa là “ngàn lượng vàng” cũng từ đó mà ra đời. Toàn bộ sách bao gồm 5.300 bài thuốc, trong đó tập hợp các phương thuốc phổ biến với nội dung rất phong phú.
Bộ sách là một kiệt tác tiêu biểu cho sự phát triển của y học đời Đường. Nó có ảnh hưởng lớn và đóng góp đáng kể cho sự phát triển của y học, nhất là các bài thuốc để lại cho hậu thế. Những kiệt tác này cũng đóng góp vào sự phát triển của y học tại Nhật Bản và Triều Tiên.
“Thiên Kim Dực Phương” cũng bao gồm 30 quyển. Tôn Tư Mạc đã viết tác phẩm này trong những năm tuổi già. Nó có quan hệ bổ sung toàn diện cho cuốn “Thiên Kim Yếu Phương”.
Ông chia cuốn “Kim Thiên Dực Phương” ra làm 189 chủ đề, bao gồm hơn 2.900 bài thuốc. Cuốn sách ghi lại 800 vị thuốc, đặc biệt chữa trị rất hiệu nghiệm cho các chứng bệnh như thương hàn, trúng phong, các bệnh vặt và chứng ung nhọt.

Danh y Tôn Tư Mạc khi còn trẻ có thể chất yếu ớt, mắc nhiều bệnh tật nhưng ông vẫn sống tới 101 tuổi, đủ thấy khả năng y thuật của ông tài cao đến đâu. Cùng xem ông giải thích thế nào về đạo lý dưỡng tính.

Thân thể con người là phiên bản thu nhỏ của tự nhiên
Tôn Tư Mạc là người Hoa Nguyên thời Đường, từng ẩn cư trên núi Thái Bạch tu hành. Ông am hiểu thiên tượng lịch pháp và thuật dưỡng sinh. Năm thứ ba niên hiệu Hiển Khánh, vua Đường Cao Tông triệu kiến Tôn Tư Mạc. Lúc đó, ông đã hơn 90 tuổi nhưng thị lực và thính giác của ông không hề suy giảm. Thi nhân Lư Chiếu Lân và danh sĩ nổi tiếng Tống Lệnh Văn cùng nhiều danh sĩ khác đều rất cung kính, dùng lễ thầy trò mà đối đãi với ông.

Họ từng hỏi Tôn Tư Mạc: “Danh y có thể trị được khỏi bệnh là căn cứ vào đạo lý gì?”
Tôn Tư Mạc nói:“Ta nghe nói, người thông hiểu Trời nhất định sẽ tìm thấy bản thể trên thân thể của con người. Người am hiểu về con người thì nhất định sẽ lấy Trời làm bản thể. Vì vậy, trời có Xuân, Hạ, Thu, Đông, ban đêm và ban ngày luân phiên thay đổi. Đông đến hạ đi, đây là sự vận động của tự nhiên. Thân thể của con người có tứ chi và ngũ tạng, cho dù đang tỉnh hay ngủ, hô hấp thải cũ thay mới, kinh mạch và khí huyết đều có sự tuần hoàn. Lưu chuyển chính là sự tuần hoàn của khí huyết, biểu hiện rõ nhất chính là ở khí sắc của con người. Đây là sự vận động bình thường của cơ thể con người“.
“Dương dùng tinh hoa của nó, âm dùng hình thể của nó, đây là sự tương đồng giữa trời và người, nếu vi phạm quy tắc của tự nhiên sẽ sinh ra bệnh. Bốc hơi thì có thể sinh nhiệt, không thì sinh hàn. Ứ đọng thì tạo thành khối u bướu (thịt thừa), chướng ngại thì trở thành u nhọt độc. Dựa vào các biểu hiện bên ngoài để chẩn đoán có thể kiểm tra được sự biến đổi bên trong cơ thể“.
“Lương y dùng thuốc và châm cứu để chữa bệnh cho người, thánh minh dùng đạo đức cao thượng và tài năng đức hạnh để cai trị thiên hạ. Cho nên bệnh tật trong cơ thể con người có thể trị khỏi, tai họa trong trời đất này cũng có thể được loại trừ, tất cả những điều này đều là vận số“.

Làm người gan phải lớn, tim nhỏ

Tôn Tư Mạc đáp: “Gan phải lớn, tim phải nhỏ, trí tuệ phải khôn khéo, linh hoạt, hành vi phải chính trực, không tùy tiện“.
Lư Chiếu Lân: “Mong thầy giải thích rõ hơn!”
Tôn Tư Mạc đáp lại: “Tim là quân chủ trong ngũ tạng, nó cần phải hoạt động tuân theo quy luật, vì vậy phải thận trọng. Gan là tướng lĩnh trong ngũ tạng, cần phải kiên quyết quả đoán, vì vậy gan phải lớn. Người có trí tuệ hành động như Trời, vì vậy cần phải linh hoạt. Người nhân nghĩa trầm tĩnh như đất, cho nên hành vi phải chính trực.
Trong“Truyền” có đoạn: “Không vì lợi mà quay lại, cũng không vì làm việc nhân nghĩa mà hối lỗi. Đấy mới là hành vi chính trực của người nhân nghĩa”. Trong “Kinh Dịch” cũng giảng: “Gặp cơ hội đến thì phải nắm bắt, không thể cả ngày chỉ biết chờ đợi, đấy mới là sự linh hoạt của người có trí tuệ“.

Con người có 5 sợ, tâm tư mới tỉnh táo
Lư Chiếu Lân lại hỏi: “Trong đạo lý dưỡng tính, điều quan trọng nhất là gì ?”
Tôn Tư Mạc đáp: “Trời có đầy có thiếu, trong thế giới con người cũng có nhiều khó khăn gian khổ. Từ xưa tới nay không ai có thể tự giải thoát bản thân khỏi nguy hiểm mà không biết hành sự thận trọng. Bởi vậy, người muốn dưỡng tính trước tiên phải biết thận trọng“.

“Kinh Thi” giảng:“Nhân bất úy cụ tai họa, thiên tựu yếu hàng tai nan cấp nhĩ“, ý nói con người không biết sợ tai họa thì trời sẽ giáng tai nạn xuống cho con người.
“Cái sợ, trước tiên phải biết sợ Đạo, sau đó sợ Trời, kế tiếp là sợ vật, sợ người, cuối cùng là sợ chính bản thân mình“.
“Do đó người mất đi sự sợ hãi, thì tâm tư dễ bị rối loạn khó mà điều chỉnh, hành vi nôn nóng khó mà tự kiềm chế, tinh thần không ổn định dễ mất phương hướng“.
“Người có thể hiểu được những đạo lý này, khi chèo thuyền trong dòng nước thì Giao Long cũng không thể hại đến; khi đi trên đường cũng không bị mãnh thú gây tổn thương; các loại bệnh tật, ôn dịch cũng không thể lây nhiễm đến; kẻ thích nói xấu người khác cũng không thể phỉ báng đến. Người hiểu được đạo lý này cũng hiểu được hết sự tình trên thế gian“.

Không lâu sau, Tôn Tư Mạc nhậm chức Thừa Vụ Lang, phụ trách các vấn đề dược phẩm. Vào đầu năm Vĩnh Thuần thời Đường Cao Tông, Tôn Tư Mạc qua đời. Ông để lại di chúc rằng: Việc mai táng cần giản dị, thờ cúng không cần đốt tiền giấy, khi bái tế cũng không nên sát sinh.
Hơn một tháng sau khi ông qua đời, khí sắc vẫn giống hệt như người còn sống. Lúc đưa thi thể của ông vào quan tài giống như khiêng một bộ y phục trống không. Cả đời Tôn Tư Mạc đã viết ra 30 quyển “Thiên Kim Phương” truyền cho hậu thế.

Theo danh y Tôn Tư Mạc, có thể làm được việc “không uống thuốc mà chữa được bệnh” thì mới là cách tốt nhất trong dưỡng sinh.

Tôn Tư Mạc: Học y vì sức khỏe yếu ớt nhiều bệnh, rồi trở thành vị thầy của cả một thế hệ
Tôn Tư Mạc, còn được gọi là Dược vương Tôn Thiên Y, là thầy thuốc nổi tiếng thời cổ đại của Trung Quốc. Ông cũng là một người ứng dụng khí công vào thuật dưỡng sinh.
Tôn Tư Mạc nổi danh với việc tổng kết kinh nghiệm lâm sàng và lý luận y học từ thời Đường trở về trước, từ đó biên soạn thành hai bộ kiệt tác y học: “Thiên Kim Yếu Phương” (Phương thuốc giá trị cả ngàn lượng vàng – gồm 30 quyển) và “Thiên Kim Dực Phương” (Phần bổ sung của ‘Thiên Kim Yếu Phương’)
Tôn Tư Mạc mất năm101 tuổi. Lúc còn trẻ, sức khỏe ông rất yếu lại mắc nhiều chứng bệnh, nên ông đã nỗ lực nghiên cứu học tập y thuật. Ông có nền tảng kiến thức sâu rộng về thuốc, có sự nghiên cứu sâu xa về các phương diện chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh bằng thuốc, châm cứu, phòng bệnh… cho đến năm 100 tuổi ông vẫn có thể nhìn và nghe rõ ràng và đã trở thành người thầy y học nổi danh một thời của nhà Đường.

Tổng kết những tư tưởng chăm sóc sức khỏe của y học, Đạo học, Nho học và Phật giáo Ấn Độ, ông cho rằng dựa vào cốt lõi “dưỡng tính” và “dưỡng lão”, có thể kéo dài tuổi thọ, trong đó phạm vi của nó bao gồm cả y học phòng bệnh, y học tâm lý và thể chất, y học tuổi già, thậm chí là chữa bệnh ở trẻ em và chữa bệnh bằng ăn uống.
Ví dụ: “Con người nên bảo trì tâm thái cân bằng, không nên cứ một mực theo đuổi danh lợi. Người ta ăn uống cần phải điều độ, không nên ăn hay uống quá nhiều. Khí huyết cần phải chú ý lưu thông, không nên lười biếng lười vận động. Sinh hoạt thường ngày cần phải ổn định, không nên trái với quy luật tự nhiên…”

Cách dưỡng tính bằng việc điều khiển cảm xúc, kiềm chế tình cảm

Về vấn đề dưỡng tính, Tôn Tư Mạc cho rằng nên điều khiển cảm xúc, kiềm chế tình cảm, luôn giữ cảm xúc lạc quan, phải tiết chế chuyện phòng the và ăn uống.

“Ăn uống lành mạnh, ăn để trị bệnh và uống thuốc”, phải luôn giữ trạng thái tinh thần và thói quen ăn uống tốt để phòng tổn thương tỳ vị, tránh ảnh hưởng đến khí huyết mà gây bệnh, đồng thời ông nhấn mạnh tác dụng phòng và trị bệnh của việc ăn uống và thuốc men.

“Tập luyện thể thao và điều hòa hơi thở”, ông cho rằng chúng ta phải vận động và tập luyện vừa sức như xoa bóp, hít thở, bấm huyệt, mượn cách bỏ xấu lấy tốt, kết hợp tĩnh và động để đạt được mục đích chăm sóc sức khỏe.

Cách dưỡng lão bằng việc bồi dưỡng tâm trạng, sống có quy củ
“Cách dưỡng lão” là cách dưỡng sinh ở người lớn tuổi, Tôn Tư Mạc cho rằng những người trên 50 là người lớn tuổi, lúc này có thể bị các bệnh về tinh thần cùng các hiện tượng lão hóa khác do sự yếu đi về mặt sinh lý, vì thế phải dưỡng lão bằng cách bồi dưỡng tâm trạng, sinh hoạt có quy củ, phải điều tiết việc ăn uống, xoa bóp vừa phải. Có nghĩa là dưỡng sinh ở tuổi già cần phải kết hợp giữa tâm trạng vui vẻ, sống có quy củ, ăn uống vừa phải và vận động vừa sức.
Nói chung, sự hình thành bệnh tật là do các chức năng bên trong cơ thể mất đi sự điều tiết, ví dụ như khi nguồn bệnh bên ngoài xâm nhập vào cơ thể, chỉ cần bổ sung được đủ dinh dưỡng, giữ cho các bộ phận trong cơ thể hoạt động, tăng sức đề khoáng thì sẽ không dễ bị nhiễm bệnh.

Bậc cao nhân xưa xem tinh, khí, thần như là tam bảo của sinh mệnh, muốn dưỡng sinh trường thọ thì cần giữ gìn 3 yếu tố này.

“Vĩnh viễn giữ gìn tuổi trẻ sức khỏe” là ước mơ mà mỗi chúng ta theo đuổi, quyển “Hoàng Đế nội kinh” 5000 năm trước đã dạy chúng ta cách dưỡng sinh (“Hoàng Đế nội kinh – Tố vấn – Thượng cổ thiên chân luận”). Dưỡng sinh không cần phải uống thuốc, mà là xuất phát từ trong “nội tâm” của chúng ta, khiến chúng ta quay ngược thời gian, tìm tòi trí tuệ của cổ nhân.

Hoàng Đế kính vấn Thiên sư Kì Bá (thầy của Hoàng Đế), người thượng cổ sống hơn trăm tuổi mà vận động không yếu đi, còn con người hiện nay sống không đến năm mươi mà vận động đã trở nên yếu ớt là do thời đại đã khác sao? Hay do khuyết điểm của bản thân con người?

Kì Bá trả lời, người thượng cổ thông hiểu đạo dưỡng sinh, ăn uống có tiết chế, sinh sống có quy luật, sinh hoạt không quá lao lực cho nên cơ thể và tinh thần đều khỏe mạnh, có thể sống đến rất lâu (thiên niên). Thế nhưng người ngày nay không như vậy, họ uống rượu thay nước, hành vi phóng túng, chuyện phòng the quá độ, hao tổn tinh khí, không biết khống chế cảm xúc, chỉ biết đuổi theo khoái lạc trong tâm hồn, thậm chí xem hành vi tổn hại sinh mạng là một thú vui, vì vậy sống đến năm mươi thì đã già.
Điềm tĩnh như không, chân khí đủ đầy, giữ vững tinh thần
Hoàng Đế học được cách tu đạo của tiên nhân Quảng Thành Tử rồi đắc đạo vào năm 120 tuổi, bay lên thành rồng.
Kì Bá so sánh sự khác nhau trong thái độ sống của người xưa và nay, sau đó giảng về triết lí của dưỡng sinh, “Người thượng cổ dạy người dưới mình, hiểu rõ tai hại của hư tà, tùy theo thì tiết tránh tà khí, giữ lòng điềm đạm, sống đúng với chân khí, giữ được tinh thần bên trong, bệnh sẽ không đến.”

Thường thượng cổ dạy cho nhân chúng phải tránh tà khí gây bệnh bên ngoài (phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa), phải thanh tâm quả dục, ngăn ham muốn, giữ tâm trong sáng, xem nhẹ danh lợi, đạt đến cảnh giới “hư vô”, như vậy mới có thể điều hòa thông thuận chân khí, bảo vệ tinh thần bên trong, tà khí bên ngoài không thể xâm lấn được, bệnh tật cũng sẽ không phát sinh.
“Thượng cổ thiên chân luận” là quyển đầu tiên của “Hoàng đế nội kinh – Tố vấn”, có thể thấy là hết sức quan trọng. “Thiên chân” là chỉ bẩm sinh của con người, đến từ sức khỏe, là tinh thần bẩm sinh, khí huyết bẩm sinh (chân khí), nguyên thần, vì vậy Đạo gia gọi tinh, khí, thần là “tam bảo sinh mạng”, ba điều quý đối với sinh mạng, có thể bảo vệ sự sống. Dưỡng sinh chính là phải bảo dưỡng tinh, khí, thần, như vậy thì tà khí bên ngoài mới không thể xâm nhập.

Nhưng phải làm thế nào để bảo dưỡng tinh, khí, thần? “Điềm đạm hư vô” chính là phương pháp bảo dưỡng tam bảo mà Kì Bá đưa ra, xuất phát từ “nội tâm” của chúng ta, nếu có thể thanh tâm quả dục, ngăn ham muốn, giữ lòng trong sáng, xem nhẹ danh lợi, không bị hấp dẫn bởi sự vật bên ngoài thì nội tâm mới có thể đủ thanh tĩnh, đạt đến “sống đúng với chân khí, giữ được tinh thần bên trong”, chân khí hòa hợp thông thuận, bảo vệ bên ngoài, tinh và thần không bị tác động, bảo vệ bên trong cũng chính là bảo dưỡng tam bảo tinh, khí, thần.

Đạo gia tu luyện thành chân nhân
Bước tiếp theo của dưỡng sinh là tu luyện, Đạo gia tu luyện là phải trở thành “chân nhân”, chính là “thần tiên” mà ta thường nói đến. Hoàng Đế có nói: “Nghe nói người thượng cổ có chân nhân, lãnh đạo thiên địa, nắm giữ âm dương, hấp thụ tinh khí, độc lập thọ thần, cơ thể như một, vậy mới có thể thọ bì thiên địa, không có chung thời, vượt ngoài luật sinh tử.” Tu luyện để thành chân nhân là có thể “thọ bì thiên địa, không có chung thời”, sống lâu vượt qua trời đất, vô cùng vô tận, cũng chính là đã đắc đạo thành tiên rồi.

Cách tốt nhất trong việc dưỡng sinh là không uống thuốc mà có thể chữa được bệnh
Cái gọi là “dưỡng sinh” là ý chỉ việc “chữa trước sẽ không có bệnh”, có nghĩa là trước khi bị bệnh, việc đầu tiên là dùng nhiều cách để điều hòa cơ thể, giúp cơ thể mạnh mẽ hơn để tránh sự xâm nhập của các căn bệnh, thậm chí là phòng bệnh. Nếu có thể làm được việc “không uống thuốc mà chữa được bệnh” thì mới là cách tốt nhất trong dưỡng sinh.
Quan điểm dưỡng tính và dưỡng lão Tôn Tư Mạc không chỉ là bí quyết cho việc ông sống thọ mà còn chứa đựng nhiều những lý luận về dưỡng sinh trường thọ của Trung Hoa cổ đại. Dưỡng sinh không chỉ dành cho người già mà mỗi giai đoạn trong cuộc đời chúng ta đều có những lưu ý chăm sóc sức khỏe khác nhau. Quan tâm sớm đến sức khỏe mới là cách dưỡng sinh có hiệu quả nhất.
-----------
admin
Site Admin
 
Bài viết: 6034
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: Tứ Đại Danh Y Thời Cổ Đại

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 6 Tháng 4 24, 2020 6:04 pm

Lý Thời Trân: Người chép sử về các loài thảo mộc

Lý Thời Trân (1518 – 1593), tự là Đông Bích, sống vào thời nhà Minh, là một dược sư vĩ đại của Trung Hoa. Ông được xem là cha đẻ của các bài thuốc Trung y và là vị Y thánh tinh thông về các loài thảo dược.
Lý Thời Trân sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống làm nghề thuốc. Ngay từ nhỏ, ông đã lập chí theo ngành y cứu chữa người. Nhưng để chiều ý cha, ông cũng bước ra ứng thí, theo con đường hoạn lộ.
Sau vài lần thi cử không đỗ đạt, ông quyết định bỏ nghiệp quan trường, toàn tâm toàn ý theo nghề thầy thuốc. Ở tuổi 30, Lý Thời Trân đã trở thành một danh y nức tiếng. Nhiều lần ông được triều đình đề bạt giữ các chức vụ quan trọng, trong đó có cả công việc ở Thái y viện. Tuy nhiên, vốn chẳng màng công danh, lợi lộc, Lý Thời Trân sớm xin từ chức, trở về quê nhà viết sách, nghiên cứu y thuật.
Cống hiến vĩ đại nhất của Lý Thời Trân là bộ sách “Bản thảo cương mục”, trong đó miêu tả chi tiết gần 1,900 loại thảo dược phân thành 60 mục. Để hoàn thành công trình đồ sộ hơn 2 triệu chữ ấy, Lý Thời Trân đã phải bỏ ra ngót 27 năm lao động miệt mài, khó nhọc, đi khắp núi cao vực sâu sưu tầm thảo dược rồi phân loại, định danh. Đây được coi là một cuốn bách khoa toàn thư về thảo dược, vẫn còn có giá trị tham khảo tới tận ngày nay.

Truyền thuyết kể rằng, các vị danh y của Trung Hoa cổ đại đều có những khả năng siêu thường. Họ có thể nhìn thấu cơ thể người bằng “thiên mục” haycon mắt thứ ba. Theo các kinh sách cổ xưa, thiên mục nằm ở trước trán, hơi dịch lên trên và ở giữa hai hàng lông mày. Thiên mục có thể được khai mở thông qua việc thực hành các môn pháp tu luyện tâm linh.
Mặc dù vẫn còn là một ẩn đố, thiên mục được cho là một phần của tuyến tùng quả. Ngày nay, khoa học hiện đại đã công nhận rằng, phía trước tuyến tùng quả có một cấu trúc giống y hệt con mắt người.

Theo cuốn tiểu sử “Minh ngoại sử bản truyện”, Lý Thời Trân sinh ra tại Kỳ Châu (ngày nay là Kỳ Xuân, tỉnh Hồ Bắc). Ông sống từ năm 1518 đến năm 1593 vào triều Minh.
Khi Lý Thời Trân sinh ra, có một con nai trắng đi vào phòng. Kể từ khi còn nhỏ, Lý Thời Trân đã được cho là có mệnh học thứ gì đó liên quan đến thuật tu tiên.
Lý Thời Trân rất thích đọc sách, và ông rất thông thái nhờ đọc nhiều sách. Lý Thời Trân thích đọc nhất là các cuốn sách y khoa, và ông cũng rất giỏi về y thuật, và vì vậy người ta coi ông là một thầy thuốc.
Lý Thời Trân thấy rằng cách phân loại thảo mộc trong sách cổ Trung Hoa quá phức tạp; tên của chúng không được đặt đúng chỗ, và ông không nghĩ rằng các loại thảo mộc đã được ghi chép một cách thích hợp. Do đó, ông đã mất 30 năm để biên soạn bộ sách “Bản thảo cương mục”, sau ba lần hiệu chỉnh và bao gồm nội dung của hơn 800 cuốn sách y học khác nhau.
Các tác phẩm khác của ông bao gồm: “Sở quán thi”, “Y án”, “Mạch quyết”, “Ngũ tạng đồ luận”, “Tam Tiêu Khách nan”, “Mệnh Môn khảo” và “Thi thoại”.
Trong những năm tuổi già, Lý Thời Trân tự gọi mình là “Tần Hồ sơn nhân”. Ông không những là một y sĩ và nhà nghiên cứu thảo mộc nổi tiếng, mà còn là một người tu luyện, và ông thường ngồi đả tọa luyện công hàng đêm.
Mặc dù Lý Thời Trân tinh thông y học và cũng là người tu tiên, ông rất chú trọng đến Kỳ kinh bát mạch. Ông chỉ ra trong cuốn “Kỳ kinh bát mạch khảo” rằng những người tu tiên nhất định phải biết về Kỳ kinh bát mạch. Ông cho rằng họ sẽ hiểu được thế giới thực tại trong nghề nghiệp của chính họ nếu họ biết về Kỳ kinh bát mạch.

-------------



Chữa bệnh bằng cách loại bỏ độc trùng trong cơ thể
Các phương pháp và hình thức trị liệu của y học Trung Quốc thời cổ đại rất phong phú đa dạng, trong đó có một số nội dung mà có lẽ con người hiện đại khó lòng tiếp nhận nổi. Tuy nhiên, những việc đó xác thực là có tồn tại vào thời cổ đại, còn được ghi chép và lưu lại trong lịch sử.
Phương pháp bắt trùng chữa bệnh trong Trung Y, không chỉ đơn giản như trục xuất ký sinh trùng gây bệnh trong nhận thức của Tây Y. Có một vài ví dụ cụ thể [về phương pháp này], mà nếu sử dụng Tây Y thì căn bản là không thể giải thích sáng tỏ nổi.
Trong sách “Danh Y Loại Án” có ghi: Vương Hải Tàng (danh y thời nhà Kim, học trò của Lý Đông Viên) nói: Có một người bệnh tên là Dương Thời, bị mắc chứng phong tấn công vào tim, ăn vào thứ gì cũng đều bị nôn ra, toàn thân héo gầy. Ông bèn cho người bệnh uống viên thuốc “Vạn bệnh tử uyển”. Uống được 20 ngày, bệnh nhân đi ngoài ra 5, 6 khối thịt hình thù giống như con cóc, cùng với nhiều mủ trắng, rồi khỏi bệnh. Còn có một viên quan Thị lang họ Triệu mắc bệnh, hễ ăn là nôn, mắt mờ không nhìn được. Người bệnh cũng uống viên “Vạn bệnh tử uyển”, thế là đi ngoài ra 5, 7 con rắn xanh và rất nhiều mủ độc. Sau đó khỏi bệnh.
Trong sách “Minh sử” có ghi chép: Đới Nguyên Lễ (một Ngự y thời nhà Minh, là học trò của Chu Đan Khê) tuân theo mệnh lệnh của Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương (người sáng lập ra triều đại nhà Minh, làm vua từ năm 1368 đến 1398) chữa bệnh cho hoàng tử Yến Vương. Ông lấy những vị thuốc mà thầy thuốc trước đó đã dùng để đối chiếu, xem xét vì sao lại không có hiệu quả. Rồi ông hỏi Yến Vương thích ăn gì. Yến Vương nói thích ăn rau cần tây nhất. Đới Nguyên Lễ nói: Tôi biết nguyên nhân phát bệnh rồi. Thế là ông kê một phương thuốc thích hợp. Ngay trong tối hôm ấy, Yến Vương đi ngoài ra rất nhiều con châu chấu nhỏ, thế là khỏi bệnh.

Nôn ra một con châu chấu
Danh y Trần Sỹ Đạc trong sách “Bản Thảo Tân Biên” có ghi chép: Khi ông đi du lịch tại Hồ Bắc ở Hán Khẩu, có chủ nhân của một chiếc thuyền chở khách bị ho đã lâu ngày. Hỏi ông ấy vì sao mắc bệnh. Ông nói chiếc thuyền khi cập bến ở Tầm Giang, đang đêm có cơn lốc, trong khi ông bận rộn kêu lái thuyền chuẩn bị buồm và dây buộc thuyền, đột nhiên mưa xối vào lưng ông, cảm thấy lạnh buốt, từ đó ông bị ho khan mãi cho tới tận hôm nay. Càng ho thì trong lồng ngực càng cảm thấy ngứa, cho đến khi ho cảm thấy đau đớn, thổ huyết một trận thì mới tạm dừng ho.
Ông nói: Nhất định là mưa lạnh đã xuyên thấu qua phổi, khiến cho trong phổi đã sinh ra trùng rồi. Người chủ thuyền không tin. Không lâu sau ông ta sẽ đau ngực, rồi thổ huyết, làm sao cứu được nữa đây? Trần Sĩ Đạc bèn nói: hãy mau chóng uống nước ô mai đi. Ông ta uống xong quả nhiên đau đớn giảm đi nhiều, hỏi Trần Sĩ Đạc thế là tại làm sao. Trần Sĩ Đạc nói: Đó là phương pháp thử, để kiểm nghiệm xem có trùng hay không. Trùng mà gặp phải vị chua thì sẽ ẩn nấp. Ông uống nước ô mai thì đau đớn tạm giải trừ, nhất định là do trùng đang tác quái rồi. Ông ấy lúc đó mới chịu tin tưởng Trần Sĩ Đạc.


Thứ nước uống đặc biệt
Trần Sĩ Đạc dùng lá “vạn niên thanh” giã lấy nước, dùng rượu hòa vào trong một cái chén, bảo ông ta khi ngực đau thì mau chóng uống ngay vào. Buổi tối, quả nhiên ngực ông ta lại đau, uống thuốc vào thì cơn đau càng dữ dội, đau đến độ chết đi sống lại. Ông ta cảm thấy vô cùng khát nước, muốn uống trà. Trần Sĩ Đạc cấm ông ta uống, khuyên ông ta uống thêm Vạn niên thanh. Ông ta không chịu nghe, Trần Sĩ Đạc bèn ép ông ta uống. Sau khi ông ta uống xong thì càng đau đớn, yết hầu ngứa ran. Trần Sĩ Đạc nói: đó là trùng gặp thuốc đang muốn chạy ra ngoài đó, hãy mau chóng uống vạn niên thanh nữa đi. Ông ta bèn uống nữa, uống xong thì bắt đầu hộc máu, con trùng cùng với máu đồng thời phun ra. Con trùng đó dài khoảng 1 đốt ngón tay rưỡi, to bằng ngón tay, thân trông như con dế mèn. Chân nó dài như con bọ ngựa, đầu nó màu tím hồng, dưới ánh đèn sáng nhìn thấy trên đầu nó có 2 cái xúc tu dài 1 đốt ngón tay, trên lưng có cánh chưa mục đủ, bụng còn chưa đủ lớn. Con trùng còn ôm theo một khối máu tụ to bằng ngón tay.
Bắt trùng chữa bệnh là một phương pháp trị liệu vẫn được áp dụng bởi các bác sỹ Trung Y hàng đầu cho tới tận thế kỷ 20. Trong sách “Bồ Phụ Chu y án” ghi lại câu chuyện Bồ Phụ Chu dùng “Ôn bạch hoàn” để trị bệnh “Trùng cổ” (có triệu chứng gần giống với bệnh gan xơ cứng trướng nước) cho người cậu ruột. Cậu ông uống xong thì nôn ra 2 con trùng, dài 8 đốt ngón tay, to như cái quản bút, màu vàng hình dạng giống như con lươn. Trong sách “Vương Miên Chi phương tề học giảng cảo” có ghi chép: một bệnh nhân nọ dùng “Miết giáp tiên hoàn”, “Chu xa hoàn” để trị bệnh bụng trướng nước, khi đang đi trên đường thì đột ngột muốn đi đại tiện. Đại tiện ra một thứ có màu xanh lục. Căn bệnh bụng phình trướng nước lập tức khỏi ngay.
Mặc dù người ta lảng tránh thảo luận về những chuyện này ở Trung Quốc ngày nay, nhưng dù sao đi nữa đó cũng là những hiện tượng đã được ghi chép lại.

-------

Thân thể người (nhân thể) có một quy tắc thời gian. “Cái chuông sinh mệnh của nhân thể” (đồng hồ sinh học) chạy đến đâu, thân thể người muốn làm gì, thì thân thể người tự nhiên biết ngay. Bởi vậy, ăn uống, nghỉ ngơi, bài tiết, v.v. thông thường đều có quy luật. Cái “chuông” này không chỉ biết nhắc nhở con người lúc nào nên làm gì, nó còn có thể ngưng vận hành nếu bạn cứ mãi vi phạm chỉ lệnh của nó. Ở nơi sâu xa, có một “thần linh” đang nghiêm khắc thao túng, coi sóc những sự việc này.
Như vậy, “cái chuông” của nhân thể và cái chuông thời gian trong sinh hoạt hằng ngày của chúng ta có quan hệ gì? Chúng có liên thông và liên kết cẩn mật với nhau.
Khí huyết là tinh vi, là tinh hoa của nhân thể, nhất định có tính lưu động. Người xưa cho rằng khí huyết là thông qua kinh lạc chảy vào các bộ phận của cơ thể, đẩy chất dinh dưỡng vào nội tạng, tay chân và bách mạch. Sự lưu hành này cung cấp dinh dưỡng cho kết cấu của lục phủ ngũ tạng, đều gồm có tiết luật thời gian lên xuống như thuỷ triều.
“12 thời thần” (*), là lấy khoảng thời gian từ sáng đến đêm tối phân ra 12 đoạn, dùng Địa Chi đặt tên cho mỗi đoạn thời gian. Quan hệ giữa 12 thời thần và 24 tiếng đồng hồ như sau:
Giờ Tý (23 giờ đêm – 1giờ sáng), giờ Sửu (1-3 giờ sáng), giờ Dần (3-5 giờ sáng), giờ Mão (5-7 giờ sáng), giờ Thìn (7-9 giờ sáng), giờ Tị (9-11 giờ sáng), giờ Ngọ (11-13 giờ chiều), giờ Mùi (13-15 giờ chiều), giờ Thân (15-17 giờ chiều), giờ Dậu (17-19 giờ tối), giờ Tuất (17-19 giờ tối), giờ Hợi (21-23 giờ đêm).
Đường dây chủ yếu của nó là bắt đầu từ kinh phế (phổi) (3-5 giờ sáng), đến đại trường (ruột già) (5-7 giờ sáng), vị (dạ dày) (7-9 giờ sáng), tỳ (lá lách) (9-11 giờ sáng), tim (tâm) (11-13 giờ chiều), tiểu trường (ruột) (13-15 giờ chiều) bàng quang (bọng đái) (15-17 giờ chiều), thận (17-19 giờ tối), tâm bào (màng tim) (19-21 giờ tối), tam tiêu (21-23 giờ tối), đởm (túi mật) (23 giờ tối – 1 giờ sáng), can (gan) (1-3 giờ sáng).
Mỗi kinh mạch là tương ứng với một thời thần. Vì vậy, đối với những bệnh tật trầm trọng của một nội tạng, thì cái chuông sinh mệnh của bệnh nhân luôn luôn chạy đến bộ vị của thời thần ấy thì đình chỉ lại.
Trong quá khứ, những người tu Đạo biết được quy luật tuần hoàn của kinh lạc, khí và huyết. Vì vậy, trong dân gian mới có phương pháp điểm huyệt, đó là căn cứ vào phương hướng cái chuông sinh mệnh của nhân thể. Lúc khí huyết chạy đến vị trí huyệt đặc định của một kinh mạch, chỉ cần điểm vào một cái, thì sẽ khiến cơ thể không nhúc nhích được, hay là không thể ngồi dậy được, và nó sẽ tự động giải khai. “Người thông thường coi đó là một màn biểu diễn, còn người hiểu biết thì coi đó là một môn Đạo”. Người biết khí huyết, chỉ cần điểm môt cái thì sẽ giải khai.


-----------
Khám phá Trung Y :

Chẳng trách điểm huyệt không có tác dụng đối với tôi!
Theo quan điểm của Trung Y, cơ thể người có mười hai kinh mạch, mười lăm mạch lạc, ngoài ra còn có kỳ kinh bát mạch. Mười hai kinh mạch có mối quan hệ liên thông với lục phủ ngũ tạng, thông qua mạch lạc, và liên tiếp nối vào nhau. Người ta tin rằng khí liên tục tuần hoàn nội tại trong kinh mạch. Khi mà khí đến vị trí của huyệt vị, thì người ta dùng tay ấn vào đó, và cổ nhân gọi phương pháp này là “Tý Ngọ lưu chú”,”phi đằng bát pháp” và “linh quy bát pháp”.
Trong kỳ kinh bát mạch, có hai mạch đặc biệt được gọi là “nhâm” và “đốc”. Nhâm mạch bắt đầu từ huyệt hội âm, chạy lên trên, men theo đường giữa mặt trước của cơ thể người và kết thúc tại huyệt “thừa tương” ở bên dưới môi dưới. Đốc mạch cũng bắt đầu từ huyệt hội âm, men theo đường giữa mặt sau của cơ thể người mà đi lên, qua đỉnh đầu, và kết thúc tại huyệt “nhân trung” ở phía trên môi trên. Có thể nói là nhâm mạch chịu trách nhiệm cho phần mặt âm của cơ thể, trong khi đốc mạch chịu trách nhiệm cho phần mặt dương của cơ thể. Hai mạch nhâm và đốc này hình thành nên vòng tuần hoàn “tiểu chu thiên”. Trung Y giảng, khi tiểu chu thiên được thông rồi thì bách bệnh đều không còn tồn tại nữa. Trên thực tế chính là tu luyện chứ không phải là châm cứu có thể đả thông vòng tuần hoàn tiểu chu thiên. Nhưng cả hai phương pháp này đều đồng ý rằng việc đả thông kinh lạc giúp cho cơ thể khỏe mạnh.
“Tý Ngọ lưu chú”,”phi đằng bát pháp” và “linh quy bát pháp” là các phương pháp trị bệnh bằng cách điểm huyệt một số lần nhất định trong ngày. Việc dùng đúng những phương pháp này có thể tăng cường hiệu quả trị bệnh. Trước đây tôi thường hay sử dụng những phương pháp này để tự điều chỉnh thân thể. Mỗi khi bị bệnh rồi sử dụng phương pháp này thì tôi thấy nó cũng có tác dụng khá tốt.
Sau đó, có người giới thiệu cho tôi Pháp Luân Công. Tôi đã đọc Chuyển Pháp Luân và thấy rằng thật là thần kỳ: Pháp Luân Công khai mở tất cả các kênh năng lượng trong cơ thể ngay khi bạn bắt đầu tập, trong khi phải mất tới cả chục năm để đạt được điều đó trong các công pháp khác. Do đó, tôi bắt đầu tập Pháp Luân Công.
Một thời gian sau, tôi cảm thấy cơ thể mình thay đổi – tôi thấy mình tràn đầy năng lượng. Mặc dù đôi khi tôi cảm thấy không được khỏe, tôi biết rằng đó chỉ là biểu hiện của nghiệp bệnh. Nhưng do tôi đã có một quá trình nghiên cứu lâu dài đối với Trung Y, tôi đã thử phương pháp điểm huyệt kia để làm giảm bớt sự khó chịu. Tuy nhiên, nó không có tác dụng đối với tôi bất kể tôi có cố gắng thế nào. Thật là kỳ lạ, nhưng sự khó chịu ấy lại biến mất ngay khi mà tôi tập các bài công pháp Pháp Luân Công.
Tôi tự hỏi tại sao khả năng y học của tôi lại suy giảm đến như vậy, nhưng khi tôi thao tác trên các bệnh nhân mà không phải là học viên, nó hoạt động rất tốt. Và rồi cuối cùng tôi đã hiểu ra: Các kênh năng lượng của người tập Pháp Luân Công ngày càng trở nên rộng hơn, và cuối cùng, tất cả các kênh năng lượng nối liền với nhau làm một và khi đó cả cơ thể đã ở trong trạng thái “không mạch không huyệt”. Tôi cũng đã hiểu ra rằng đối với học viên, sự khó chịu không phải có nguyên nhân từ bệnh tật, mà đó chỉ là sự chuyển động của các dòng năng lượng (công). Chẳng trách điểm huyệt không có tác dụng đối với tôi!

-----------

Câu chuyện y học: Khoa chúc do trong Trung Y

Khoa chúc do” được đề cập đến trong «Hoàng Đế Nội Kinh». Hoàng Đế nghe nói rằng vào thời cổ đại, các vật chất siêu vi có thể được nhập vào trong nội thể và dùng để trị bệnh bằng phương pháp chúc do.
Cái tên “chúc do” đến từ đâu? Theo «Kinh Dịch», “chúc” có nghĩa là làm hài lòng chư Thần, “do” có nghĩa là nguyên do, nguyên cớ. Vì thế, “chúc do” có nghĩa là cầu Thần ban phúc lành và tiêu trừ tai họa.
Trước đây tôi đã từng có một cuốn sách về khoa chúc do. Có khoảng 10.000 câu chú, và mỗi loại bệnh cần một câu chú khác nhau – nó rất khó nhớ. Thật khó để học các kỹ năng mà không được chân truyền, vì vậy tôi chỉ đọc một vài trang rồi lại đặt nó xuống.
Tôi nhận ra rằng có quá nhiều bệnh tật không thể chữa bằng chúc do. Thảo nào có một phần riêng biệt về khoa chúc do trong Trung Y. Ngoài ra, có một số căn bệnh rất nặng mà niệm chú không có tác dụng.
Một lần, tôi nghe được câu chuyện về một khí công sư cố gắng chữa cho một bệnh nhân bị tăng u-rê huyết vì có vấn đề về thận. Một số người với thiên mục khai mở đã nhìn thấy một linh thể giống như cápiranha ở trên đầu bệnh nhân. Vị khí công sư này không có khả năng loại bỏ được linh thể ấy.
Có nhiều nguyên nhân khiến một số căn bệnh trở nên rất khó chữa. Lấy ví dụ, trước đây có một khí công sư đã tu luyện rất nhiều năm và phát triển một phương pháp chữa bệnh ung thư. Tuy nhiên, chính khí công sư này lại chết vì bệnh u não.
Sau khi tiếp xúc với một thầy thuốc Trung Y trong nhiều năm, tôi đã có thể nói được bệnh nào không thể chữa chỉ sau khi tiếp xúc sơ qua với bệnh nhân. Nhưng nếu một thầy thuốc cứ khăng khăng chữa bệnh đó, họ có thể tự mình mắc bệnh và mang đến rắc rối cho chính các thành viên trong gia đình.
Tôi cảm thấy mình là người may mắn nhất khi được là một học viên Pháp Luân Công (Pháp Luân Đại Pháp). Trong số hàng chục triệu học viên Pháp Luân Đại Pháp, có biết bao nhiêu bệnh không thể chữa được bằng cả Tây Y lẫn Trung Y? Nhưng nhờ tập Pháp Luân Công, các bệnh tật của họ đã được chữa khỏi một cách thần kỳ.
Tôi thực sự rất ấn tượng trước sự tinh thâm của Pháp Luân Công. Tôi quả thực quá may mắn khi được sống trong thời kỳ lịch sử này.
piranha: một loài cá nước ngọt nhỏ sống ở vùng nhiệt đới châu Mỹ, thường tấn công và ăn các động vật sống.
Trong “Hoàng Đế nội kinh”, “Di tinh biến khí luận thiên”, có đề cập đến “Chúc Do”. Hoàng Đế có nghe thuyết cách chữa bệnh thời cổ đại, các vật chất tinh vi có thể được di nhập vào nội thể dùng phương pháp Chúc Do và giúp trị bệnh.
Tên Chúc Do đến từ đâu? Theo Kinh Dịch, ‘Chúc’ nghĩa là làm hài lòng chư Thần, và ‘Do’ nghĩa là nguyên do, nguyên cớ. Vì thế, ‘Chúc Do’ nghĩa là cầu chư Thần ban phúc, tiêu trừ tai họa.
Trước đây tôi có một cuốn sách về Chúc Do. Có khoảng mười ngàn câu chú [điều], và mỗi loại bệnh tật cần một loại câu chú khác nhau – nó rất khó nhớ. Thật là khó khăn để học các kỹ năng mà không được chân truyền. Vì vậy, tôi chỉ đọc một vài trang trước khi đặt nó xuống. Sau đó tôi nhận ra rằng có quá nhiều bệnh tật mà không thể chữa được bằng Chúc Do. Không nghi ngờ gì là có một phần riêng biệt là Chúc Do trong Trung Y. Ngoài ra, một số bệnh tật rất nặng mà niệm chú không có tác dụng.
Một lần tôi nghe một câu chuyện có một khí công sư cố chữa cho một bệnh nhân tăng ure-huyết vì có vấn đề về quả cật. Vài người với thiên mục khai mở nhìn thấy một linh thể giống như một loài cápiranha[1] ở trên đầu của bệnh nhân. Khí công sư đó không có khả năng để loại bỏ được linh thể. Thực tế là, có rất nhiều nguyên nhân vì sao một vài bệnh khó chữa. Lấy một ví dụ, trước đây có một khí công sư đa tu luyện rất nhiều năm và phát minh ra phương pháp trị bệnh ung thư. Tuy nhiên, sau đó khí công sư này chết vì khối u não.
Sau khi thành một thầy thuốc Trung Y trong nhiều năm, tôi có thể nói bệnh nào không thể chữa sau chỉ một lần tiếp xúc với bệnh nhân. Nhưng nếu một thầy thuốc cứ khăng khăng chữa những bệnh đó, họ có thể tự mình mang bệnh và ngay cả mang rắc rối đến những thành viên trong gia đình họ.
Sau khi tu luyện Pháp Luân Công, tôi cảm nhận sâu sắc rằng làm một học viên Pháp Luân Công thật may mắn. Trong hàng chục triệu các học viên Đại Pháp, có bao nhiêu căn bệnh mà không thể chữa được bởi Tây Y hoặc Trung Y? Đặc biệt là đối với các học viên Pháp Luân Công các bệnh này đều chữa khỏi. Điều này giúp tôi thực sự hiểu rõ [câu] “Phật Pháp vô biên” có nội hàm vĩ đại [như thế nào]. Kinh nghiệm của tôi cũng làm cho tôi cảm thấy sâu sắc rằng, đối với người sáng lập của Pháp Luân Công, đã hy sinh rất nhiều cho những học viên của mình, điều mà các học viên sẽ không thể nào nhận thức hết được. Thật sự là may mắn cho một người sống trong thời kỳ lịch sử này.
Ở đây tôi muốn nói với mọi người: xin vui lòng hãy thức tỉnh, vì cơ hội này chỉ đến một lần.
Khoa chúc do từ thời cổ đại là một phương pháp huyền bí, sử dụng thần chú để chữa bệnh. “Chúc” có nghĩa là niệm, cầu nguyện; “do” đề cập đến nguyên nhân của căn bệnh. Khi thực hành chúc, sẽ gọi một linh hồn, một con ma hoặc một cái gì đó và yêu cầu nó loại bỏ tai họa hoặc khó nạn. Nó giúp loại bỏ sự đau đớn của bệnh nhân. Phương pháp này còn được gọi là “khoa chú cấm”, cũng bao gồm việc sử dụng các loại thảo dược, bùa hộ mệnh, các biểu tượng được vẽ như là công cụ để xua đuổi tà ma. Ngày nay, nó bị gọi là lang băm.
Khoa sách cấm chủ yếu để điều trị hoặc loại bỏ sự không may mắn, đuổi ma, tẩy trừ nước ăn, thu nhỏ hay chặn bệnh lại. Ngày nay cách điều trị này được gọi là trừ tà, và thuộc lĩnh vực huyền bí.

HIÊN VIÊN HOÀNG ĐẾ

CHÚC DO THẬP TAM KHOA TỰ

Thời thái cổ, các bậc tiên hiền truyền nhau mười ba khoa y dược để trị bệnh. Chúc Do khoa là bí kíp phù chú của họ Hiên Viên nhằm trị mọi chứng bệnh của nam nữ. Bệnh thì phải theo y dược mà trị nhưng nếu không được thì phải dùng (sách này) để phụ tá thì việc điều chữa sẽ rất có hiệu quả. Không những thế còn có thể khu tà tróc quỷ. Người có bệnh khẩn cầu với trời, kể rõ nguồn cơn duyên cớ. nên gọi là Chúc do là như vậy. Y thuật lưu truyền ở đời vẫn thường gặp, duy có khoa này thường ít thấy, ít nghe, kẻ không biết lại bảo đây là thuyết yểu mạng hay là sự dị đoan. Chỉ biết đây vốn là di giáo của bậc thánh hiền truyền lại từ thời thượng cổ. Năm Mậu thân niên hiệu Cao Hi đời Tống, mùa đông tháng 10, Tiết độ sứ Tạp Kì Uy ra lệnh tu bổ bờ đê sông Hoàng Hà, đào được một tấm bia đá, trên có khắc phù chương, bèn tìm trong dân gian những kẻ thức giả có thể đọc được. Lúc đó chỉ có Vân Ngoại đạo nhân Trương Nhất Tra có thể đọc được. Ngài bảo rằng đây là tác phẩm của Hiên Viên Hoàng đế, nay Tạp công ( tức Tiết Độ sứ Tạp Kì Uy) gặp đươc nó vậy là có thể nối tiếp được tâm truyền vậy. Phàm là người bị bệnh dều có thể chữa được. Đến niên hiệu Cảnh Thái đời Minh có Từ Cảnh Thanh ở Lâm Huy lại nhận được sự truyền thụ và mang ra thi hành, chữa trị như thần, trăm phát trăm trúng, tế độ dân gian. Nhược bằng có chút lợi kỉ tư tâm thì không còn hiệu nghiệm nữa.


Bài tựa sách Hiên Viên Hoàng Đế Chúc Do khoa

Khi xưa Thần Nông nếm trăm thứ thảo dược để trị bệnh. Tuấn Bá xem bệnh để chế phương thuốc. Hoàng Đế nghiên cứu Ngũ hành, xem xét Ngũ Phú, sự cảm ứng của nguyên nhân bên trong, nguyên nhân bên ngoài. Cái xúc tác phản ứng của ta và người. Kẻ bị bệnh nhất thời không vui mà y dược do đó không thể xem tường mạch lí. Hoặc có kẻ nghèo hèn không thể lo chạy được thuốc thang. Kẻ học đạo cũng không thể nào có thể rộng giúp được khắp nên mới ngửa xem thiên văn, dưới coi nhân lí, bẩm cáo với Phục Hi, Thần Nông mà lập ra phép này. Lấy chữ Thượng làm tướng, chữ Thực làm binh. Các chữ này đều là chữ tiên phong để trị bệnh, phụng hành tế thế cứu dân. Thể theo bản thệ hiếu sinh của bậc đại thánh, cứu giúp nỗi lo khổ bệnh hoạn mà không cần Rộng tay quảng tế, quả thực là nấc thang đạt tới đại đạo. Mái chèo đạt tới cảnh tiên vậy.

Hàm Cốc sơn nhân Thể Chân tử bái đề.

Xin nhắc lại rằng, pháp thuật mênh mông như biển, người tu chứng đếm trên đầu ngón tay, mục đích đưa bài lên để không phụ lòng các vị tiền bối có công tu tập. Hơn nữa, các pháp thuật Địa tiên chỉ có thể phát huy sức mạnh khi ở trong địa giới qui định, nếu vượt qua bốn biển lớn, e rằng sức mạnh không còn lại bao nhiêu.

CHÚC DO THẬP TAM KHOA
1/Đại phương mạch,
2/Chư phong khoa,
3/Thai sản khoa,
4/Nhãn mục khoa,
5/Tiểu nhi khoa,
6/Khẩu xỉ khoa,
7/Đậu chẩn khoa,
8/Thương triết khoa,
9/Nhĩ tị khoa,
10/Sang thũng khoa,
11/Kim thốc khoa,
12/Thư cấm khoa,
13/Biếm giam khoa

QUY TẮC CHÚC DO KHOA

""Hiên Viên Hùynh Đế sáng tạo môn Chúc Do khoa để thống trị các chứng bệnh nội và ngoại thương, tất cả gồm 13 môn, chẳng cần xem mạch, biện luận ôn lượng, cũng chẳng cần châm chích huyệt đạo... Các chữ bí mật được Hiên Viên tạo ra từ việc thấu triệt tâm tánh con người. Chữ giống Ngũ Lôi phù, trong đó chữ Lôi làm vua, chữ Quỷ làm thần, các chữ khác làm tá xứ... tất cả hợp lại có tác dụng đuổi tà bệnh"

Muốn thực hành Chúc Do khoa phải thờ tượng Hiên Viên lão Tổ, mỗi chữ phù phải luyện tập đúng lệ kì là 49 ngày.


BÀI KHẤN

""Đại từ đại nguyện đại thánh chí linh, hợp định âm dương, đức tham trời đất, xét rõ đường lối mà cứu hơi thở cho mạch lạc. Đại cổ thánh Hiên Viên lão tổ hiểm minh y thuật, sáng tác Chúc Do phù chương huyền diệu, công cán chế tạo sâm nhung, hiệu dụ châm chích, đạo thuật vô cực. Con dân nhờ tế độ, tà quỉ nghe biết phải gào khóc. Đệ tử là ... ngưỡng mộ công ơn Thánh tổ oai linh. được lãnh giềng mối Chúc Do, ngưỡng mộ rộng lớn khắp cứu muôn dân, nay có người bệnh ... cầu ngài giáng lâm chữa trị, nhỏ phước thương tình giúp đỡ. xin khấu đầu cúng vái, khấu thỉnh lão tổ đại phát từ bi thần linh tốc ứng, giáng sắc lịnh chủ khoa y thần phò trợ đệ tử... ( tên người bệnh)... truyền cứu bệnh nhân đến cầu giúp( bệnh nhân lạy 4 lạy)"


LUYỆN NƯỚC CHỬA BỆNH

"Thiên dĩ nhất sanh - Địa dĩ lục thành - Nhất lục kí hiệp - Hoạt bát trường thanh- Tại thiên vi vũ lộ - Lợi vạn vật nhi bất cùng- tại địa vi giang hồ hiệp nhứt, nguyên nhị thống hiệp, thanh vi phóng thủy, đạo khí qui trung, tốn sái trai đàn, tà uế diệt tích, tư nghiễm hàn mặc, thư phù định công."

Lấy nước tinh khiết ( không dùng nước sông), luyện chú vào mỗi sáng sớm, sau đó rót nước vào chung để trước tượng Hiên Viên lão tổ, đốt hương điểm vào.Có bệnh nhân đến, thỉnh nước xuống, định tâm, tay phải bắt ấn Văn Quyết ( đầu ngón tay cái bấm vào đốt giữa ngón giữa), tay trái cầm chung, chân đứng Đinh tấn vững vàng, mắt nhìn vào nước, cắn răng, miệng đọc thầm Thủy chú , sau đó đọc đến câu chú chữa bệnh ( loại bệnh nào có câu chú riêng của bệnh đó).

Theo ý riêng của đệ, đây là nước thanh tịnh, đã có vào phép, nếu uống thường xuyên mỗi ngày cũng có công năng trị bệnh.


QUY CẤM DỤNG PHÙ
- Phải phân rõ bệnh chứng rồi mới điều trị, chớ lầm lạc qui tắc Chúc Do khoa.
- Phải giữ 10 điều cấm:
1-Tham tài vô yểm.
2-Chậm chạp nghi ngờ không quyết định.
3-Tùng sự thô lỗ.
4-Mượn việc chữa bệnh làm điều mờ ám.
5-Làm bẩn thỉu.
6-Vô cớ sát sinh.
7-Háo sắc say rượu.
8-Phô trương tài sức.
9-Kết bạn với kẻ gian tà.
10-Thâu dụng học trò bừa bãi về phép này. Giữ được 10 điều này, tất được Hiên Viên Lão tổ chứng tri.

Thái Thượng Lão Quân Dạy:
Kẻ không thành không kính không chữa.
Kẻ huỷ báng thiên y không chữa.
Kẻ bán tín bán nghi không chữa.
Kẻ trọng tiền khinh mệnh không chữa.
Phù chú không hợp không toàn không chữa.

Vu thuật cổ đại

Mấy ngàn năm qua, trong dân gian đã hình thánh và lưu truyền rất nhiều “pháp thuật”, có loại dùng để khống chế con người, có loại dùng để khống chế thiên nhiên, và những loại này thường được sử dụng bởi các “vu sư” (thầy mo). Người hiện đại gọi đó là “vu thuật”, rất nhiều vu thuật bị xem là mê tín, nhưng cũng rất nhiều loại được xem là có tính khoa học, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học, mà thôi miên là một trong các loại đó, và được gọi chung là “chúc do thuật”.

Chúng ta thường nghiên cứu vu thuật cổ đại từ góc độ “thôi miên”. Trong thời cổ đại, không có chữ “thuật” mà chỉ có tên là “chúc do”. Hiện nay tên gọi “chúc do thuật” làm cho ý nghĩa và tượng trưng của nó càng rõ ràng hơn.

Rất nhiều y học gia cổ đại đã giải thích chữ “chúc do” này đều cho rằng “chúc” là tụng đọc thần chú, là giải thích, còn “do” là nguyên nhân. Hợp hai từ lại có nghĩa là “giải thích nguyên nhân”. Ví dụ nói tâm tình bất thường, u uất là do “trầm tà” vào cửa, nếu người bị bệnh thận, da bị vàng là do “hoàng hộ quỷ” xâm phạm (quỷ da vàng). Tất cả mọi chứng bệnh đều được hiểu thông qua lời nói của vu sư, nhờ vu sư giải thích, nên dược gọi là “chúc do”, và mọi người tin tưởng rằng vu sư hoàn toàn có khả năng trị hết bệnh cho họ. Điều này có tác dụng như một loại tâm lý trị liệu. Nhưng cách trị bệnh ngày nay dĩ nhiên là khoa học hơn xưa rất nhiều.

Tác phẩm sớm nhất có nói về “chúc do” là quyển y học đồ sộ của Trung Quốc: “Hoàng Đế nội kinh”. Nội dung giới thiệu người Trung Quốc cổ đại trị bệnh không cần châm cứu, không cần uống thuốc mà dựa hoàn toàn vào “chúc do”, trị bệnh bằng liệu pháp tinh thần, dùng tinh thần để điều phối nội tạng. Đấy là thời nhân loại còn sống đơn sơ, tinh thần thuần phác nên nó có sức mạnh nội tại rất lớn.

Trương Giới Tân, tác gia, y học gia đời Minh đã nói trong “Loại kinh” rằng: “Chúc do” là pháp dùng phù chú để trị bệnh. Tức thông qua dọc phù chú, vẽ bùa, dùng các phương pháp thần bí để trị bệnh, nên người xưa còn gọi phương pháp này là “vu y”. Như vậy “chúc do” là phương pháp các thầy thuốc dùng để trị bệnh cho người, thông qua việc “trừ quỷ ở trong tâm” làm cho thân thể khỏe mạnh, tức là phương pháp điều trị tâm lý.

Căn cứ vào các giải thích này, có thể thấy các vu sư ngày xưa cho rằng thân thể, tinh thần và quỷ thần có quan hệ mật thiết vói nhau. Họ còn cho rằng thất tình (bảy trạng thái tâm lý của con người) xuất sinh nơi tâm ác, tâm ác làm cho khí lưu thông không điều hòa, bên thịnh bên suy, khiến cho thần trí tán loạn, làm tiền đề sinh ra các loại bệnh.

Các loại trạng thái tinh thần của một người liên quan mật thiết đến sự yêu ghét của người đó, vì yêu hoặc ghét quá mức đều làm cho tâm lý mất ổn định, ngoại tà xâm nhập. “Quỷ tà” là bệnh sinh ra từ tâm.
Vì thế nên nói những gì mình ghét thì mình không muốn nhìn thấy, những gì mình ưa thích thì cứ muốn thấy mãi... tất cả đều ảnh hưởng đến tâm lý, tình cảm của mỗi con người, làm khí huyết tán loạn, và người cổ xưa cho rằng do quỷ tà nhập vào thân thể, phải dùng thần chú để trừ diệt, xua đuổi ra.
“Chúc do thuật” được đùng để trị bệnh, được phổ biến rộng rãi trong dân gian cổ xưa, có người cho rằng nó là một loại hình mê tín sớm nhất của nhân loại, và hiện nay vẫn còn tồn tại ở một số nơi.

Thực chất của chú ngữ và nệm chú

Điều mà dân gian cảm thấy thần kỳ nhất, bí ẩn nhất trong cách điều trị bệnh của các vu sư chính là “chú ngữ” (những lời chú thuật).

Chú ngữ và niệm chú có nhiều cách khác nhau tùy theo từng tông phái, từng vu sư và họ thực hiện rất có trĩnh tự, hệ thống theo cách của họ. Sau đó, chúc do thuật được ứng dụng vào trong y học, được liệt vào danh sách “tam thập khoa” của các triều đại. (Trong tam thập khoa có đại phương mạch, tiểu phương mạch, phụ khoa, châm cứu, nhãn khoa, nha khoa v.v.„).

Chúc do được vua chúa các triều đại xem trọng, nó đặc biệt có công hiệu trong việc trị đau đớn trên thân thể.

Vậy chúc do thuật được thực hiện như thế nào? Chú ngữ là gì?

Chú ngữ là những lời nói, câu khấn mang nội dung cầu khẩn với thần linh hoặc sai khiến quỷ thần, hoặc là một chuỗi ngôn từ không ai hiểu dược, song theo các vu sư, nó có năng lực linh thiêng đặc biệt.

Có nhiều loại chú ngữ như chú tịnh thủy, chú trừ tà, chú thỉnh thần tiên, chú cầu mưa, chú chữa bệnh, chú cầu mạnh khỏe v.v... Nói chung là trong cuộc sống sinh hoạt, con người có nhu cầu về điều gì thì sẽ có chú ngữ tương ứng để đáp ứng nhu cầu đó.

Trong quá trình trị liệu, sử dụng chú ngữ nào là do vu sư chữa trị quyết định; địa điểm, môi trường trị liệu cũng được lựa chọn kỹ càng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả chữa trị.

Tuy mỗi vu sư đều có những chú ngữ khác nhau trong việc trị liệu nhưng trên đại thể vẫn giống nhau, tức tất cả các chú ngữ này giống nhau trên căn bản, chỉ khác nhau ở các tiểu tiết.

Vậy những chú ngữ và thuật đọc chú ấy có liên quan, ảnh hưởng gì đến thân thể của con người không?
Chúc do thuật là một trong những phương pháp thôi miên tối cổ của Trung Quốc, nếu xét từ góc độ khoa học thì nó mang tính ám thị đặc thù.

Các vu sư ngày xưa cũng “sáng tạo” ra hình thức quỷ thần nhập thân, linh hồn người chết nhập vào người sống v.v... đây là hiện tượng khó giải thích. Tuy nhiên, các vu sư cũng lợi dụng niềm tin này giả làm quỷ thần, lên đồng lên bóng để bệnh nhân tin tưởng, có lợi cho việc chữa trị. Đây chính là liệu pháp tâm lý, nằm trong phạm trù ám thị, đạt đến mục đích ám thị. Những ghi chép còn lại của vu thuật cổ xưa đều thừa nhận liệu pháp trị liệu tâm lý này.

Ví dụ với bệnh nổi mụn nước là một bệnh ngoài da, nguyên nhân phát bệnh không liên quan gì đến yếu tố tâm lý, nhưng theo cách trị bệnh đã trình bày ở trên thì vu sư ám thị với bệnh nhân thế này: “bệnh mụn nước của anh đã bị thần tiên lấy đi rồi, sẽ giảm dần rồi hết hẳn”.

Dùng liệu pháp tâm lý này quả nhiên chữa khỏi, y học hiện đại cũng chứng minh điều này hoàn toàn có cơ sở khoa học của nó.

Nhìn chúc do thuật từ phương diện lịch sử, trong bối cảnh văn hóa mà con người vẫn còn tin vào ma quỷ, thần thánh thì con người sẽ tuyệt đối tin tưởng vào đó, cũng giống như nhân loại hiện nay hoàn toàn tin tưởng vào khoa học vậy. Các cuộc khởi nghĩa của Trần Thắng, Ngô Quảng (Trung Quốc) sở dĩ thắng lợi là nhờ dùng biện pháp ám thị này, họ xem mình là hóa thân của thần thánh nên đã thu phục được lòng dân. Chúc do thuật đã triển khai bằng phương diện thần thánh hóa và gặt hái những thành tựu đáng nể phục. Chúng ta không thể không tán thán tài trí của các vu thuật gia. Họ dã thu phục được lòng người bằng cách của họ và đã khẳng định dược giá trị tồn tại của mình.

Tiếp theo, chúng ta hãy tìm hiểu sự thực về chú ngữ. Chú ngữ có tính ám thị rất lớn, những chú ngữ dùng chúc do thuật đều mang tính ám thị. Đối với vu sư, thần thánh, ma quỷ là những thế lực tồn tại thực sự trên thế gian này và họ đã dựa vào đó để giải thích mọi may rủi của con người. Điều quan trọng là khi người gặp tai nạn, rủi ro... phải nhờ vào vu sư, chỉ có vu sư mới thông linh với quỷ thần để giải trừ tai nạn.

Theo sử sách còn ghi lại thì chúc do thuật đã có từ thời nhà Châu, và thời ấy còn có chức quan cho lĩnh vực này. Nội dung của chú ngữ bao gồm nhiều vấn đề như trừ bệnh, trừ tai nạn, cầu ban phước, cầu hồn, chú biến hóa hình dạng (như biến thành hổ, thành sư tử...) chú giáng long, chú cầu mưa, chú gọi gió, chú cầu an bình, cầu trời trong trăng sáng v.v... Dường như mọi nhu cầu của con người trong cuộc sống mà tự mình cảm thấy bất lực, họ đều nhờ đến thần chú, nhờ đến quỷ thần. Nhưng có điều không thể phủ nhận là những thần chú này thông qua tài năng của vu sư đã mang đêh những hiệu quả nhất định, đáp ứng được nhu cầu của người dân, chính vì thế mà nó mới có thể tồn tại vững vàng suốt mấy ngàn năm.

Ở vùng núi Quế Châu có một phong tục “thỉnh thần” như sau: Một gia đình nọ có người con dâu bị bệnh. Chủ nhà khấn rằng: “Gia đình tôi, đầu tiên là mất một ít tài sản, sau đó tôi đau dầu. Càng đau lòng hơn, con dâu chúng tôi lại bị trúng phong. Có một lần con dâu ở nhà giữ con, đang ôm con trong lòng, ngồi nấu cơm bên bếp lửa, bỗng nhiên nó trúng phong, ngã ra sau, miệng sùi nước bọt, đứa con chưa đầy 4 tháng tuổi bị hất văng vào lò lửa, bị thiêu chết. Vì thế người trong làng cho rằng con dâu tôi đã xúc phạm đến quỷ thần nên mới bị quỷ thần trừng phạt. Chúng tôi hiện đang thỉnh vu sư để làm phép thuật, cầu thỉnh vị thần mà con dâu tôi vô tình xúc phạm đến, đồng thời tìm xem tà ma nào đã vào nhà, chúng tôi đồng lòng tế thần cúng quỷ, xin được bày biện pháp đàn nghiêm cẩn!”.

Vu sư căn cứ vào cách thức tế quỷ thần thường làm, cẩn thận chuẩn bị đèn, nhang, cúng phẩm và chọn thời gian thích hợp để mở pháp đàn.

Khi cúng tế, vu sư sẽ đọc rõ tên họ người bệnh, tên họ những người trong gia đình, nơi chốn họ đang sống rồi thỉnh thần thánh của năm phương đông, nam, tây, bắc và trung tâm.

Lời khấn thường dài khoảng 2 trang giấy, viết trên giấy sạch, khi tế đàn thì trải trên bàn tế. Vu sư sẽ dùng máu của mào gà cho lễ tế, nhỏ máu mào gà vào một cái chén nhỏ. Sau đó sai người thân của bệnh nhân mang đến trước đàn tràng. Vì đứa con nhỏ của bệnh nhân đã chết nên mọi người cho rằng cô con dâu này đã bị quỷ ám rất nặng nề, vu sư cho rằng dưới sự chỉ dẫn của thần linh, có thể biết được loại quỷ nào đã nhập thân bệnh nhân. Vu sư sẽ tụng một đoạn chú ngắn để cầu thần lình bảo vệ cho bệnh nhân, sau đó đưa bệnh nhân đến quỳ trước đàn tràng. Vu sư niệm chú tĩnh tâm cầu xin cho bệnh nhân thân thể khỏe mạnh, tinh thần sáng suốt minh mẫn, không bị tà ma nhập thân.

Bệnh nhân quỳ trước đàn tràng, tự động nhắm mắt lại. Vu sư đốt tiền giấy, khua linh, niệm thần chú thỉnh thần linh phóng linh quang trừ tà đuổi quỷ cho bệnh nhân.

Sau đó, vu sư bước đến sau lưng bệnh nhân múa may tay chân, tiếp đó chuyển đến trước mặt bệnh nhân, nhìn chăm chú vào mặt bệnh nhân một lức, đột nhiên hét to lên một tiếng, bắt đầu nói rõ nguyên nhân bệnh tình rằng bệnh nhân đã bị tà ma gì nhập thân, đã phạm lỗi gì vởi quỷ thần v.v... sau đó đọc chú thỉnh thần linh trừ tà đuổi quỷ bảo hộ bệnh nhân.

Đấy là đại khái những nghi thức trị bệnh tà ma của vu sư trong dân gian. Ở phần trước chúng tôi đã giới thiệu thuật ám thị và thôi miên, dùng trí thức về ám thị, thôi miên để tìm hiểu chúc do thuật, chúng ta sẽ thấy rằng chú ngữ ngoài những nội dung nói về thần và quỷ, chúng còn mang tính ám thị đặc thù.

Khi vu sư mời thỉnh thần thánh là ông đang ám thị với mọi người rằng mình có pháp thuật cao minh, xác lập niềm tin với mọi người.

Khi niệm chú tĩnh tâm là làm cho bệnh nhân hoàn toàn bị nhiếp phục vào quá trình chúc do.

Niệm chú, khua linh, nhảy múa là những trạng thái đặc thù của vu sư, làm cho tâm lý của bệnh nhân cũng rơi vào trạng thái thôi miên.

Mọi người nhất định sẽ hỏi: 'Vu sư không hiểu thuật thôi miên hiện đại, trong toàn bộ quá trình chúc do cũng không sử dụng bất kỳ tín hiệu ám thị nào để dẫn dắt đối tượng vào trạng thái thôi miên. Vậy tại sao nói bệnh nhân ấy đã rơi vào trạng thái thôi miên?”.

Quả thật, chính điểm đặc thù này đã giúp chúc do tồn tại lâu dài ở nhân gian.

Ở đây vu sư đã dùng “khách quan ám thị” để tạo ra những phản ứng của hành vi tâm lý. Chú ngữ, động tác của vu sư trong chúc do thuật cũng tạo ra khách quan ám thị, nhưng vu sư không hề biết mình đang thực hiện khách quan ám thị, mà nghĩ rằng mình có năng lực thông thiên địa, có thể mời thần, thỉnh thánh, trừ tà, diệt ma.. Những nơi khoa học kém phát triển, chúc do thuật còn có sức sống rất mạnh mẽ.

Ở nơi văn hóa thần linh chiếm ưu thế, con người ngay từ thuở nhỏ đã bị ảnh hưởng rất nhiều, hình thành một loại tự ngã ám thị trong tâm linh. Dưới tác động chi phối của tâm lý này, họ sẽ giải thích sự vật hiện tượng bằng niềm tin vào thần thánh.

Với người tin tưởng quỷ thần thì việc dùng quỷ thần khống chế tâm lý, hành vi của họ, tôi nghĩ không có cách nào “tuyệt diệu” hơn chúc do thuật. Chính vì nữ bệnh nhân ấy đã bị thôi miên nên mới có nhiều hành động khác thường. Chú ngữ chẳng qua là những từ ngữ chuyển đạt ý muốn của vu sư. Ý nghĩa thật sự của chú ngữ chỉ có thế mà thôi!

Các loại chúc do thuật thôi miên

Chúc do có khả năng nhiếp phục tâm người, chủ yếu là ở một số phương diện sau:

- Ảnh hưởng của văn hóa thần linh

- Chú ngữ có tính ám thị rất cao

- Hành động, ngôn ngữ của vu sư làm cho mọi người cảm thấy thần bí, e sợ.

Vu sư nắm vững nghệ thuật nhiếp phục tâm người. Tất cả những điều đó đã biến đàn tràng thành nơi trang nghiêm, thần bí, khiến cho mọi người bị cuốn hút, bị nhiếp phục.

Trong quá trình hình thành và truyền bá đã sản sinh ra vô số phương pháp thôi miên, tuy đại đa số thuộc lĩnh vực mê tín, nhưng ở đây chúng tôi cũng lược trích một vài phương pháp để giới thiệu với mọi người,
một mặt có thể nâng cao kiến thức, mặt khác hiểu được phần nào “nguồn gốc” của hoạt động mê tín.

Thuật khai khẩu

Dân gian có câu “họa tùng khẩu xuất”, tức người luôn giữ được yên lặng trước mọi vấn đề của cuộc sống là người thật sự đủ “bản lĩnh” khống chế mình, là bậc “cao minh”. Nếu muốn họ nói ra những suy nghĩ, tri thức của mình,các vu sư thường dùng chúc do thuật, hoặc để khai thác phạm nhân họ cũng dừng chúc do thuật.

Họ để đối tượng quỳ trước tượng thần, lễ bái bài vị thần linh. Sau dó vu sư nhảy múa, đọc chú ngữ thỉnh thần đại loại như sau: “Thiên chi tinh quang, địa chi tinh quang, nhị thập bát tú tinh quang nguyên thủy đại quang chiếu diệu thập phương lâm quang..”.

Đọc chú xong, vu sư bắt đầu hỏi trên tư cách của một hóa thần:

- Ta là tiểu thần hầu bên cạnh Thái Thượng Lão Quân. Lão quân mắt nhìn khắp bốn phương tám hướng, biết rõ họa phúc của thế gian. Hôm nay Lão Quân ngự tại thiên đường, ra lệnh cho ngươi hãy nói thật, nếu có lời nào dối trá, Ngài sẽ trị tội..

Sau khi đã “băm dọa” như vậy xong, vu sư bắt đầu hỏi vào các vấn đề mà họ cần biết và đối tượng cũng thành thật trả lời, phương pháp này hiện nay vẫn được dùng trong chúc do thuật. Thần phụ chẳng phải tự nhận mình là con của Thượng Đế sao. Vì vậy bất kỳ đối tượng nào đứng trước họ đều không dám giấu giếm điều gì.

Ngày nay các bác sĩ tâm lý học cũng thường dùng những cách như vậy để trị bệnh cho người. Họ thường ám thị cho bệnh nhân biết rằng chỉ có họ mới chữa trị được bệnh cho bệnh nhân, vì thế bệnh nhân cần phải nói ra tất cả mọi thứ liên quan đến bệnh tình, có như vậy hiệu quả trị liệu mới cao. Khi ấy bác sĩ trong mắt bệnh nhân chẳng khác gì “đấng cứu thế”, có nhiều bệnh nhân nói với bác sĩ cả những chuyện riêng tư của mình, và cho rằng điều đó vô cùng cần thiết, không hề hối hận.

Phương pháp Nhân bất giác

Tục ngữ có câu: “Nếu muốn người khác không biết thì mình đừng làm”. Thế nhưng trong chúc do thuật, đối tượng có khi làm rất nhiều việc nhưng không biết mình đã làm, đồng thời cũng không nhớ được mình đã làm gì khi ra khỏi trạng thái của chúc do.

“Nhân bất giác” còn được gọi là “mê pháp”, tức là làm cho đối tượng nhập vào trạng thái ý thức bị mê muội. Trong quá trình này, đối tượng bị vu sư dẫn dắt, nhiếp phục. Vu sư nói rằng đã thỉnh thần nào thánh nào giáng lâm, đối tượng lúc ấy đã xem vu sư trước mặt mình là hóa thân của vị thần ấy, tiềm thức của đối tượng đã công nhận điều đó.

Lời nói, hành động của vu sư được xem là của thần thánh thì đối tượng dĩ nhiên phục tùng vu sư một cách tuyệt đối, không còn ý thức chủ quan nữa, làm theo lời sai bảo của vu sư một cách vô ý thức, vô điều kiện. Cuối cùng, vu sư bảo: “việc đã xong, thần đã về trời”, đối tượng sẽ trở về hiện thực, có người hiếu kỳ hỏi mình lúc nãy đã nói những gì, làm những gì, đối tượng hoàn toàn không tự nhớ ra được gì cả!

Vì đã hiểu thuật thôi miên nên khi chúng tôi thuật lại những điều này, mọi người sẽ hiểu được ngay.

Trong quá trình thực hiện chúc do thuật, vu sư tượng trung cho thần thánh, lời nói việc làm của họ hàm chứa tính ám thị rất cao. Tuy vu sư không cố ý thực hiện thuật thôi miên, nhưng đối tượng tự nhiên bị lời nói, cử chỉ của vu sư nhiếp phục, tự nhiên đi vào cảnh giới bị thôi miên. Câu cuối cùng gọi đối tượng trở về hiện thực cũng giống như cách các nhà thôi miên áp dụng để gọi đối tượng của họ thoát khỏi trạng thái thôi miên. Nếu vu sư muốn thực hiện “hậu thôi miên” cũng chẳng khó khăn gì.

Thuật thông linh

Tục ngữ có câu: “Tri nhân tri diện bất tri tâm”. Nếu chúng ta hiểu được lòng nhau thì thế giới này đã sớm trở thành thiên đường rồi. Vì không thể “tri tâm” nên cuộc sống mới xảy ra nhiều chuyện đau lòng, phức tạp, rối ren. “Thông linh thuật” là phương pháp để hiểu được lòng người.

Theo truyền thống, vu sư niệm xong một đoạn chú ngữ thì sẽ biết được suy nghĩ của đối tượng (lúc ấy đang quỳ trước tượng thần). Ông đặt một tay lên đầu đối tượng để biết rằng đối tượng nói thật hay nói dối v.v... đấy là một loại thông linh thuật.

Còn một loại thông linh khác là làm cho đối tượng hiểu được tâm tư của người bên cạnh mình. Vu sư sẽ dùng chú ngữ, múa thần v.v...để khiến cho đối tượng có được năng lực đó. Có khi vu sư muốn nâng cao năng lực của mình đã làm cho chính mình đi vào trạng thái chúc do thuật. Thông linh thuật không có gì khác biệt với cảm ứng tâm linh, là chức năng được sản sinh ra khi lớp vỏ đại não bị ức chế hoặc hưng phấn cao độ, chứ không phải do thần thánh làm thành như các vu sư đã nghĩ.

Nếu không thỉnh thần thánh thì vu sư có thể thông linh được không? Hoàn toàn có thể, ví dụ như dùng thuật thôi miên.

Ngoài ra, hai người song sinh cũng có thể thấu hiểu tâm linh của nhau.

Tự mình luyện tập cũng có khả năng nâng cao được năng lực thông linh của mình.

Cũng có những người có khả năng thông linh bẩm sinh.

Dân gian tin tưởng rằng có thuật làm cho âm hồn hoàn dương, tức vu sư có thể làm cho linh hồn của người chết trở về nhân gian, nhập vào thân xác của một người đang sống, nói ra những gì mà người thân họ muốn biết.

Những đứa con khi mất cha, muôn linh hồn cha trở về để di huấn điều gì hoặc muôn biết cha sống ở âm gian thế nào, bèn thỉnh vu sư đến mở đàn tràng thỉnh hồn hoàn dương. Những đứa con muốn được hồn cha nhập thân sẽ phải khấu đầu quỳ lạy trước đàn tràng. Với tình trạng ấy, đến chiều tối thì những đứa con ấy dường như đã tự mình đi vào trạng thái mơ hồ, mất ý thức. Thế nhưng đến 12 giờ đêm, vu sư vẫn còn đang làm phép hoàn dương, những đứa con đã mệt càng mệt thêm. Vu sư sẽ đưa thêm nhiều đệ tử đến tụng đọc chú ngữ, những đứa con vẫn còn quỳ đó. Đột nhiên tiếng chuông, tiếng linh khua lên một hồi dồn dập, gấp rút, làm cho những đứa con càng hoang mang. Vu sư một bên niệm chú, một bên đưa mắt nhìn quanh, xem trong số những người đang quỳ kia ai là người thích hợp để âm hồn nhập thân. Niệm xong ba lần chú ngữ, vu sư xác định xem hồn đã nhập vào người nào đó. Khi hồn đã nhập vào ai thì người đó lúc ấy không còn là chính mình nữa, mà là người cha của họ đang nói chuyện bằng miệng của mình mà thôi. Sau đó những người thân còn lại sẽ hỏi cha họ những vấn đề họ muôn biết. Lời nói của linh hồn được xác chứng là đúng sự thật với tỉ lệ rất cao.

Hiện tượng “âm hồn hoàn dương” liên quan mật thiết đến cảm ứng tâm linh, là người có những phản ứng đặc thù của linh hồn khi con người đang hoang mang cực độ.

Còn rất nhiều “pháp thuật” khác của chúc do thuật như thuật ẩn thân, thuật an thần, thuật hộ thân, thuật giữ tiền v.v... Từ phương diện nghiên cứu hiện đại thì những thuật ấy cũng có ý nghĩa nhất định của nó, có nghĩa rằng tuy việc làm của vu sư là mê tín nhưng vì đáp ứng nhu cầu của cuộc sống nên nó đã tồn tại rất lâu, và có thể giải thích được các việc ấy trên lập trường khoa học của mình.

Tín ngưỡng và thôi miên

Chúc do thuật cổ đại chủ yếu dùng để trị bệnh nhưng có người nghi ngờ về cách trị của các vu sư, ví dụ như họ tụng chú ngữ vào hòn đá, để hòn đá vào túi người bệnh; tụng chú vào nước cho người bệnh uống v.v... người bệnh quả nhiên hết bệnh, tại sao? Bệnh nhân làm theo lời chỉ dẫn của vu sư, niệm chú ngữ theo vu sư, bệnh khỏi, như vậy có phải là ám thị không?

Như chúng ta đã biết, tuy lời nói của vu sư không mang bất kỳ ám thị nào, nhưng hành vi của vu sư cộng với tâm lý cầu trị bệnh của vu sư đã tạo thành ám thị. Ví dụ bệnh nhân đau nhức chân phải, vu sư dán cỏ lên mí trên của mắt phải, cỏ không có tác dụng trị bệnh gì cả, thế nhưng tâm lý muốn khỏi bệnh của bệnh nhân và cỏ đã được dán lên mí mắt đã tạo thành tự ngã ám thị cho bệnh nhân: “mình đang được dùng thuốc”, chính vì thế mà bệnh mới khỏi. Tuy nhiên, không phải bệnh đau chân nào cũng trị khỏi được. Chỉ có thể trị được những loại đau nhức do tâm lý tạo thành. Trung y hiện đại dùng phương pháp “dán cao dược” để trị đau nhức, đây là chịu ảnh hưởng từ phương pháp trị liệu của các vu sư thời cổ đại.
Có người đau khớp đến không chịu nổi, nhưng vừa dán cao lên, chưa đến 10 phút đã thấy giảm rất nhiều. Các bác sĩ đều biết, cao dược hoàn toàn không phải là tiên dược, nhưng nó có tác dụng rất lớn lên tâm lý vì thế mà hiệu nghiệm.

Ớ đây, tôi xin nói rõ một vấn đề, chú ngữ có công hiệu thần thánh đối với người cổ đại, nhưng tại sao lại không có công hiệu với người hiện đại? Nếu cho rằng vu thuật có thể nhiếp phục tâm linh người cổ đại, vậy tại sao không nhiếp phục được tâm linh của người hiện đại?

Đây là vấn đề về tín ngưỡng.

Người cổ đại ảnh hưởng văn hóa thần linh, tin tưởng thần linh, cho rằng thần linh thống trị loài người. Thần linh với chính trị, cũng như tôn giáo với chính trị, không hề tách ly nhau. Lợi dụng tín ngưỡng là một trong những yếu tố để thực hiện pháp thôi miên của vu sư. Ngày nay, nhân loại đã thức tỉnh khỏi giấc mơ về thần thánh, nhưng lại hình thành một thế hệ “vu sư hiện đại” mới.

Người hiện đại không tin vào quỷ thần nhưng vẫn có tín ngưỡng của riêng mình. Tuy sống trong thời đại văn minh khoa học, không hẳn tin vào quỷ thần, nhưng người hiện đại vẫn giữ niềm tin vào tín ngưỡng truyền thống ở một mức độ nhất định nào đó, các nhà thôi miên đã lợi dụng tâm lý này để áp dụng vào việc trị bệnh cho họ. Các bác sĩ tâm lý, các nhà tâm lý học chính là những vu sư của thời hiện đại.

Một số nhạc sĩ đã sáng tác ra những bài ca yêu nước, khơi dậy tinh thần dấu tranh của dân tộc, lời ca của họ thúc giục mọi người dứng lên bất chấp gian khổ, bất chấp hy sinh, tất cả vì non sông độc lập, đất nước hòa bình... đấy cũng là những vu sư của thời hiện đại, là những người nắm vững thuật thu phục nhân tâm. Có thể nói chúc do thuật đã được người hiện đại tiếp thu và sử dụng theo cách của họ. Trong nhà Phật có câu: “tâm thành tất linh”, tức có cảm thì sẽ có ứng. Quy luật cảm ứng này là phạm vi nghiên cứu của tâm lý học. Chúc do thuật và tâm lý học hiện dại đã gặp nhau ở không ít vấn đề.

Trong thời kỳ công xã nguyên thủy, chúc do thuật nằm trong tay các nhà lãnh đạo. Đến thời nhà Thương, nhà Châu mới trở thành một khoa độc lập của y học. Đến đời Minh, đời Thanh mới được lưu hành rộng rãi trong nhân gian. Cho đến ngày nay, nó vẫn còn được vận dụng vào trong cuộc sống bằng nhiều hình thức khác nhau, bởi tất cả mọi người đều hiểu rằng: “Đắc nhân tâm giả, đắc thiên hạ” (người được lòng người là người dược thiên hạ).
admin
Site Admin
 
Bài viết: 6034
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am

Re: Tứ Đại Danh Y Thời Cổ Đại

Gửi bàigửi bởi admin » Thứ 6 Tháng 4 24, 2020 6:04 pm

Khám phá Trung Y: Một phương pháp cầm máu dị thường

Một hôm, tôi đi ngang một trung tâm trị liệu. Có nhiều bệnh nhân đang đứng xếp hàng. Một trong những người đó có người trông rất là lo lắng, đang ấn ngón tay trái của mình lên cánh tay phải. Tôi bước đến anh ta và đã hỏi xem anh ta có chuyện gì không. Anh ta nói rằng anh ta là đầu bếp và đã cắt nhầm mình trong lúc xắt thịt. Vết cắt rất sâu và nghiêm trọng. Bác sĩ đã không có thời gian khám cho anh ta bởi vì ông đang giúp đỡ một bệnh nhân bị bỏng nước sôi. Cách chữa trị thật sự rất đơn giản. Tôi bảo anh đầu bếp, “Hãy đi vào phòng tắm và cho nước tiểu lên vết cắt. Nó sẽ cầm máu.” Hai ngày hôm sau, tôi đã gặp lại anh đầu bếp. Anh bảo tôi điều này có hiệu quả. Tôi đã nhìn vào ngón tay anh ta, và tôi đã thấy nó đã lành hẳn mà cũng không có sẹo.

Làm sao nước tiểu có thể cầm máu?

Theo y học Tây phương hiện đại, chất cấu thành chính của nước tiểu là nước. Cộng thêm, nó có chất urê, acid uric, creatine, creatinine, acid amino, amine, acid hippuric, acid glucuronic, acid lactic, và acid β-hydroxybutyric. Vì thế theo những gì mà y học Tây phương được biết, thì khó mà biết được là những chất nào trong này đã có thể cầm máu.
Tuy nhiên, y học Trung Quốc vận dụng lý thuyết âm dương và ngũ hành kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Mỗi bộ phận trong thân thể mang tính âm hoặc dương và tương xứng với một trong năm nhân tố của kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Nước tiểu đi qua một vài nội tạng vì thế nó cũng được quy định bởi những đặc tính này. Các cơ chế vận hành tự động và có một mối quan hệ cân bằng. Nếu một người thấu hiểu về những lý thuyết của y học Trung Quốc, điều này dễ dàng thấy được những nguyên lý vốn có trong nước tiểu có thể dùng để cầm máu.

------------

Chữa bệnh ở phần trên cơ thể từ phần dưới cơ thể
Trong một cuộc viếng thăm, tôi đưa chuyên đề nghiên cứu về Trung y cho một nhóm đồng nghiệp. Sau đó, tôi trình bày một số phương pháp chữa trị trên hai bệnh nhân.
Bệnh nhân đầu tiên đau vai và cổ đã được ba tháng. Ông ấy đã thử châm cứu, vật lý trị liệu, mát xa, v.v… nhưng đều không có hiệu quả. Lúc đó, ông ấy hầu như không thể nâng tay lên cao được. Tôi chữa cho ông ta bằng cách ấn vào hai huyệt trên chân ông ta bằng một que gỗ nhỏ bằng cây bút, và chỉ trong vòng hai phút, bệnh nhân có thể nâng tay lên được.
Bệnh nhân thứ hai bị cứng cổ trong vài ngày. Ông ta đã thử mát xa, chườm nóng nhưng đều vô hiệu. Dựa vào tình trạng của bệnh nhân, tôi ấn bốn huyệt châm cứu trên vai và chân của ông ta. Ngay lập tức, nỗi đau trên cổ của ông ấy biến mất, và ông có thể xoay cổ tự nhiên.
Căn bệnh ở cổ và vai của cả hai bệnh nhân đều được chữa trị từ chân. Phương pháp này có tên là “Từ thân dưới mà trị bệnh ở thân trên.” Thực sự không phải châm cứu, vật lí trị liệu, mát xa vô hiệu, nhưng những phương pháp này không phải cách trị liệu cho trường hợp của những bệnh nhân này.
Trung y giảng âm dương bình hành. Phần trên cơ thể là dương, phần dưới là âm. Do đó, cổ và vai là dương, còn chân là âm. Có những kinh lạc nối giữa cổ, vai và chân. Vì vậy, đạo lí trị bệnh thật ra rất đơn giản. Từ phần âm cơ thể mà trị bệnh ở phần dương cơ thể, làm cho âm dương điều hòa thì bệnh tật có thể tiêu trừ. Tuy vậy, nói lúc nào cũng dế hơn làm. Để có thể thật sự chữa được, người thầy thuốc cần quan sát bệnh trạng thật kỹ càng.
Trung y có nói bệnh tật dễ đến nhưng khó đi. Từ đó có thể nhận thấy để trị một căn bệnh rất khó. Hơn thế nữa, người dân bình thường khó có thể đủ khả năng chi trả chi phí cho các phương pháp trị liệu trên thế giới hiện nay nếu họ mắc phải một căn bệnh lạ.
Tuy nhiên, có một tin tốt lành. Mười sáu năm về trước, một bộ công pháp đã tiết lộ nguyên nhân căn bản của bệnh tật. Bộ công pháp này là Pháp Luân Công. Ngày nay, Pháp Luân Công đã lan truyền ra xã hội, chữa miễn phí tất cả các bệnh tật bấy lâu nay thách thức các bác sĩ Trung và Tây y. Pháp Luân Công nói cho mọi người biết rằng để có thể hoàn toàn ko mắc bệnh, con người phải chú ý đến đạo đức, không ngừng đề cao tâm tính và luôn nghĩ đến người khác trước khi nghĩ đến bản thân mình.
Là một thầy thuốc Trung y, tôi tin rằng bộ công pháp này không chỉ làm cho bệnh tật biến mất, mà còn làm cho các vấn đề của xã hội và quốc gia không còn tồn tại nữa.

--------

Dạo trong rừng mơ: Khoảng trống tri thức hai ngàn năm
Một ngày nọ, khi tôi đi ngang viện y tế, tôi thấy nhiều người đang nói về một điều gì đó trước máy tính. Không khỏi tò mò, tôi đi đến trước màn hình và nhìn thấy có một bức ảnh về các mạch máu từ bàn tay và người ta có thể nhìn thấy các mao mạch trong năm ngón tay. Theo các nhà nghiên cứu, trạng thái của vi tuần hoàn huyết trong ngón tay có thể biểu lộ sức khỏe của một người. Nghiên cứu này cuốn hút rất nhiều chú ý từ cộng đồng y học.
Điều này làm tôi nghĩ đến Sách Y học Trung Quốc truyền thống cách đây 2 nghìn năm: Hoàng Đế Nội Kinh. Trong chương 6 của cuốn sách, có một mô tả về lá gan. Nó được mô tả như một cơ quan mà sức sống ngụ ở đó. Màu sắc của nó được biểu lộ tại ngón tay và ngón chân. Chất dinh dưỡng của nó đến từ gân và cái này giúp cho việc phát truyền máu và khí. Nó có vị chua và màu của nó là xanh đậm. Gan thuộc về Dương non giữa những cơ quan Dương khác và được nối với khí cơ.
Ý nghĩa của câu “Căn bản của nó nằm tại các ngón tay và ngón chân” đã bao gồm cả những nghiên cứu của tây Y về vi tuần hoàn mao huyết dưới các móng tay. Sức khỏe của lá gan có thể được biểu lộ qua màu sắc của móng tay. Cái được gọi là màu sắc này là biểu thị của những thay đổi trong huyết và khí trong thân thể. Các bác sỹ Y học Trung Quốc có thể biết được điều kiện của sự tuần hoàn huyết và khí bằng cách quan sát các biểu thị này. Cũng vậy, màu này có liên quan đến chức năng của gan, sức sống, tình trạng và tư tưởng của con người, và nó hữu ích trong việc chuẩn đoán. Y khoa hiện đại không thể đạt được đến mức này, nhưng Y học Trung Hoa đã có hệ thống hoàn chỉnh này ngay cả cách đây 2.000 năm. Chế độ xã hội lúc đó là phong kiến, vì vậy làm sao con người có được sự thông tuệ to lớn như vậy vào lúc đó? Đây cũng là bằng chứng mà Y học Trung Hoa không phải được tạo bởi con người mà là được truyền lại bởi các chư Thần.

-------------

Năng lực về y học truyền thống của Trung Quốc
Y học truyền thống của Trung Quốc, hay Trung Y, có một câu nói, “Thứ nhất, xoa bóp; thứ nhì, châm cứu; thứ ba, phép cứu bằng ngải; và thứ tư, thuốc.” ý nói là, hồi xưa ở Trung Quốc, khi bác sĩ trị bệnh cho một bệnh nhân, đầu tiên là ông ấy dùng xoa bóp. Nếu chữa không được, bác sĩ chữa bằng kỹ xảo châm cứu. Nếu như châm cứu không được nữa, bác sĩ dùng phép ngải với vài cây thuốc, và nếu như tất cả không được, cuổi cùng phải dùng thuốc.
Y học truyền thống của Trung Quốc là được truyền xuống từ thiên thượng, cho nên khả năng lành lại là nhờ thiên thượng. Trong thời đại khác nhau của lịch sử, sự suy tàn của con người về nhân phẩm và kiến thức, khả năng chửa trị của Trung Quốc mang đến từ thượng đế khác với những loại khác.
Thời xưa ở Trung Quốc, một vài bác sĩ chữa trị lành cho bệnh nhân đơn thuần chỉ là nói chuyện với người ấy. Bởi vì thời đó, nhân phẩm của bác sĩ rất là cao, dễ dàng vang âm như là Đạo. Cho nên, năng lượng mang đến từ thiên thượng, và có thể chữa lành bệnh cho bệnh nhân không cần trị liệu. Sự phơi bày giống nhau có thể được tìm thấy trong sách Sự Thay đổi của Khí trong “Hoàng Đế Nội Kinh”, mặc dù từ sự phơi bày, mọi người có thể thấy bất cứ lúc nào người ta cũng biết về sự tồn tại của phương pháp. Từ khi quyến sách không có hình chỉ dẫn riêng phương pháp trị liệu.
Y học của Trung Quốc ngày nay, hợp nhất với y học phương Tây và phổ biến rộng hơn, y học phương Tây không có khác xa nhiều với cách trị liệu cho các bệnh khác. Cách trị lành bệnh cho bệnh nhân đơn giản chỉ là nói chuyện với họ liên quan đến những thần thoại cổ xưa.
Dù sao đi nữa, lịch sử vẫn đi vào thời đại nguyên cổ. Câu chuyện của một bệnh nhân lành bệnh bằng cách nói chuyện với họ đã được phổ biến. Sự này xảy ra mọi lúc và hơn nữa, không cần bác sĩ. Bệnh nhân có thể tự lành bệnh bằng cách nào đó. Từ website Minh Huệ, bạn có thể thấy những trường hợp giống nhau, Trong nhiều trường hợp, sau đó bệnh nhân tụng kinh “Pháp Luân Công là tốt” hay “Chân-Thiên-Nhẫn là tốt”, những bệnh ngang bướng, chữa y học Trung Quốc hay phương Tây đều lành cả, và trị hết mà không để lại một dấu tích!
Trong Chuyển Pháp Luân, nói rằng “Phật pháp vô biên”, “Phật quang phổ chiếu lễ nghĩa viên minh”.


Bí quyết chống lão hóa theo y thư cổ ‘Hoàng Đế nội kinh’


Có thể nói lý luận trong cuốn cổ thư “Hoàng Đế nội kinh” là uyên thâm nhất trong y học các giới, là nền tảng cho y học phương Đông từ mấy nghìn năm qua, đến nay vẫn còn nhiều điều chưa luận giải hết.

Trong “Hoàng Đế nội kinh” có viết, đời người có năm giai đoạn: sinh, trưởng, tráng, lão, dĩ. Con người sau khi sinh ra, lớn lên trải qua giai đoạn cường tráng mạnh khỏe, sau đến lúc tuổi già ốm đau bệnh tật. Vậy mấu chốt của tuổi già là gì? Chúng ta sao lại muốn trì hoãn tuổi già?
Quyển “Hoàng Đế nội kinh” cũng có nói đến quá trình thay đổi của cơ thể con người từ khi sinh ra cho đến già.
10 tuổi, khí huyết lưu thông tốt, nên rất thích chạy nhảy;
20 tuổi, khí huyết bắt đầu phát triển đầy đủ, nên sẽ thích bước đi nhanh;
30 tuổi, cơ thể cường tráng mạnh khỏe do khí huyết đạt đến đỉnh điểm;
40 tuổi, sắc mặt không bằng được như tuổi trẻ nữa vì khí huyết bắt đầu suy yếu và xuất hiện tóc bạc;
50 tuổi, can khí bắt đầu suy nhược nên mắt mờ đi;
60 tuổi, tâm khí bắt đầu yếu đi, sẽ dễ rơi vào trạng thái u buồn, khí huyết vận hành không thông nên thích nằm;
70 tuổi, tính khí thay đổi, làn da khô đi;
80 tuổi, phổi bắt đầu suy nhược, dễ nói sai;
90 tuổi, thận bắt đầu suy kiệt;
đến năm 100 tuổi thì ngũ tạng đều hỏng cả, cuối cùng đi đến điểm cuối của đời người.

Sự suy nhược của “khí” chính là nhân tố quyết định sự lão hóa
Sau tuổi 40, con người đi vào giai đoạn già cả, các chức năng của cơ thể bắt đầu suy yếu, đây là bước ngoặt trong đời người. Vậy điều gì quyết định mấu chốt của sự lão hóa? Chính là “khí” suy nhược. Chúng ta hãy xem trẻ em và người già, trong từng hành vi đều có những sự khác biệt rõ rệt.

Trẻ em không ngừng vận động, muốn các bé ngồi yên không phải chuyện dễ, tinh lực của các bé dư thừa nên rất ít khi ngáp. Trái lại người lớn tuổi thì rất dễ bị mệt, hay ngáp, có khi xem TV là ngủ ngay. Đài Loan có câu tục ngữ rất hay: “Trẻ em có ba phần hỏa”, “Hỏa” ở đây chính là “khí” trong trung y, là “năng lượng” trong Tây y, nhưng không giới hạn bởi những loại năng lượng mà máy móc hiện đại có thể đo được vì thực tế năng lực của máy móc còn khá hạn chế.
Ở trẻ em bình thường, năng lượng của trẻ em có ba phần hỏa nên tinh lực rất dồi dào như thể không dùng hết vậy. Còn năng lượng của người lớn tuổi có lẽ chỉ còn lại một phần hỏa mà thôi, không đủ năng lượng đương nhiên sẽ dễ bị mệt.

Trung tâm của năng lượng là đâu?
Tế bào trong cơ thể người giống như một công xưởng với rất nhiều hóa học tinh vi, ngày đêm không ngừng tiến hành các phản ứng, năng lượng cần phải được cung cấp không ngừng. Năng lượng mà tràn đầy thì tế bào có sức sống, cơ thể ắt sẽ trẻ trung. Năng lượng suy yếu, tế bào thiếu sức sống, cơ thể cũng sẽ già đi. Cho nên nhân tố chính cho sự lão hóa chính là năng lượng bị suy nhược. Chúng ta đều biết tim là trung tâm tuần hoàn máu, vậy thì liệu cơ thể người có trung tâm năng lượng hay không?
Chúng ta đã biết “Trẻ em có ba phần hỏa”, ba phần hỏa này chính là trung tâm của năng lượng trong cơ thể. Đạo gia có nói trung tâm của năng lượng là “Đan điền” ở vùng bụng dưới, Trung y thì cho rằng là “Mệnh môn”, chính là sự vận động khí ở thận. Khí (năng lượng) là vô hình không thể nhìn được bằng mắt, đan điền và mệnh môn cũng vậy, không nhìn được bằng mắt thường như gan, nhưng chúng đều có vị trí cả, Đan điền và mệnh môn có quan hệ mật thiết, đều là trung tâm năng lượng của cơ thể người.

Luyện khí công chống lão hóa
Nếu chúng ta muốn chống lão hóa, giữ mãi thanh xuân khỏe mạnh thì phải tăng cường hỏa ở đan điền, biến một phần hỏa thành hai phần, thậm chí là ba phần. Mà cách tăng cường năng lượng là luyện khí công. Nguyên lý của khí công là tăng cường năng lượng của cơ thể người để khí huyết tuần hoàn đầy đủ, cải thiện chức năng của nội tạng, như vậy tự nhiên sẽ trở nên trẻ trung.
admin
Site Admin
 
Bài viết: 6034
Ngày tham gia: Chủ nhật Tháng 4 17, 2011 12:18 am


Quay về Mục dành cho học viên nâng cao tay nghề

Ai đang trực tuyến?

Đang xem chuyên mục này: Không có thành viên nào đang trực tuyến2 khách

cron